Hotline:

Khai thác hiệu quả hiệp định đối tác xuyên Thái Bình dương: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đặt vấn đề Khu vực hóa và toàn cầu hóa là kết quả tất yếu của quá trình tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế. Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được xem là nền tảng để Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và nhắm đến cả các nền kinh tế khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Gia nhập TPP đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trường thương mại với hơn 800 triệu người cùng sự liên kết của 12 nước thành viên1 với cơ chế cạnh tranh chung trong nhiều lĩnh vực2. Bối cảnh đó đã đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi cần phải có đủ năng lực cạnh tranh để tận dụng được những lợi ích và vượt qua những thử thách mà TPP đặt ra.

 

 


Nhằm giúp các DNN&V tiếp cận TPP một cách hiệu quả, tận dụng được những lợi ích cũng như cơ hội mà TPP mang lại, bài viết tập trung làm rõ một số khía cạnh về năng lực cạnh tranh của DNN&V ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này trong tiến trình hội nhập TPP.
Từ khóa: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; Doanh nghiệp nhỏ và vừa.

1. Nhận diện doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo lộ trình mà 12 nước đã thỏa thuận, TPP bắt đầu có hiệu lực trong vòng 60 ngày kể từ ngày tất cả các bên ký kết ban đầu thông báo với cơ quan lưu chiểu bằng văn bản về việc hoàn thành các thủ tục pháp lý hiện hành3. Khi phát huy hiệu lực, nội dung mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đặt sự quan tâm là việc TPP sẽ tạo ra một môi trường thương mại toàn diện giữa các quốc gia tham gia nhằm đảm bảo các nền kinh tế ở các mức độ phát triển khác nhau và các doanh nghiệp có quy mô khác nhau đều có thể đạt được lợi ích từ thương mại. Cùng với đó, TPP cam kết giúp đỡ các DNN&V hiểu được TPP, nắm bắt được các cơ hội, tăng cường khả năng của doanh nghiệp đối với việc tham gia và hưởng lợi từ các cơ hội mà TPP mang lại4. Vấn đề đặt ra, DNN&V được hiểu như thế nào theo TPP và theo pháp luật Việt Nam. 
Thứ nhất, quy định của TPP. TPP dành nguyên Chương 24 để quy định về DNN&V. Tuy nhiên, TPP không đưa ra quy định chung nào để hiểu là tiêu chí xác định DNN&V, mà chỉ đưa ra quy định hướng tới việc thúc đẩy sự tham của các DNN&V trong thương mại nhằm đảm bảo rằng cho các doanh nghiệp này được chia sẽ các lợi ích của TPP5. Thay vào đó, tại Lời mở đầu của TPP các nước tham gia đã thừa nhận việc các bên trong TPP có quyền áp dụng các quy phạm pháp luật sẵn có để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình6.
Như vậy, TPP không đưa ra tiêu chí chung để xác định DNN&V, việc này do pháp luật các bên tham gia quy định dựa vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia. TPP chỉ quy định những việc mà các quốc gia thành viên phải thực hiện nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho DNN&V được hưởng các lợi ích từ TPP.
Thứ hai, quy định của pháp luật Việt Nam. Pháp luật Việt Nam dựa vào tiêu chí về số lượng lao động; về tài chính của doanh nghiệp như số vốn đầu tư, doanh thu của doanh nghiệp; và sự độc lập về sở hữu của doanh nghiệp để xác định quy mô doanh nghiệp. Theo đó, tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ, DNN&V được xác định là cơ sở kinh doanh có đăng ký kinh doanh, được chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng số vốn hoặc số lao động trong một năm7. Cụ thể: Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động từ 10 người trở xuống; doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng số vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc có số lao động từ trên 10 người đến 200 người; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc có số lao động từ trên 200 người đến 300 người.
Như vậy, để xác định DNN&V, pháp luật Việt Nam căn cứ tiêu chí số lao động sử dụng hoặc tổng số vốn của doanh nghiệp. Quy định này căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Vấn đề cần thiết đặt ra là với năng lực hiện tại, liệu các DNN&V của Việt Nam có thể khai thác hiệu quả những lợi ích từ TPP.

2. Năng lực cạnh tranh của DNN&V ở Việt Nam hiện nay và vấn đề khai thác lợi ích từ TPP
 Việt Nam đã và đang đẩy nhanh việc hoàn thành các thủ tục pháp lý cuối cùng để trình Quốc Hội phê chuẩn TPP như đã cam kết. Khi TPP có hiệu lực sẽ mở ra một sân chơi chung cho doanh nghiệp các nước thành viên, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đặc biệt các DNN&V Việt Nam được tiếp cận các thị trường mà trước đây không có cơ hội. Tuy TPP mở ra nhiều cơ hội cho các DNN&V của Việt Nam, nhưng với năng lực thực tại như quy mô nhỏ, chất lượng lao động thấp, hiệu quả quản trị doanh nghiệp, kinh nghiệm quốc tế, kiến thức kinh doanh, khả năng tiếp cận thông tin từ thị trường v.v. cũng chính là bước cản lớn đối với các DNN&V của chúng ta khi tiếp cận thị trường của các nước trong TPP. Vấn đề này được chứng minh từ những phân tích dưới đây:    
Thư nhất, vấn đề quy định của TPP về thuế quan đối với thương mại hàng hóa. Doanh nghiệp nói chung và các DNN&V của các bên trong TPP sẽ được tiếp cận thị trường một cách toàn diện thông qua việc xóa bỏ, cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan về căn bản đối với tất cả các thương mại hàng hóa8. Quy định này đặt các DNN&V Việt Nam trước nhiều cơ hội và không ít các thách thức xuất phát từ năng lực của doanh nghiệp:
Một là, xét về cơ hội. Điều cản trở lớn nhất đối với hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam khi tiếp cận thị trường các nước như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Úc hay Canada là mức thuế quan cao, do đó hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam không đủ sức cạnh tranh tại các thị trường này. Với quy định xóa bỏ, cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan đã tạo điều kiện cho hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện tiếp cận thị trường các nước này với mức thuế quan thấp hơn hoặc bằng không9. Là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, việc chúng ta có thể tiếp cận các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Canada với mức thuế suất bằng 0% hoặc thấp hơn (ví dụ hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ thuế suất sẽ giảm xuống % thay vì 17% như hiện tại), như vậy sẽ mang lại một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn và một triển vọng hết sức sáng sủa cho nhiều ngành hàng của chúng ta, kéo theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động hoạt động trong các lĩnh vực phục vụ xuất khẩu. Lợi ích này không chỉ dừng lại ở những nhóm mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh xuất khẩu (ví dụ như dệt may, giầy dép…), nó còn là động lực để nhiều nhóm mặt hàng khác hiện chưa có kim ngạch đáng kể có điều kiện để gia tăng sức cạnh tranh. Nói một cách khác, lợi thế này không chỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà còn được nhìn thấy ở cả tiềm năng trong tương lai.
Hai là, những thách thức. Bên cạnh những thuận lợi lớn, TPP cũng đặt ra nhiều thách thức, đó là : (i) Với năng lực về tài chính và trình độ lao động của mình, các DNN&V chủ yếu xuất khẩu hàng có công nghệ thấp như hàng may mặc, giầy dép, đồ nội thất; xuất khẩu chủ yếu nguyên liệu thô, chưa qua sơ chế hoặc gia công đã khiến việc cạnh tranh về giá cả, chất lượng, giá trị tăng thêm của hàng hóa trở nên yếu ; (ii) Quy mô sản xuất của doanh nghiệp chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ dẫn đến số lượng sản phẩm tạo ra không đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu, không thâm nhập được vào hệ thống phân phối chính khiến các doanh nghiệp xuất khẩu trở nên không bền vững, không chi phối được thị trường; (iii) Việc giảm thuế quan có thể khiến luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam gia tăng, với giá cả cạnh tranh, chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, dẫn đến môi trường cạnh tranh gay gắt hơn. Nếu các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam không được cải thiện về mặt chất lượng, số lượng, giá cả, mẫu mã.v.v sẽ đứng trước nguy cơ bị đào thải, doanh nghiệp đứng trước bờ vực phá sản và tình trạng thất nghiệp diễn ra ở các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu kém, đặc biệt là các doanh nghiệp trong các ngành chăn nuôi, điện tử, các hàng nông sản. Vì vậy, để tránh hững rủi ro nêu trên, các DNN&V cần phải nâng cao chất lượng, giảm giá thành, tăng số lượng, đa dạng về mẫu mã. Làm được điều này, ngoài các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các DNN&V phải tự mình tìm ra giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh đối với sản phẩm của mình sản xuất ra.
Thư hai, ngoài tác động từ những quy định về thuế quan đối với hàng hóa, những quy định từ TPP về dịch vụ và đầu tư cũng có tác dụng tích cực trong việc cải thiện môi trường đầu tư, góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài10. Cụ thể, DNN&V của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội để tiếp cận, cũng như hợp tác đầu tư với các nhà đầu tư nước ngoài, cải thiện được sự thiếu hụt về nguồn vốn cũng như khoa học công nghệ. Hơn nữa, việc liên kết giữa các nhà đầu tư là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng các chuỗi cung ứng với các tập đoàn lớn của các nước trong khối TPP như Samsung, Intel, Microsoft hay Honda. Việc hợp tác này sẽ đạt hiệu quả nếu năng lực nội tại của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đáp ứng được yêu cầu. Tuy nhiên, ngoài hạn chế về quy mô, nguồn vốn, đặc biệt điểm hạn chế lớn của hầu hết các DNN&V của Việt Nam là khoa học công nghệ lạc hậu11, trình độ lao động thấp12, tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp yếu kém13, không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp nước ngoài, dẫn đến các doanh nghiệp Việt Nam mất đi cơ hội hợp tác, mất thị trường truyền thống vào tay các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, nâng cao năng lực liên quan đến nâng cao trình độ lao động, công nghệ và tính minh bạch trong quản trị công ty là cơ hội để cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đón đầu hiệu quả các lợi ích mở ra từ TPP.
Thứ ba, một trong những nội dung mà TPP hết sức quan tâm là vấn đề chia sẻ thông tin. Để hổ trợ cho DNN&V tiếp cận được các quy định từ TPP, các bên trong TPP đã thống nhất thành lập hoặc duy trì trang thông tin công cộng chứa đựng các thông tin về nội dung của TPP, thông tin mô tả các điều khoản trong TPP, thiết kế các thông tin riêng cho DNN&V để nắm bắt các thông tin từ các vấn đề của TPP14. Đặc biệt liên quan đến các quy định về lộ trình xóa bỏ, cắt giảm thuế quan, phi thuế quan của các loại hàng hóa, TPP bắt buộc các bên tham gia phải công bố thông tin công khai để cho các doanh nghiệp nắm bắt trong quá trình thực hiện15. Với quy định này, TPP đã tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể để cho các doanh nghiệp nói chung, các DNN&V dễ dàng tiếp cận. 
Tuy nhiên vấn đề đặt ra, nội tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa thực sự chú trọng trong việc đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin để công khai hóa thông tin của doanh nghiệp mình cũng như tiếp nhận thông tin từ các hoạt động kinh doanh bên ngoài, đặc biệt nhiều doanh nghiệp chưa có website, việc tiếp nhận thông tin chủ yếu thông qua cách thức truyền thống như trao đổi thông qua đường công văn, điện thoại.v.v. Với cách thức tiếp cận này chỉ phù hợp với phạm vi kinh doanh ở “ao làng”. Hơn nữa, các chính sách, chủ trương, các văn bản, kế hoạch liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng chưa đưa các cơ quan nhà nước phụ trách công khai hóa, dẫn tới các doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp nhận thông tin16. Nếu không có các giải pháp phù hợp từ phía các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp về việc ứng dụng khoa học công nghệ để công khai hóa và tiếp nhận thông tin, thì sự nỗ lực của TPP nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc nắm bắt thông tin từ Hiệp định là không đạt hiệu quả.   
Tóm lại, TPP mang lại cho các doanh nghiệp nói chung, các DNN&V của Việt Nam nói riêng nhiều lợi ích từ các quy định về xóa bỏ, cắt giảm thuế quan và phi thuế quan; cơ hội về môi trường đầu tư ra nước ngoài cũng như tiếp nhận các nguồn đầu tư từ nước ngoài; và một môi trường kinh doanh minh bạch khi các thông tin liên quan đến TPP phải được công khai hóa. Tuy vậy, năng lực của các DNN&V liên quan đến quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn chế, công nghệ lạc hậu, trình độ lao động thấp, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu là những bước cản các doanh nghiệp tiếp cận những cơ hội mang đến từ TPP. Do đó, cần phải có những nghiên cứu cụ thể để đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực DNN&V nhằm tiếp cận hiệu quả những lợi ích TPP mang lại. 

3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực DNN&V nhằm khai thác hiệu quả TPP.
Thứ nhất, ứng dụng quản trị công ty trong các DNN&V. 
Như đã phân tích, minh bạch trong hoạt động là vấn đề TPP đặt lên hàng đầu khi hợp tác, đầu tư. Để tạo ra tính minh bạch trong quản lý điều hành của doanh nghiệp nhỏ và vừa thì khâu quản trị phải được xây dựng và thực hiện tốt. Để áp dụng khoa học quản trị vào thực tiễn tại các doanh nghiệp, trước hết các doanh nghiệp phải hiểu về quản trị doanh nghiệp và xem nó là một yêu cầu tự thân, nội tại vì chính lợi ích của doanh nghiệp trong việc phát triển bền vững, lâu dài, là giải pháp căn cơ để phát huy và bảo vệ tính minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp. Để đạt được mục đích đặt ra, các DNN&V khi ứng dụng khoa học quản trị cần đảm bảo những nguyên tắc:
Một là, minh bạch và cân bằng lợi ích. Đó là quản trị doanh nghiệp cần đặt tính minh bạch về tài chính, sở hữu, nhân sự, chức năng nhiệm vụ lên đầu. Để làm được cần phải tạo ra cơ chế giám sát hiệu quả, chặt chẽ17. Đồng thời, bảo đảm sự hài hòa về lợi ích giữa các chủ sở hữu của doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với người lao động, giữa người lao động với nhau.
Hai là, quản trị doanh nghiệp cần phải phát huy được nguồn lực: Trước hết phải sử dụng hợp lý và phát huy tối đa nguồn lực về con người, nguồn lực về tài chính, tận dụng tốt các nguồn lực về khoa học - công nghệ, tài nguyên khoáng sản.
Ngoài ra, quản trị doanh nghiệp cần phải phát huy tư duy sáng tạo của con người trong toàn doanh nghiệp; hài hòa các lợi ích, các xung đột giữa các thành viên trong công ty.v.v.
Thứ hai, hiện đại hóa máy móc, thiết bị trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Máy móc, thiết bị có tác động quan trọng tới hiệu quả và năng suất lao động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc đổi mới công nghệ sản xuất đối với hoạt động của doanh nghiệp khắc phục sự lạc hậu về công nghệ sản xuất là giải pháp căn cơ nâng cao năng lực hội nhập TPP. Để thực hiện quá trình đổi mới công nghệ tại các DNN&V cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, việc nâng cấp công nghệ là cần thiết, nhưng các doanh nghiệp phải đánh giá đúng những máy móc, thiết bị cần phải nâng cấp, đổi mới, tránh mua phải những máy móc đã lạc hậu về công nghệ.
Hai là, về phía các doanh nghiệp. Cần chủ động trong việc nâng cấp trang thiết bị, máy móc phụ vụ cho hoạt động sản xuất. Đối với những doanh nghiệp có nguồn tài chính thì sắm mới; đối với những doanh nghiệp eo hẹp về nguồn tài chính có thể thông qua các hoạt động như thuê máy móc, thiết bị từ đó tiến hành chuyển giao công nghệ phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp mình.
Ba là, về phía cơ quan nhà nước. Cần hỗ trợ cho DNN&V, đặc biệt là hỗ trợ về mặt cơ chế trong hoạt động chuyển giao công nghệ, hoạt động thuê máy móc thiết bị.
Thứ ba, tăng cường nguồn lực tài chính cho DNN&V. 
Nguồn lực tài chính là yếu tố quyết định đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và DNN&V nói riêng. Như đã phân tích, các doanh nghiệp đến từ các Bên trong TPP hầu hết là các doanh nghiệp có năng lực tài chính mạnh, do đó việc cạnh tranh trong một môi trường chung được tạo ra từ TPP là một bất lợi cho các DNN&V của Việt Nam. Vì vậy, hơn lúc nào hết tăng cường năng lực tài chính là giải pháp tồn tại đối với các DNN&V. Điều này  có thể thực hiện thông qua các giải pháp sau đây:
Một là, huy động nguồn vốn từ nội lực của các doanh nghiệp, như tăng nguồn vốn góp của chủ đầu tư, phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn từ công chúng.
Hai là, chủ đầu từ tiến hành vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc các nguồn vốn khác để tăng vốn điều lệ cho công ty mình.
Ba là, về phía Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ về mặt tài chính cho DNN&V thông qua chính sách tài chính hàng năm của Nhà nước. Ngoài ra, Nhà nước phải có cơ chế ổn định lãi suất tiền vay, mức lãi suất tiền vay phù hợp với tình hình của các doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể, đặc biệt là phải kiểm soát được hoạt động cạnh tranh huy động vốn từ các ngân hàng dẫn đến tăng lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp.
Thứ tư, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ lao động.
Nhân tố con người luôn có vai trò quyết định đến chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra. Điều này cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của chất lượng đội ngũ lao động trong môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khi tham gia TPP. Như đã phân tích, hiện nay đội ngũ lao động trong các DNN&V đa số không có chuyên môn, chưa được đào tạo đúng ngành nghề, đặc biệt tầm nhìn và kiến thức quản lý của đội ngũ doanh nhân trong các DNN&V đang rất hạn chế dẫn tới hàng hóa sản xuất ra chất lượng không cao, chủ yếu xuất khẩu ở dạng nguyên liệu thô. Để khắc phục yếu điểm này, cần có những giải pháp sau:
Một là, từ phía các doanh nghiệp cần phải có tầm nhìn khi tuyển dụng lao động, tuyển dụng lao động phải đúng ngành nghề, đúng vị trí lao động. Có kế hoạch cho lao động, đặc biệt là lao động kỹ thuật đi đào tạo các khóa học để nâng cao tay nghề, đăc biệt là các khóa học liên kết với các nước là thành viên của TPP tổ chức, để lao động Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường, học tập khoa học công nghệ cũng như tác phong làm việc tại các nước là đối thủ cạnh tranh của mình. 
Hai là, đối với đội ngũ doanh nhân trong các DNN&V cần theo học các khóa đào tạo về quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự để nâng cao năng lực quản lý, tiếp cận linh hoạt các thông tin từ thị trường. Đặc biệt là cần tham gia các hội thảo tìm hiểu về TPP do phòng Thương mại và Công nghiệp tổ chức cho các doanh nhân để hiểu hơn về TPP, nhằm có tầm nhìn cũng như giải pháp để đón nhận TPP một cách hiệu quả.
Cuối cùng, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các DNN&V.
Như phân tích, một trong những mục tiêu mà TPP hướng tới là việc công khai hóa thông tin nhằm chia sẽ thông tin giúp các DNN&V tiếp cận dễ dàng với những quy định của TPP. Để khắc phục thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay, các doanh nghiệp cần thực hiện các giải pháp sau:
Một là, đối với các doanh nghiệp. Cần xây dựng những website riêng của doanh nghiệp, nhằm công bố công khai những thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp hàng ngày, đồng thời cũng là kênh thông tin để đối tác tìm hiểu về doanh nghiệp của mình. Đối với những doanh nghiệp đã xây dựng được website, phải duy trì, nâng cấp phù hợp với công nghệ thông tin hiện đại. Các website của doanh nghiệp cần phải có kết nối với các cổng thông tin của chính quyền địa phương, công thông tin của các cơ quan quản lý nhà nước như cổng thông tin của sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Khoa học và Công nghệ, Cục Hải quan v.v. nhằm nhanh chóng nắm bắt được các thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh, đặc biệt liên quan đến lộ trình xóa bỏ, cắt giảm thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa, dịch vụ từ các quốc gia là thành viên TPP.
Hai là, đối với các cơ quan nhà nước liên quan. Cần hoàn thiện các website của đơn vị mình. Phổ biến và công khai kịp thời các chủ trương, chính sách cũng như các văn bản của các cơ quan nhà nước liên quan đến đầu tư, đất đai, chính sách, dự án đầu tư, đặc biệt là các thông tin về TPP để các doanh nghiệp kịp thời nắm bắt cơ chế cũng như các cơ hội kinh doanh nhằm hoàn toàn chủ động trong hoạt động đầu tư, kinh doanh của mình. 

Kết luận
TPP mở ra cho các DNN&V của Việt Nam nhiều cơ hội đầu tư và kinh doanh, đặc biệt liên quan đến chính sách thuế quan, đầu tư, cơ chế hỗ trợ về thông tin, môi trường v.v. Để biến những cơ hội đó thành những lợi ích riêng cho mình, các DNN&V cần có những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại để đón nhận những cơ hội và chủ động hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. PLPT


* Giảng viên Đại học Luật Huế
1: Bao gồm các quốc gia: Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam. 
2: Như: TPP đã xóa bỏ hoặc giảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan đối với mua bán hàng hóa, dịch vụ và đầu tư (xem Điều 2.4 Mục B Chương 2). Điều này tạo cơ hội mới và lợi ích cho doanh nghiệp và người tiêu dùng của 12 nước thành viên.
3: Xem tại Khoản 1 Điều 30.5 của TPP. Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 30 của TPP quy định rất cụ thể về thời gian bắt đầu có hiệu lực của Hiệp định trong trường hợp có bất kỳ bên nào đó trong Hiệp định không thông báo bằng văn bản với cơ quan lưu chiểu việc hoàn tất thủ tục pháp lý áp dụng ở nước mình trong trong thời hạn quy định.
4: Nêu rõ tại Lời mở đầu của TPP.
5: Tại Điều 24.1, Điều 24.2 và Điều 24.3 Chương 24 của TPP quy định: Mỗi Bên thành lập hoặc duy trì trang thông tin công cộng chứa đựng các thông tin về Hiệp định này để tạo điều kiện tiếp cận cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN); mô tả các điều khoản trong Hiệp định này mà các Bên cho rằng có liên quan tới DNVVN; và các thông tin bổ sung mà các bên cho là hữu ích đối với các DNVVN quan tâm tới lợi ích từ các cơ hội mà Hiệp định này mang đến.v.v.
6: Lời mở đầu nêu rõ: Thừa nhận quyền điều chỉnh và giải quyết sẵn có của các bên để bảo tồn sự linh hoạt của các bên tham gia nhằm thiết lập các ưu tiên về quy phạm pháp luật, bảo vệ lợi ích công cộng, và bảo vệ các mục tiêu phúc lợi công cộng hợp pháp, chẳng hạn như y tế công cộng, an toàn, môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng bị cạn kiệt, sự toàn vẹn và sự ổn định của hệ thống tài chính và đạo đức xã hội;

7: Xem cụ thể tại: Điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
8: Có những mặt hàng sẽ được xóa bỏ ngay lập tức về thuế quan, cũng có những loại hàng hóa sẽ được cắt giảm và tiến tới xóa bỏ theo lộ trình các nước cam kết. Điều này xem cụ thể tại: Điều 2.3, Điều 2.4, Điều 2.5 và Điều 2.6 Mục B của TPP.
9: Điều 2.4 Mục B Chương 2 của TPP quy định: Trừ trường hợp Hiệp định có quy định khác. Mỗi bên sẽ dần dần loại bỏ thuế quan của mình đối với hàng hóa có xuất xứ theo Biểu thuế của mình trong phụ lục 2-D; Theo yêu cầu của một Bên bất kỳ, Bên yêu cầu và một hoặc các Bên trong phải xem xét để trao đổi việc đẩy nhanh xóa bỏ thuế quan trong các Biểu thuế tại phụ lục 2-D; Một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều Bên nhằm đẩy nhanh việc xóa bỏ thuế quan trên một hàng hóa có xuất xứ sẽ thay thế thuế suất hoặc phân loại xác định theo Biểu thuế của các Bên đó tại Phụ lục 2-D (xóa bỏ thuế quan) cho hàng hóa đó khi được phê duyệt bởi mỗi Bên trong thỏa thuận phù hợp với các thủ tục pháp lý có hiệu lực của Bên đó. Các bên trong thỏa thuận có nghĩa vụ thông báo cho các Bên khác càng sớm càng tốt trước khi thuế suất mới có hiệu lực.

10: Điều 9.4 Chương 9 của TPP quy định: Mỗi Bên phải dành cho nhà đầu tư của Bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư của nước mình trong những hoàn cảnh tương tự đối với việc thành lập, mua lại, mở rộng, điều hành, triển khai, vận hành, kinh doanh hoặc các hình thức chuyển nhượng dự án đầu tư khác trong lãnh thổ của Bên đó; Mỗi Bên phải dành cho các dự án đầu tư được bảo đảm sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các dự án đầu tư trên lãnh thổ của chính nhà đầu tư đó trong những hoàn cảnh tương tự đối với việc thành lập, mua lại, mở rộng, điều hành, triển khai, vận hành, kinh doanh hoặc các hình thức chuyển nhượng dự án đầu tư khác.
11: Kết quả khảo sát từ năm 2008 đến 2012 cho thấy các doanh nghiệp sử dụng máy móc hiện đại (máy cầm tay, máy móc sử dụng bằng điện) có khả năng tăng năng suất lao động cao hơn so với các doanh nghiệp chỉ sử dụng dụng cụ cầm tay từ 1,8 đến gần 4 lần, xem cụ thể tại: Nguyễn Trường Sơn, “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay”,Bảng II.5,tr71-71.
12: Theo nguồn từ: Nguyễn Bá Ngọc, Chất lượng lao động trình độ cao ở Việt Nam: Những hạn chế cơ bản, ilssa.org.vn. Kết quả điều tra của bài viết cho thấy: Lao động Việc làm 6 tháng đầu năm 2014, tổng số lao động là 52645 lao đông, trong đó lao động không có chuyên môn chiếm 34167 lao động, lao động có trình độ sơ cấp chiếm 1517, lao động có trình độ trung cấp chiếm 2736, lao động có trình độ cao đẳng chiếm 1300, và lao động có trình độ từ đại học trở lên chiếm 3925.
13: Quản trị doanh nghiệp được hiểu là hệ thống các cơ chế và quy định, thông qua đó công ty được định hướng điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư, người lao động và những người điều hành công ty; hoạt động quản trị công ty ở Việt Nam vẫn còn nhiều điểm hạn chế và yếu kém…việc thực hành quản lý theo kiểu thuận tiện, thiếu vắng các yếu tố của quản trị công ty làm hạn chế năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ…, về vấn đề này xem cụ thể tại: Nguyễn Trường Sơn, “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay”,tr133.
14: Vấn đề này được quy định chi tiết tại chương 24 của TPP.
15: Cụ thể tại Điều 2.19 Chương 2 của TPP quy định: Mỗi bên phải kịp thời công bố thông tin sau đây để cho phép các bên liên quan tiếp cận dễ dàng mà không có phân biệt đối xử: Thủ tục nhập khẩu, xuất khẩu và quá cảnh, các biểu mẫu và tài liệu cần thiết; thuế suất áp dụng vào hoặc liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu; phí và lệ phí áp dụng đối với hoặc liên quan đến nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh; các luật, quy định và quyết định hành chính áp dụng chung liên quan đến quy tắc xuất xứ.v.v.
16: Về vấn đề này xem thêm: Nguyễn Trường Sơn, “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay”,tr350.

17: Cơ chế giám sát trong công ty thường thông qua Kiểm soát viên hoặc Ban kiểm soát. Ngoài ra, chủ sở hữu còn có thể tạo ra cơ chế giám sát thông qua người lao động.

ThS. Mai Xuân Hợi*

đọc tiếp tin khác