Hotline:

Một số bài học đắt giá trong xuất khẩu nông sản

Bán cá tra mất đối tác Theo “hợp đồng hợp tác chiến lược”, doanh nghiệp Bỉ là đại diện độc quyền của doanh nghiệp Việt Nam tại các thị trường EU, Úc, Mỹ La tinh. Mỗi tháng, doanh nghiệp Việt Nam cung cấp 30 container cá tra, trong 12 tháng. Sau đó, hai bên ký với nhau 4 hợp đồng mua bán cá tra; doanh nghiệp Bỉ lấy hàng xuất sang đối tác nước ngoài nhưng đối tác nước ngoài từ chối nhận, trả về cho doanh nghiệp Việt Nam.

 

 


Doanh nghiệp Bỉ gửi thư cho doanh nghiệp Việt Nam, hủy bỏ “hợp đồng hợp tác chiến lược” và đòi tiền hoa hồng 997.000 USD đối với các container hàng bị trả lại và cả tiền hoa hồng khác lẽ ra được hưởng nếu chất lượng cá không kém. Doanh nghiệp Việt Nam kiện lại, yêu cầu doanh nghiệp Bỉ thanh toán tiền lưu kho, vận chuyển đối với hợp đồng mua bán số 1 và lãi suất chậm thanh toán đối với các hợp đồng mua bán.
 Quan điểm của doanh nghiệp Bỉ, do doanh nghiệp Việt Nam vi phạm điều khoản về chất lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng, khiến doanh nghiệp Bỉ bị mất  khoản hoa hồng mà thực chất là khoản chênh lệch giá giữa các hợp đồng. Quan điểm của doanh nghiệp Việt Nam, không vi phạm về chất lượng, bởi việc kiểm tra chất lượng do một giám đốc kiểm soát của doanh nghiệp Bỉ phụ trách; thời điểm giao hàng luôn theo yêu cầu của doanh nghiệp Bỉ. 
Quan điểm của VIAC, doanh nghiệp Bỉ khởi kiện “hợp đồng hợp tác chiến lược” nên không xem xét đơn kiện lại của doanh nghiệp Việt Nam về các “hợp đồng mua bán”. Trong các tài liệu cũng như bản nêu ý kiến của doanh nghiệp Bỉ không thừa nhận giá trị các “hợp đồng mua bán” do đại diện hai bên ký. Mặt khác, để xác định được mức bồi thường do vi phạm, phải căn cứ và tính toán dựa vào thiệt hại thực tế. Nhưng doanh nghiệp Bỉ không thừa nhận giá trị của “hợp đồng mua bán” thì cũng mất quyền yêu cầu đòi bồi thường. 
VIAC nhận định, “hợp đồng hợp tác chiến lược” chỉ nêu những vấn đề nguyên tắc, cam kết giữa các bên với dự kiến đặt hàng, không có cơ sở khẳng định chắc chắn mức hưởng chênh lệch giá là bao nhiêu hoặc tất cả các giao dịch đó có hoàn tất như dự định hay không. Chính vì thế, các khoản thiệt hại mà doanh nghiệp Bỉ nêu ra chỉ là dự đoán chủ quan, không có cơ sở thuyết phục; từ đó VIAC không chấp nhận yêu cầu của doanh nghiệp Bỉ. 
Luật sư Châu Việt Bắc nêu “bài học kinh nghiệm”: Về đơn kiện, khi một bên khởi kiện bên kia ra trước trọng tài, việc kiện lại của bị đơn phải dựa trên các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mà nguyên đơn đã khởi kiện. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại, các khoản thiệt hại được bồi thường phải là các khoản thiệt hại thực tế xảy ra, có cơ sở chứng minh. Một bên không thể giả định các khoản thiệt hại để yêu cầu bồi thường. Khi yêu cầu bồi thường, các bên cần cung cấp chứng cứ  chứng minh có vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế. “Tuy nhiên, nếu rơi vào trường hợp bất khả kháng, dù cho hội đủ điều kiện nêu trên, bên vi phạm sẽ được miễn trách nhiệm, điều này phù hợp nguyên tắc thiện chí trong kinh doanh”, luật sư Bắc nhấn mạnh. 
Ở đây, bài học cho doanh nghiệp kinh doanh cá tra Việt Nam hiển nhiên đắt giá, đã tốn nhiều công sức và tiền của nhưng cá bán không được, đối tác kinh doanh ở thị trường giàu tiềm năng cũng khó xây dựng lại.

Bán thơm mất tiền 
Vụ tranh chấp hợp đồng mua bán thơm (khóm) đông lạnh, doanh nghiệp Việt Nam kiện đòi tiền doanh nghiệp Bỉ. Từ cuối năm 2013 đến đầu 2014, doanh nghiệp Việt Nam ký 4 hợp đồng bán khóm cho doanh nghiệp Bỉ. Giao xong hàng, không nhận được tiền nên doanh nghiệp Việt Nam khởi kiện đến VIAC để đòi tiền. Đầu năm 2015, VIAC giải quyết. 
Quan điểm của doanh nghiệp Việt Nam: Căn cứ hợp đồng, doanh nghiệp Bỉ phải chuyển tiền trả vào tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp Việt Nam, sau khi nhận được hàng. Thực tế, doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển hàng và gửi bản gốc chứng từ vận chuyển hàng hóa đến cho doanh nghiệp Bỉ (để nhận hàng), nhưng doanh nghiệp Bỉ không thanh toán tiền. Doanh nghiệp Bỉ thì cho rằng đã thanh toán cho bên thứ ba tại Trung Quốc.  Doanh nghiệp Việt Nam còn cho rằng 35 email trao đổi thông tin liên quan 4 hợp đồng mà doanh nghiệp Bỉ cung cấp tại phiên xử, chỉ có 3 email hợp lệ, còn lại chỉ nhằm che giấu việc trả tiền sai địa chỉ để “lừa đảo”. Doanh nghiệp Việt Nam vừa đòi tiền bán hàng vừa đòi phần lãi của khoản tiền chậm trả này. 
Quan điểm của doanh nghiệp Bỉ, đây là hợp đồng ký qua mạng. Quy trình ký: phía Việt Nam gửi dự thảo hoàn thiện của hợp đồng (chưa ký tên, đóng dấu); phía Bỉ in ra, ký tên và đóng dấu bằng mực xanh, ký tắt vào từng trang hợp đồng, gửi bản scan cho phía Việt Nam; phía Việt Nam in bản scan hợp đồng ra để ký và đóng dấu, gửi bản scan hợp đồng đã ký và đóng dấu của hai bên đến phía Bỉ. Doanh nghiệp Bỉ cũng cung cấp đĩa CD chứa 4 hợp đồng, trong đó không tồn tại quy định về thông tin tài khoản ngân hàng để thanh toán tiền hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam; điều này hoàn toàn khác nội dung hợp đồng tranh chấp do doanh nghiệp Việt Nam đưa ra là có tài khoản ngân hàng để thanh toán. Như thông lệ, phía Bỉ đã gửi email trao đổi thông tin đến email của doanh nghiệp Việt Nam. Qua trao đổi, hai bên thống nhất chuyển sang ký hợp đồng ở một tài khoản email mới và trong này yêu cầu doanh nghiệp Bỉ thanh toán đến một bên thứ ba tại Trung Quốc. Sau lần thanh toán hợp đồng đầu tiên vào tài khoản ở Trung Quốc thì bản chính chứng từ vận chuyển hàng hóa những hợp đồng sau vẫn được gửi đến doanh nghiệp Bỉ, rõ ràng phía Việt Nam đã đồng ý. Cho nên, doanh nghiệp Bỉ yêu cầu Hội đồng Trọng tài bác toàn bộ yêu cầu của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam bồi thường chi phí luật sư 20.000 USD. 
Kết luận của Hội đồng Trọng tài: Bác toàn bộ yêu cầu trả tiền hàng 4 hợp đồng và tiền lãi của doanh nghiệp Việt Nam; đồng thời bác yêu cầu của doanh nghiệp Bỉ đòi doanh nghiệp Việt Nam thanh toán phí luật sư. Còn chi phí trọng tài, doanh nghiệp Việt Nam thua kiện nên phải trả toàn bộ. 
Luật sư Bắc nêu bài học, hợp đồng nên quy định đầu mối liên lạc, trao đổi thông tin và tuyệt đối tuân thủ quy định này. Bất cứ thay đổi nào liên quan nội dung hợp đồng, nên được lập thành văn bản, được ký bởi người đại diện có thẩm quyền và đóng dấu công ty bên thay đổi; sau đó ít nhất gửi fax cho bên còn lại. Các bên phải cẩn trọng trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng; đặc biệt quan tâm vấn đề bảo mật hệ thống dữ liệu. Các bộ phận quản lý giao hàng và bộ phận tiếp nhận thông tin thanh toán trong cùng một công ty cần nắm bắt thông tin, trao đổi kịp thời cho nhau để tránh trường hợp thanh toán nhiều lần cho một lô hàng hoặc chưa thanh toán theo quy định đã tiến hành chuyển giao bộ chứng từ. 

Bán gạo mất khách hàng
Vụ tranh chấp hợp đồng mua bán gạo, doanh nghiệp Philipines kiện doanh nghiệp Việt Nam. Đầu năm 2013, doanh nghiệp Philipines ký hợp đồng mua gạo và đã cho doanh nghiệp Việt Nam tạm ứng 20% giá trị hợp đồng, nhưng không nhận được gạo nên cuối năm 2014 khởi kiện ra VIAC.
Quan điểm của doanh nghiệp Philipine, sau nhiều lần bị trì hoãn giao gạo với nhiều lý do, ngày 17/6/2014 họ đã gửi văn bản tuyên bố hủy bỏ việc thực hiện hợp đồng, và kiện ra VIAC yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam hoàn trả khoản tạm ứng 20% giá trị hợp đồng; trả tiền lãi trên số tiền tạm ứng, và thanh toán toàn bộ phí trọng tài. 
Quan điểm của doanh nghiệp Việt Nam, việc hoãn giao gạo được doanh nghiệp Philipines đồng ý và hủy hợp đồng cũng do phía Philipines. Doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện các việc nhằm chuẩn bị giao hàng, như: lập kế hoạch mua và đóng gói, đăng ký khử trùng container, dán giấy, cung cấp chất hút ẩm, đăng ký giám định chất lượng lô hàng, ký hợp đồng đặt mua bao bì, đăng ký kiểm dịch thực vật; nên đồng ý trả lại tiền tạm ứng, nhưng doanh nghiệp Philipines phải bồi thường thiệt hại các chi phí. 
Lập luận của Hội đồng Trọng tài: theo các chứng cứ, doanh nghiệp Việt Nam phải trả lại tiền tạm ứng và lãi cho doanh nghiệp Philipines. Tuy nhiên, doanh nghiệp Philipines đồng ý cho hoãn giao hàng, nên phải chia sẻ chi phí chuẩn bị hàng. Trong các công việc chuẩn bị hàng mà doanh nghiệp Việt Nam liệt kê, chỉ chứng minh được chi phí bao bì (căn cứ hợp đồng đặt mua bao bì, hóa đơn VAT và ủy nhiệm chi). Hội đồng Trọng tài kết luận: doanh nghiệp Việt Nam phải hoàn trả khoản tiền tạm ứng và tiền lãi suất, sau khi trừ chi phí bao bì. Phí trọng tài hai bên cùng chịu theo tỷ lệ phần thắng kiện.
 Luật sư Bắc nêu bài học: Trong quá trình trao đổi thông tin để thực hiện hợp đồng, các bên nên thông qua email, fax hoặc hình thức lưu trữ nào đó, nhằm tránh việc thực hiện theo một chỉ thị nào đó không chứng minh được sau này. Khi liệt kê chi phí, phải có chứng cứ rõ ràng. Đặc biệt, “thiện chí thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định hợp đồng là một trong những lợi thế của các bên được xem xét đến trong xét xử tranh chấp” - Luật sư Bắc nhấn mạnh. 

PV

đọc tiếp tin khác