Hotline: 0963538839

MỘT SỐ TRAO ĐỔI NHẰM HOÀN THIỆN, ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ TRONG CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA, XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI.

MỘT SỐ TRAO ĐỔI NHẰM HOÀN THIỆN, ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ TRONG CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA, XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI. Trung tá, P.GS, TS Vũ Quốc Công, Trưởng khoa đào tạo SĐH&BDNC, T48

1. Sự cần thiết bổ sung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại

Thời gian gần đây, tội phạm đã và đang có xu hướng hoạt động phạm tội với tính chất và thủ đoạn tinh vi, không mang tính công khai, coi thường và thách thức pháp luật, nhất là tội phạm băng, nhóm, hoạt động có tổ chức, có tính xuyên quốc gia, quốc tế đang tránh đối đầu với lực lượng công an, cơ quan chức năng. Sự gia nhập, thâm nhập và cấu kết giữa các đối tượng phạm tội trong nước với các đối tượng phạm tội người nước ngoài đang dần dần rõ nét và trở nên phổ biến. Lĩnh vực và phạm vi phạm tội cũng đa dạng hơn và dần xâm nhập sâu vào trong các lĩnh vực kinh tế: đầu tư, xây dựng cơ bản, ngân hàng, doanh nghiệp, chúng khoán… Đáng chú ý, đối tượng phạm tội tạo vỏ bọc bên ngoài là các doanh nhân, doanh nghiệp thành đạt, hoạt động có hiệu quả, nhưng thực chất bên trong đối tượng cầm đầu nhiều đường dây, đối tượng phạm tội để điều hành, thực hiện hàng loạt các hành vi vi phạm pháp luật hình sự có tính chất tinh vi, khó bị phát hiện hơn, gây ra rất nhiều hậu quả, tác động tiêu cực không chỉ cho cá nhân, tổ chức, Nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư, quá trình phát triển kinh tế của đất nước.

Hiện nay, tình hình vi phạm pháp luật do pháp nhân thương mại thực hiện diễn ra rất phức tạp, ngày càng nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng, gây ảnh hường, tác động tiêu cực, nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân, xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là các hành vi gây ô nhiễm môi trường, buôn lậu, trốn thuế, sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng giả, hàng cấm, trốn đóng bảo hiểm… Trong khi đó, để xử lý các hành vi này chỉ có xử phạt hành chính cao nhất là đến 02 tỷ đồng, như vậy, hình thức và mức xử phạt còn thấp, chưa tương xứng, chưa đánh giá hết tác động tiêu cực của những thiệt hại do pháp nhân thương mại gây ra. Hôn nữa, việc chứng minh thiệt hại để được bồi thường theo quy định của pháp luật là rất khó khăn.

Trên thế giới có 120 quốc gia đã quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân. Việc quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại là xu thế chung trên thế giới, đáp ứng yêu cầu của một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, việc quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại cũng là một biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đảng trong xử lý pháp nhân thương mại khi có vi phạm pháp luật xảy ra, đồng thời, tránh việc bỏ lọt tội phạm.

Một trong những nội dung quan trọng của Bộ Luật Hình sự (BLHS) sửa đổi, bổ sung năm 2015 là việc bổ sung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Việc bổ sung, quy định trách nhiệm Hình sự của pháp nhân thương mại vào thời điểm này là cần thiết vá đúng lúc, đáp ứng yêu cầu và tình hình thực tiễn đang xảy ra, nhằm đảm bảo tính công minh, công bằng và nghiêm khắc của pháp luật đối với những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của nhà nước, công dân.

Điều 75 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về pháp nhân thương mại đã khái niệm: Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Thực tế hiện nay, hệ thống pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập, mặc dù đã có chế tài xử phạt hành chính, quy định của pháp luật dân sự, kinh tế nhưng không hiệu quả; cơ chế bảo vệ của pháp luật đối với những trường hợp pháp nhân thương mại vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với chủ thể chưa hiệu quả. Do đó, trách nhiệm xử lý pháp nhân thương mại theo quy định của pháp luật hình sự phải thuộc về Nhà nước, chủ thể có đầy đủ sức mạnh, nguồn lực và thẩm quyền để thực hiện; việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân chính là việc nội hóa các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại sẽ đưa ra cơ sở pháp lý để quy định trình tự, thủ tục tố tụng hình sự chặt chẽ với pháp nhân thương mại, góp phần đảm bảo khách quan, hiệu quả hơn trong việc xử lý hành vi vi phạm của pháp nhân thương mại so với các chế tài xử lý hiện hành, đồng thời, tăng cường bảo vệ quyền lợi của người dân khi thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện.

Việc quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại sẽ tạo cơ sở pháp lý để xử lý những pháp nhân thương mại vì lợi nhuận mà bất chấp pháp luật của Nhà nước, xem thường tính mạng, sức khỏe của người dân, lũng đoạn thị trường, phá vỡ trật tự quản lý kinh tế của đất nước cũng như để can thiệp vào hoạt động của các nhóm tội phạm có tổ chức, tồn tại dưới hình thức hợp pháp là công ty. Như các băng, nhóm tội phạm hoạt động phạm tội tham nhũng, kinh tế và chức vụ.

2. Quy định cụ thể đối với pháp nhân thương mại trong BLHS 2015

Tại Chương XI của BLHS năm 2015 những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội, gồm 16 Điều, trong đó:

- Quy định về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (Điều 75) thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện: (1) hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (2) hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; (3) chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015; (4) việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

- Quy định về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (Điều 76): pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm được quy định tại các Điều: 188; 189; 190; 191; 192; 193; 194; 195; 196; 200; 203; 209; 210; 211; 213; 216; 217; 225; 227; 232; 234; 235; 237; 238; 239; 242; 243; 244; 245; 246.

- Quy định về hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

+ Phạt tiền: phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng (Điều 77). Căn cứ mức phạt tiền quy định tại các điều trong BLHS năm 2015 đối với pháp nhân thương mại thì hình phạt tiền cao nhất là 5.000.000.000 (năm tỷ đồng).

+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn: đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế. Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm (Điều 78).

+ Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn: đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra. Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động (Điều 79).

+ Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định: cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội. Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động. Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Điều 80).

+ Cấm huy động vốn: cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội. Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm: cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư; cấm phát hành, bán chứng khoán; cấm huy động tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây: 1. Đối với hình phạt chính: a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung; b) Hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với từng lĩnh vực cụ thể thì không tổng hợp; c) Hình phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; 2. Đối với hình phạt bổ sung: a) Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền được cộng lại thành hình phạt chung; b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì pháp nhân thương mại bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên”.

-    Tổng hợp hình phạt của nhiền bản án, Điều 87 quy định như sau: (1) Trường họp pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước về đình chỉ hoạt động có thời hạn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung; (2) Khi xét xử một pháp nhân thương mại đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của Bộ luật này; (3) Trong trường hợp một pháp nhân thương mại phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng họp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng họp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”.

-   Miễn hình phạt và xóa án tích, các điều 88, 89 quy định như sau: “Pháp nhân thương mại phạm tội có thể được miễn hĩnh phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” (Điều 88); “Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới” (Điều 89).

           3. Một số trao đổi nhằm hoàn thiện, đảm bảo hiệu quả phòng ngừa, xử lý đối với những vi phạm pháp luật hình sự của pháp nhân thương mại

           Hiện nay, Quốc Hội và Ủy ban soạn thảo đang chỉnh sửa, bổ sung và lùi thời hạn có hiệu lực pháp luật của Bộ luật Hình sự. Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử của Việt Nam, có thể nhận định một số nội dụng, vấn đề cần định hướng đẩy mạnh trong thời gian tới nhằm mục đích đảm bảo việc tổ chức thực hiện, ngăn chặn và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật Hình sự của pháp nhân thương mại như sau:

           Một là, Cần xây dựng lộ trình và nghiên cứu việc áp dụng pháp luật hình sự trong xử lý đối với pháp nhân thương mại để đảm bảo và tránh tạo “cú sốc pháp lý” đối với các pháp nhân thương mại đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Vấn đề đặt ra ở đây là những pháp nhân thương mại của Việt Nam nhưng đặt địa điểm và hoạt động bên ngoài lãnh thổ Việt Nam khi có những vi phạm pháp luật Hình sự của Việt Nam thì việc xử lý sẽ như thế nào? Vấn đề này cần được quy định cụ thể và có hướng dẫn chi tiết để các lực lượng chức năng thực hiên.

           Hai là, Căn cứ vào các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các pháp nhân thương mại có 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh giữa Việt Nam và đối tác nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, khi bị vi phạm pháp luật Hình sự thì có chính sách và quan điểm xử lý cụ thể ra sao để đảm bảo kêu gọi, thu hút đầu tư và đường lối chính trị, ngoại giao của đất nước.

           Ba là, Hiện nay, có nhiều pháp nhân thương mại với vốn điều lệ, giá trị kinh doanh lớn, nhưng mức phạt và quy định tối đa đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự chỉ là 5.000.000.000đ (năm tỷ đồng), số tiền trên chưa đủ giá trị răn đe đối với những vi phạm mà hậu quả do hành vi đó gây ra là rất lớn cho xã hội, cộng đồng, môi trường (như các hành vi buôn lậu, trốn thuế, gây ô nhiễm môi trường...). Vì vậy, thời gian tới cần thiết phải nâng mức xử phạt tối đa đối với pháp nhân, đồng thời quy theo mức lương cơ bản (để đảm bảo các yếu tố trượt giá của đồng tiền, tăng trưởng về kinh tế...), chẳng hạn mức phạt tối đa là .

           Bốn là, Việc vi phạm pháp luật hình sự của pháp nhân thương mại gắn liền với trách nhiệm và vi phạm của các cá nhân cụ thể, do đó, cần thiết có những quy định và hướng dẫn chi tiết trong việc xử lý những vi phạm của các cá nhân, người có liên quan như thế nào cho đảm bảo đúng người, đúng tội, không bỏ lọt hành vi vi phạm, không bỏ lọt tội phạm. Đồng thời, cần thiết tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ chiến sỹ trong thực hiện các chức năng, quyền hạn và các hoạt động tiến hành tố tụng, khởi tố, điều tra với các vi phạm của pháp nhân thương mại và cá nhân có liên quan.

           Năm là, Một đối tượng chịu sự điều chỉnh, hình phạt của Bộ luật Hình sự luôn đi kèm với việc đối tượng đó bị tước đoạt, hạn chế một số quyền, lợi ích. Do đó, cần thiết quy định thêm và quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ, lợi ích của pháp nhân sẽ bị hạn chế, tước đoạt khi chịu sự điều chỉnh và hình phạt, bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

           Sáu là, Cần thiết chú trọng đến hiệu quả, tác dụng răn đe của pháp luật hình sự đối với những vi phạm của pháp nhân thương mại. Vì vậy, cơ quan chức năng cần nhìn nhận và đánh giá năng lực và sự phục hồi những thiệt hại đã gây ra của pháp nhân thương mại làm cơ sở để giảm nhẹ hình phạt và xem xét việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại đó. Việc này đồng nghĩa với việc cân nhắc và xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan.  

           Bảy là, Lực lượng Công an cần làm tốt công tác phối hợp với các ngành chức năng như: Ủy ban chứng khoán, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ Thương mại, Cục sở hữu trí tuệ, Cơ quan quản lý thuế, Cơ quan quản lý môi trường... đồng thời, cần quy định rõ quyền hạn, chức năng và nghĩa vụ của các cơ quan chức năng trong việc tham các hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn, điều tra, làm rõ những vi phạm liên quan đến pháp nhân thương mại.

           Tám là, Để hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với những vi phạm pháp luật hình sự của pháp nhân thương mại, lực lượng Công an cần phối hợp tốt với các Ngành chức năng để tuyên truyền, thông báo cho người dân nắm và hiểu được những quy định của pháp luật hình sự, những hành vi vi phạm pháp luật hình sự của cá nhân, pháp nhân thương mại, nhằm định hướng và gắn kết chặt chẽ hơn mối quan hệ giữa người dân với cơ quan Công an và ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật của pháp nhân thương mại./.

đọc tiếp tin khác