Hotline: 0963538839

Dùng lệ thay luật để giải quyết khiếu kiện (?!)

Không phải ngẫu nhiên, ông Nguyễn Công Chấn là một trong ba công dân ở thị xã Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) khiếu kiện qua hai thế kỷ.

Từ “đất thuê theo giá bán đứt”…

      Cụ Nguyễn Công Tài (đã mất) tham gia Cách mạng trước năm 1945. Khi còn sống, cụ cùng gia đình cư trú trên khoảnh đất nay thuộc tổ 4, phường Trưng Trắc, thị xã Phúc Yên. Đất thuê không thời hạn “theo giá bán đứt” (câu chữ tại văn bản thuê) làm nhà ở có xác nhận của chính quyền khi đó (thời Pháp thuộc). Gia đình cụ Tài sử dụng liên tục từ tháng 4/1954 đến thời điểm toàn thể người dân Phúc Yên thực hiện sơ tán trong chiến tranh… Thời sơ tán, thỉnh thoảng gia đình cụ Tài có ai về qua nhà cũng chỉ chốc lát rồi đi; chính quyền cũng gần như không quản lý “vườn không nhà trống”. Vì thế, khi có “người lạ” từ đẩu đâu đến dựng túp nhà nhỏ tại góc vườn cụ Tài và ở lỳ gần chục năm, diện tích đất chiếm dụng đến 1/3, chính quyền địa phương mới bắt đầu giải quyết khiếu kiện bằng…lời nói. Người lãnh đạo Khu C (khu khi đó như phường bây giờ) vỗ về: “Đất nước vừa qua chiến tranh, nhiều việc cần làm trước. Cứ thong thả, đâu sẽ có đó. Đất còn đấy chứ mất đâu”. Cho đến ngày cụ Tài buộc phải gửi đơn kiện, mới tóe thêm nhiều chuyện trái ngang...

 …đến quyết định giải quyết theo lệ

     Do không có hộ khẩu Phúc Yên, “người lạ” này (Bà Trần Thị Xuân) nhiều năm không được chính quyền Phúc Yên cấp đất. Thế mà về sau, chưa rõ vì sao, 1/3 đất của gia đình cụ Tài “thuê dài hạn theo giá bán đứt”, 43 năm nay bên cho thuê không khiếu nại gì, lại được một số vị có chức quyền ở huyện Mê Linh trước đây và thị xã Phúc Yên về sau hô biến thành đất của gia đình bà Xuân.

    Chính quyền Khu C - Thị xã Phúc Yên đến năm 1979 mới có văn bản giải quyết, trên tinh thần công nhận phần đất tranh chấp kia thuộc về gia đình cụ Tài. Kiểm tra hồ sơ gia đình bà Xuân, chính quyền địa phương không thấy giấy tờ gì liên quan khoảnh đất này (thể hiện tại biên bản họp Khu C năm 1979). Nhưng người đại diện chính quyền Khu và Thị xã/Huyện cũng chỉ phát ngôn hùng hồn rồi bỏ đó, vẫn với lý do “còn nhiều việc cần hơn”; và lời động viên vẫn là “bình tĩnh, chịu khó chờ…”.

        Sau khi cụ Tài mất, ông Nguyễn Công Chấn (con cả của cụ Tài) được gia đình ủy quyền tiếp tục đi “xin” chính quyền địa phương giải quyết việc kể trên. Ông Chấn cho biết, khoảnh đất cụ Tài “thuê dài hạn theo giá bán đứt” kể trên bị hai lực lượng lấn chiếm trong thời kỳ sơ tán; lực lượng thứ nhất là gia đình bà Trần Thị Xuân, lực lượng thứ hai là tập thể. Năm 1998, sau nhiều năm ông Chấn có đơn yêu cầu trả lại, phần đất bị tập thể lấn chiếm (làm ngõ đi lại) đã được cơ quan có thẩm quyền khi đó công nhận. Sau đó gia đình ông Chấn được cấp đổi một thửa đất khác, giá trị tương ứng phần bị tập thể lấn chiếm. Riêng với phần đất bị gia đình bà Xuân lấn chiếm thì lãnh đạo địa phương “kiên trì” lý giải rằng “gia đình bà Xuân tuy không giấy tờ hợp pháp nhưng đã ở hợp lệ”, rằng phần đất bị bà Xuân lấn chiếm “đã được Nhà nước quản lý theo diện vắng chủ” trong thời kỳ sơ tán, rằng “đất này chỉ là đất thuê cá nhân, và thời hạn thuê đã hết từ năm 1969”…; từ đó bác khiếu nại của gia đình ông Chấn.

      Từ đó đến nay, dẫu già yếu, bệnh tật, ông Chấn vẫn kiên trì đi “xin”. Vụ này đã được Văn phòng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, rà soát toàn bộ nội dung vụ này và quá trình giải quyết của tỉnh. Nhưng Văn phòng UBND tỉnh chỉ làm mỗi việc liệt kê thời gian ban hành các văn bản giải quyết vụ này chứ không xem xét các nội dung ông Chấn cho là không đúng sự thật (Các văn bản đó bị ông Chấn vạch rõ sai trái, bất hợp lý, nhưng cấp có thẩm quyền không ai giải quyết). 

Cần áp dụng văn bản phù hợp

      Trao đổi ý kiến về vụ này, Luật sư Nguyễn Văn Ngọc (Đoàn luật sư Hà Nội) nhận xét: Thực ra, trong quá trình giải quyết, các cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh đã áp dụng không đúng pháp luật. Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền đã xác định không đúng thời điểm xảy ra tranh cấp. Trong trường hợp này, nguyên nhân khiếu nại của gia đình ông Chấn là bị bà Xuân chiếm dụng một phần đất từ khi gia đình ông Chấn thực hiện sơ tán chiến tranh; và ít nhất vụ này đã được chính quyền địa phương xúc tiến giải quyết (bằng văn bản) từ năm 1979. Vậy, để giải quyết triệt để thì phải sử dụng các văn bản pháp luật về quản lý đất đai có giá trị thi hành thời đó để giải quyết mới đúng. Nhưng đáng tiếc, tiếp đó cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh lại dựa vào Luật Đất đai năm 1993 (ra đời sau nhiều năm xảy ra tranh chấp) để giải quyết. Thứ hai, các lý do mà cơ quan có thẩm quyền đưa ra (“đất đã được Nhà nước quản lý diện vắng chủ”, “bà Xuân sử dụng chưa hợp pháp nhưng hợp lệ”...) đều không thỏa đáng; vì cơ quan đưa ra các lý do này không chứng minh được căn cứ. Ông Chấn cho biết, ông đã kiên trì yêu cầu họ cung cấp các chứng cứ đó nhưng phía Tỉnh cứ “làm ngơ”, vì thực tế…không có chứng cứ. Viện cớ “đó là đất thuê nên gia đình ông Chấn không có tư cách để đòi lại”, cũng hoàn toàn vô lý. Giấy thuê đất đã xác định “thuê theo giá bán đứt”, người cho thuê không đòi. Mặt khác, tại Thông tư 73/TTg ngày 7/7/1962 (văn bản quản lý nhà nước về đất cho thuê) đã nghiêm cấm tư nhân cho thuê đất và quy định người đang sử dụng đất cho thuê, đất vắng chủ để ở, hoặc sản xuất thì tiếp tục được sử dụng. Thứ ba, thực tế Nhà nước đã thừa nhận gia đình ông Chấn là chủ sử dụng hai phần ba thửa đất này thì không có lý do chính đáng để bác quyền sử dụng một phần ba còn lại (bị bà Xuân chiếm từ thời sơ tán chiến tranh), nên mọi lý lẽ cơ quan tham mưu của UBND tỉnh đưa ra chỉ là ngụy biện. Tiếc thay, lãnh đạo UBND tỉnh khi đó nghe theo ngụy biện này, không công nhận phần đất còn lại của gia đình ông Chấn; và khi ông Chấn khiếu nại kéo dài, Văn phòng Chính phủ đề nghị kiểm tra quá trình giải quyết, thì phía Tỉnh lại chỉ trả lời bằng cách liệt kê các văn bản giải quyết nửa vời, nên ông Chấn vẫn có đơn kêu cứu là điều dễ hiểu.

     Được hỏi về hướng giải quyết vụ này thế nào thì đúng pháp luật và thỏa đáng nhất, ông Chấn cho biết, ông đang đề nghị Thanh tra Chính phủ cho ông trình bày toàn bộ sự việc và yêu cầu chính quyền địa phương công bố căn cứ pháp lý nào để chính quyền địa phương cho rằng “đất đó chỉ là đất thuê nên gia đình ông Chấn không có quyền yêu cầu trả lại”. Và nữa, đất đó nếu được gọi là “Nhà nước đã quản lý” thì văn bản quản lý và văn bản giao đất của Nhà nước cho bà Xuân tại thời điểm bà Xuân chiếm dụng ở đâu, nội dung thế nào?

    Vụ này hiện tại không đủ điều kiện để yêu cầu tòa án giải quyết, vì đã hết thời hiệu từ lâu. Ban tiếp dân Trung ương cũng đã nhiều lần nhận đơn của ông Chấn. Do vậy, theo Luật sư Nguyễn Văn Ngọc, để giải quyết dứt điểm vụ việc tồn đọng kéo dài này, cần bám vào Điều 24 - Luật Khiếu nại; trong đó quy định thẩm quyền, trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ: khi phát hiện có vi phạm trong giải quyết khiếu nại thì Tổng thanh tra Chính phủ báo cáo Thủ tướng hoặc yêu cầu người có trách nhiệm giải quyết. 

     Như vậy, Thanh tra Chính phủ cần xem xét các vi phạm trong giải quyết khiếu nại, thể hiện trong đơn khiếu nại của ông Chấn đã gửi đến Ban tiếp dân Trung ương, làm căn cứ báo cáo, kiến nghị Thủ tướng xử lý theo luật định. Mặt khác, để giải quyết thấu tình đạt lý vụ này, chính quyền địa phương cần áp dụng đúng văn bản quản lý nhà nước phù hợp từng thời kỳ lịch sử; linh hoạt đảm bảo cả quyền có chỗ ở cho gia đình bà Xuân lẫn quyền sử dụng đất của gia đình ông Chấn. Giải pháp hợp tình hợp lý nhất là cấp bù cho gia đình ông Chấn mảnh đất khác có giá trị tương đương mảnh đất đã bị chiếm và hợp thức hóa (Như vậy gia đình bà Xuân vẫn có đất ở, trong khi gia đình ông Chấn không bị thiệt thòi).

                                                                                                                                            Văn Nguyên

đọc tiếp tin khác