Hotline: 0963538839

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Tóm tắt: Bài viết trình bày khái quát những quy định của pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp xã hội, từ đó đưa ra những đề xuất, khuyến nghị hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu thực tiễn áp dụng mô hình Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Luật Doanh nghiệp, Doanh nghiệp xã hội, Doanh nghiệp xã hội Việt Nam, mô hình doanh nghiệp xã hội.

I. Sự hình thành của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) ở Việt Nam có quá trình hình thành và phát triển khá sớm, dù chưa chính thức được luật hóa nhưng nhiều mô hình kinh doanh đã thực hiện mang bản chất của các DNXH.

Trong nghiên cứu của Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng - CSIP, sự hình thành và phát triển của các DNXH tại Việt Nam diễn ra qua 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn sơ khai của DNXH ở Việt Nam từ trước năm 1986, chủ yếu hoạt động dưới hình thức hợp tác xã thủ công, tổ sản xuất nhỏ phục vụ đối tượng yếu thế như người khuyết tật, trẻ lang thang... (2) Giai đoạn tự phát từ năm 1986 đến trước năm 2008, DNXH bùng phát dưới nhiều hình thức khác nhau, các tổ chức xã hội tìm kiếm phương thức sinh kế cho cộng đồng thiệt thòi. Nhiều DNXH hình thành tiêu biểu như KOTO, Mai Vietnam Handicaft, Reaching out... (3) Giai đoạn định hình diễn ra từ sau năm 2008 đến nay, số lượng các DNXH tăng nhanh. Xuất hiện các tổ chức hỗ trợ DNXH như CSIP, Hội đồng Anh, Tia sáng... Nguồn vốn đầu tư cho xã hội cũng được tăng lên. DNXH được chính thức định danh và ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 và được đưa vào giảng dạy và nghiên cứu tại các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu một cách rộng rãi.

DNXH hiện nay ở Việt Nam đang có vị trí nhất định trong xã hội và trong các hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại. DNXH thông qua các hoạt động kinh doanh của mình hướng đến các giá trị xã hội.

 Ở Việt Nam, Luật Doanh nghiệp năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 là một văn bản pháp lý hết sức có ý nghĩa, chính thức thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của DNXH tại Việt Nam. Tuy chỉ mới được đề cập và được quy định trong duy nhất một điều luật (Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 10) và chưa có khái niệm chính thức về DNXH nhưng cũng đã có rất nhiều nội dung thể hiện được bản chất đặc thù của DNXH.

Luật Doanh nghiệp 2014 đưa ra hệ 3 tiêu chí xác định DNXH. Cụ thể:

-DNXH phải là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Tiêu chí này có nghĩa là DNXH ở Việt Nam phải tồn tại dưới mô hình Doanh nghiệp và chỉ có thể lựa chọn một trong các loại hình doanh nghiệp gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Quy định DNXH trước hết phải là doanh nghiệp cũng khẳng định chắc chắc rằng các DNXH ở Việt Nam phải là mô hình có đăng ký thành lập và có thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh tức là hướng đến mục tiêu lợi nhuận. Những mô hình mang bản chất DNXH trước đây như hợp tác xã, các quỹ, hội, hiệp hội... đều không được chấp nhận là DNXH và không được hưởng những chính sách dành riêng cho DNXH. Về phía nhà nước, tiêu chí này tạo nhiều thuận lợi cho công tác quản lý và hỗ trợ đặc thù cho các DNXH.

- DNXH phải có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Tiêu chí này thể hiện bản chất và giá trị của các DNXH phổ biến trên thế giới và được tiếp nhận tại Việt Nam là hướng đến các mục tiêu xã hội, môi trường. Mục tiêu này phải là mục tiêu đầu tiên, xuyên suốt và quan trọng nhất trong quá trình thành lập và hoạt động của DNXH. Khác với các doanh nghiệp truyền thống đó là mục tiêu kinh doanh đặt ra để hướng đến giá trị tài chính (lợi nhuận), các DNXH có các mục tiêu xã hội/ môi trường đặt ra tiến đến thành lập DNXH để giải quyết các mục tiêu xã hội/ môi trường đó.

- DNXH phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng ký. Đây là một trong những tiêu chí cực kỳ quan trọng để giúp các DNXH có thể hoàn thành mục tiêu xã hội/ môi trường đã đăng ký. Với cách tiếp cận các DNXH phải sử dụng phần lớn lợi nhuận thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh để có thể thực hiện mục tiêu của mình thì ít nhất 51% là một con số bước đầu đã là một sự thành công của các nhà làm luật.

Với hệ tiêu chí trên cùng những quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định 96/2015 của Chính phủ có liên quan đến DNXH, các nhà làm luật mong muốn sẽ tạo ra một hành lang pháp lý đầy đủ và thuận lợi đối với loại hình doanh nghiệp “mới mà cũ” này. Với nh ững tiêu chí này sẽ giúp những tổ chức hiện tại chưahoặc không phải làcác DNXH sớm xác định cho mình những tiêu chí định hướng để có trở thành các DNXH hay không.

II. Những vấn đề pháp lý cơ bản của DNXH theo quy định pháp luật Việt Nam

- Về thành lập (trình tự, thủ tục thành lập)

Theo điểm a khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì DNXH có tiêu chí đầu tiên là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này. Như vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không coi DNXH là một loại hình doanh nghiệp đặc thù riêng mà cũng giống như doanh nghiệp thông thường, vẫn tổ chức và hoạt động theo một trong các loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (Báo cáo số 798/BC-UBTVQH13, 2014).

Vì cũng là một doanh nghiệp nên để thành lập DNXH, doanh nhân xã hội (người bỏ vốn để thành lập DNXH được tác giả và nhiều nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “doanh nhân xã hội”) phải thực hiện các thủ tục pháp lý thông thường để thành lập một doanh nghiệp trong số các loại hình doanh nghiệp đã được Luật Doanh nghiệp năm 2014 thiết kế (Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 18 đến Điều 46). Tiêu chí này thể hiện một trong những đặc điểm cơ bản của DNXH, tương tự doanh nghiệp thông thường, đó là có hoạt động kinh doanh (Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 4). Theo đó, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 4). Từ định nghĩa doanh nghiệp, kinh doanh của pháp luật doanh nghiệp và theo quan niệm truyền thống trong khoa học pháp lý ở nước ta, chính yếu tố “nhằm mục đích sinh lợi” là yếu tố căn bản, quyết định đến sự ra đời và hoạt động của doanh nghiệp, “một thuộc tính không thể tách rời của doanh nghiệp” (Bùi Xuân Hải, 2016, tr 26) và là “đích cuối cùng của các nhà kinh doanh” (Nguyễn Viết Tý, 2016, tr 29). Từ đó có thể hiểu, mục đích chính khi thành lập doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp, còn việc giải quyết các vấn đề xã hội vì lợi ích của cộng đồng không phải là mục tiêu chủ yếu của kinh doanh. Vì thế mà có quan điểm cho rằng, định nghĩa kinh doanh ở nước ta quá nhấn mạnh chủ nghĩa duy lợi, người soạn luật đã không khái quát được những doanh nghiệp không vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận (Phạm Duy Nghĩa, 2010, tr 29).

Ở khía cạnh khác, cũng xét từ định nghĩa “doanh nghiệp”, mục đích thành lập doanh nghiệp là nhằm thực hiện chức năng kinh doanh, tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp, được Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 xếp vào nhóm pháp nhân thương mại. Trong khi đó, theo Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì DNXH là một pháp nhân phi thương mại, “vẫn có thể tìm kiếm lợi nhuận nhưng đó không là mục tiêu chính và điều quan trọng là nếu có lợi nhuận thì không được chia cho các thành viên”(Đỗ Văn Đại, 2016, tr 101).Như vậy, nếu áp dụng cả nội dung này theo Điều 76 BLDS năm 2015 cùng với với những nội dung theo quy định Khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì có thể phải thực hiện thêm một “tiêu chí” hay điều kiện nữa đó là ngoài trích tối thiểu 51% tổng lợi nhuận để tái đầu tư thực hiện các mục tiêu xã hội đã đăng ký, phần tổng lợi nhuận còn lại cũng không được phép chia cho các thành viên mà phải thực hiện vào những mục đích khác pháp luật lại không có quy định rõ.Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì DNXH là “doanh nghiệp”, hiểu theo logic đó thì DNXH phải là một pháp nhân thương mại, nhưng Bộ luật Dân sự đã không theo hướng đó. Dường như theo tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015, thì DNXH là một phạm trù nằm ngoài khái niệm doanh nghiệp, điều này có thể tạo nên sự mâu thuẫn với Luật Doanh nghiệp năm 2014 nếu xem xét dưới góc độ pháp lý và góc độ kinh tế cũng như sự hợp lý khi áp dụng pháp luật trên thực tiễn.Hiện nay, thủ tục thành lập DNXH được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp.

- Về tên gọi của DNXH

Giống như mọi doanh nghiệp khác, DNXH cũng có tên riêng của mình. Dựa trên các chuẩn mực về tên doanh nghiệp được pháp luật quy định, doanh nhân xã hội sẽ chủ động quyết định đặt tên cho DNXH. Theo các quy định từ Điều 38 đến Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì không có quy định riêng trong việc đặt tên cho DNXH. Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP thì có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của DNXH. Quy định có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của DNXH là một quy phạm tùy nghi, do người thành lập DNXH tự quyết định. Tuy nhiên, cả Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định cấm hay hạn chế các nhà đầu tư sử dụng cụm từ “doanh nghiệp xã hội” hay từ viết tắt “DNXH” trong tên của doanh nghiệp thông thường. Hệ quả là thực tế có thể sẽ tồn tại những nhà đầu tư lợi dụng các cụm từ này trong việc đặt tên cho doanh nghiệp của mình để Nhà nước, công chúng và đối tác nhầm lẫn về chủ thể nhằm kinh doanh không lành mạnh. Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần có quy định cấm việc sử dụng các cụm từ “doanh nghiệp xã hội” hay từ viết tắt “DNXH” trong tên của doanh nghiệp thông thường, điều này cũng phù hợp với quy định pháp luật của Vương quốc Anh và Hàn Quốc (Lê Nhật Bảo, 2017).

- Về tư cách pháp nhân của DNXH

DNXH theo quy định của Luật Doanh nghiệp tức là sẽ tồn tại một trong các loại hình doanh nghiệp hiện hành là: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần. Trong số những loại hình doanh nghiệp này, nếu DNXH lựa chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân (DNTN) thì DNXH đó sẽ không có tư cách pháp nhân.Tuy nhiên, theo quy định của Điều 76 Bộ luật dân sự năm 2015 khi liệt kê các pháp nhân phi thương mại có cả các DNXH, điều đó có nghĩa DNXH trước hết phải có tư cách pháp nhân. Nội dung này đã cho thấy sự chưa thống nhất của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Bộ luật dân sự năm 2015 khi quy định về DNXH, nếu áp dụng đầy đủ quy định của 2 văn bản trên thì DNXH không có DNTN.

- Về quyền và nghĩa vụ của DNXH

DNXH khác với các doanh nghiệp thông thường ở mục đích phân phối và sử dụng lợi nhuận. Vì vậy, ngoài các quyền và nghĩa của doanh nghiệp nói chung, DNXH còn các quyền và nghĩa vụ đặc thù tương ứng với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội theo khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các quyền và nghĩa cụ quan trọng của DNXH bao gồm:

Thứ nhất, DNXH phải duy trì mục tiêu và điều kiện phân phối lợi nhuận trong suốt quá trình hoạt động. Như đã phân tích, đặc trưng pháp lý để phân biệt DNXH với các doanh nghiệp thông thường là ở mục tiêu và điều kiện phân phối lợi nhuận, vì vậy DNXH phải duy trì các tiêu chí này trong suốt quá trình hoạt động của mình. Pháp luật doanh nghiệp quy định các cơ chế để đảm bảo việc tuân thủ mục tiêu xã hội, môi trường của DNXH. Nếu DNXH muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư một cách chủ động thì DNXH phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên nếu chấm dứt cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của DNXH theo các trường hợp theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 của Nghị định 96/2015/ NĐ-CP thì chưa có quy định thống nhất với Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Thứ hai, Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội. Với khả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề về nhu cầu an sinh xã hội, phục vụ nhu cầu của những người nghèo, yếu thế nhất và đông nhất trong xã hội. Đây là nhóm người lâu nay vẫn được bảo trợ từ các chính sách của nhà nước, hay nói cách khác, đây là “gánh nặng” của ngân sách nhà nước (Nguyễn Thị Yến, 2015, tr 73). DNXH chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước, góp phần rất lớn trong việc tạo công ăn việc làm, thu nhập và cơ hội để nhóm tầng lớp này tự tin, hòa nhập, từ đó giúp họ có cuộc sống ổn định hơn. DNXH đang ra sức giải quyết những vấn đề trong xã hội mà Nhà nước không làm xuể, giá trị mà các DNXH mang lại cho xã hội là rất lớn. Do đó, Nhà nước cần xem DNXH là người bạn đồng hành cùng với mình trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và xây dựng các chính sách tạo điều kiện để DNXH phát triển.

- Về vốn của DNXH

DNXH ngoài huy động vốn từ những cách thức huy động vốn từ các chủ sở hữu hoặc những thành viên góp vốn khác như các doanh nghiệp thông thường cón có thể được tiếp nhận các nguồn vốn từ các nguồn khác. Cụ thể theo quy định (Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, Điều 3): DNXH tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài để thực hiện mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường theo quy định của pháp luật về tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài; Ngoài các khoản viện trợ quy định nói trên, DNXH được tiếp nhận tài trợ bằng tài sản, tài chính hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt Nam để thực hiện mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường.

Trình tự, thủ tục tiếp nhận các khoản tài trợ quy định nêu trên được thực hiện như sau: (i) Việc tiếp nhận tài trợ phải lập thành văn bản. Văn bản tiếp nhận tài trợ phải có các nội dung: Thông tin về cá nhân, tổ chức tài trợ, loại tài sản, giá trị tài sản hoặc tiền tài trợ, thời điểm thực hiện tài trợ, yêu cầu đối với doanh nghiệp tiếp nhận tài trợ, họ, tên và chữ ký của người đại diện có thẩm quyền của các bên. (ii) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày văn bản tiếp nhận tài trợ được ký kết, doanh nghiệp phải thông báo cho Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc cơ quan quản lý viện trợ, tài trợ thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi doanh nghiệp có trụ sở chính về việc tiếp nhận tài trợ; kèm theo thông báo phải có bản sao văn bản tiếp nhận tài trợ.

Trường hợp nội dung văn bản tiếp nhận tài trợ quy định trong phần (i) này có thay đổi, DNXH phải thông báo cho Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc cơ quan quản lý viện trợ, tài trợ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính về những nội dung thay đổi theo trình tự, thủ tục quy định trong phần (ii) nêu trên.

Bên cạnh đó, theo quy định(Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 10 Khoản 2) DNXH không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký. Trường hợp được nhận các ưu đãi, hỗ trợ, DNXH phải định kỳ hàng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp xã hội phải duy trì mục tiêu xã hội, môi trường, mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư và nội dung khác ghi tại Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường trong suốt quá trình hoạt động. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường và mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, doanh nghiệp xã hội phải hoàn lại toàn bộ các ưu đãi, khoản viện trợ, tài trợ dành riêng cho doanh nghiệp xã hội. Đồng thời, chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân, thành viên đối với công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông đối với công ty cổ phần đã ký tên trong Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường và thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần chịu trách nhiệm liên đới hoàn lại các ưu đãi, tài trợ đã nhận và bồi thường các thiệt hại phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp xã hội vi phạm quy định này.

Về vấn đề này, những quy định có một số điểm cần lưu ý như sau:

Thứ nhất, DNXH được huy động và nhận tài trợ. Theo tìm hiểu và đánh giá của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, các DNXH ở Việt Nam còn khá non trẻ, được thành lập chủ yếu từ những ý tưởng mang tính cá nhân, có vốn đầu tư ban đầu đa phần là vốn tự đóng góp của các thành viên sáng lập với quy mô nhỏ. DNXH có đặc thù là không vì mục tiêu lợi nhuận, lại kinh doanh trên các thị trường có rủi ro cao, lợi suất tài chính thấp nên không hấp dẫn các nhà đầu tư thương mại, cùng với đó là chi phí đầu tư cho nhân sự, quản lý của DNXH lại lớn hơn so với mức trung bình (Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh và Trần Thị Hồng Gấm, 2012, tr 53-60). Vì vậy, DNXH đang gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tài chính, nhu cầu tiếp nhận những khoản đóng góp, tài trợ từ các tổ chức, cá nhân khác để phần nào bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của DNXH là rất cần thiết.

Thứ hai, DNXH không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký. Trên cơ sở mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích của cộng đồng mà các DNXH mới có thể huy động được các nguồn tài trợ, còn các nhà tài trợ khi tài trợ vào DNXH thì mong muốn khoản tài trợ ấy được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Xét về bản chất, khoản tài trợ do DNXH huy động được không phải là tài sản thuộc sở hữu của DNXH, nên việc quyết định sử dụng khoản tài trợ ấy như thế nào bị giới hạn. Do đó, theo quy định (Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 10 Khoản 2 điểm d) DNXH chỉ được sử dụng các khoản tài trợ để trang trải chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký. Trường hợp DNXH vi phạm nghĩa vụ này thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư (Nghị định số 50/2016/NĐ-CP, Điều 40).

- Về quản lý, điều hành

Hoạt động quản lý, điều hành của DNXH dựa trên cơ sở những quy định về quản lý, điều hành của các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Bên cạnh đó, chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân, thành viên đối với công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông đối với công ty cổ phần và thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phầnđã ký tên trong Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường phải thực hiện các hoạt động quản lý, điều hành cũng như giám sát, kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp trên tình thần thực hiện đầy đủ những mục tiêu đã cam kết. Những cám kết này ngoài việc phải công khai trên trang thông tin của công ty, điều lệ, nội quy, quy chế hoạt động nội bộ của công ty mà còn được cơ quan đăng ký thành lập doanh nghiệp công bố công khai cho cộng đồng doanh nghiệp và xã hội biết. Mọi hành vi quản lý, điều hành của bộ máy quản lý của doanh nghiệp sẽ được lập thành báo cáo hàng năm và được theo dõi, giám sát trong việc tuân thủ cam kết bởi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Kế hoạch và đầu tư cũng như cơ quan quản lý viện trợ, tài trợ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có đặt trụ sở chính của DNXH.

- Về chuyển nhượng vốn góp trong DNXH

Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên và cổ đông doanh nghiệp xã hội chỉ được chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần của mình cho tổ chức, cá nhân khác nếu họ có cam kết tiếp tục thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trường.Cổ đông đã ký tên trong Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường chỉ được chuyển nhượng cổ phần của mình theo quy định (Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 119 khoản 3) trong thời hạn Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường.

- Về tổ chức lại DNXH

Theo quy định (Nghị định 96/2015/NĐ-CP, Điều 8) vấn đề chia, tách, hợp nhất, sáp nhập đối với doanh nghiệp xã hội được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

+ Doanh nghiệp xã hội được chia hoặc tách thành các doanh nghiệp xã hội.

+ Các doanh nghiệp, doanh nghiệp xã hội hợp nhất thành doanh nghiệp xã hội.

+ Sáp nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp xã hội vào doanh nghiệp xã hội.

Hồ sơ, trình tự, thủ tục chia, tách, hợp nhất, sáp nhập đối với doanh nghiệp xã hội thực hiện theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp.

Trường hợp giải thể doanh nghiệp xã hội, số dư tài sản hoặc tài chính còn lại đối với nguồn tài sản, tài chính mà doanh nghiệp xã hội đã nhận phải được trả lại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã viện trợ, tài trợ hoặc chuyển cho các doanh nghiệp xã hội khác, tổ chức khác có mục tiêu xã hội tương tự.

Hồ sơ, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp xã hội được thực hiện theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp về giải thể doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp xã hội còn số dư tài sản hoặc tài chính đối với nguồn viện trợ, tài trợ đã nhận, thì hồ sơ giải thể phải có thỏa thuận với cá nhân, tổ chức liên quan về xử lý số dư tài sản hoặc tài chính đối với nguồn viện trợ, tài trợ mà doanh nghiệp xã hội đã nhận.

Tóm lại, mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2014 phân công Chính phủ quy định cụ thể Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, trong đó có các chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành cho DNXH, nhưng Nghị định số 96/2015/NĐ-CP chưa có các quy định cụ thể về vấn đề này. Điều này có thể được lý giải vì Nghị định số 96/2015/NĐ-CP là văn bản hướng dẫn thi hành của Luật Doanh nghiệp năm 2014 nên những vấn đề về ưu đãi dành cho DNXH cần được quy định ở pháp luật chuyên ngành (như pháp luật về đầu tư, thuế, giáo dục, y tế…), qua đó góp phần tạo nên sự thống nhất trong hệ thống pháp luật.DNXH theo pháp luật Việt Nam là một chủ thể đặc biệt, một doanh nghiệp hoạt động nhưng không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các nhà đầu tư mà phần lớn lợi nhuận của DNXH được phục vụ cho cộng đồng. Như vậy, việc điều chỉnh pháp luật đối với DNXH cần xét đến các yếu tố đặc thù của mô hình này, để góp phần tạo nên “hệ sinh thái” tốt, tạo điều kiện cho DNXH phát triển như nhiều quốc gia trên thế giới.

III. Một số đề xuất và khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý về DNXH ở Việt Nam hiện nay

DNXH chính thức được luật hóa là một trong những điểm mới đặc biệt của Luật Doanh nghiệp năm 2014, tạo được điểm nhấn của sự đổi mới và đột phá trong tư duy pháp lý cũng như trong cách tiếp nhận kinh nghiệm pháp lý của những quốc gia có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời về doanh nghiệp nói chung và DNXH nói riêng. Mặc dù vậy, qua nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng những quy định về DNXH vẫn còn tồn tại một số những vướng mắc và bất cập sau đây cần tiếp tục rà soát và hoàn thiện:

Thứ nhất, cần có tiêu chí thống nhất xác định DNXH theo quy định của BLDS năm 2015 và Luật doanh nghiệp năm 2014. Như vậy, DNXH được nhận diện cụ thể và có phần “chặt chẽ” hơn như sau: (i) DNXH là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014; (ii) DNXH phải có tư cách pháp nhân; (iii) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; (iv) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký; (v) Không được phân chia lợi nhuận hàng năm sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính và các chi phí quản lý khác cho các thành viên của DNXH.

Thứ hai, hình thức pháp lý DNXH với loại hình DNTN được thành lập kể từ ngày 1/7/2015 – ngày LDN năm 2014 có hiệu lực vẫn được coi là DNXH. Theo quy định Điều 76 BLDS 2015 thì DNTN không được coi là DNXH vì không có tư cách pháp nhân. Kể từ ngày 1/1/2017 BLDS 2015 có hiệu lực, những DNTN đã đăng ký thành lập là DNXH theo quy định của LDN 2014 bắt buộc phải chuyển đổi nếu vẫn muốn giữ quy chế là DNXH nếu không sẽ chỉ được hoạt động như các DNTN bình thường (sửa đổi Điều lệ thành DNTN bình thường) cho phù hợp với quy định của BLDS 2015. Hiện nay, pháp luật chưa có quy định về việc chuyển đổi loại hình DNTNthành DNXH trong trường hợp này. Đối với trường hợp này, tác giả có khuyến nghị:

Phương án thứ nhất, Ban hành mới quy định hướng dẫn chi tiết việc chuyển đổi DNXH từ DNTN sang các loại hình doanh nghiệp khác khác cho phù hợp với quy định của BLDS năm 2015. Phương án này đảm bảo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật giữa BLDS năm 2015 và LDN năm 2014. Hiện nay, theo điều 199 LDN năm 2014, DNTN chỉ được chuyển đổi sang loại hình Công ty TNHH.

Phương án thứ hai, Sửa đổi BLDS năm 2015 về nội dung liên quan đến tư cách pháp nhân của DNXH cho phù hợp với LDN năm 2014. Phương án này có lợi thế là tiết kiệm chi phí, giảm thiểu thủ tục hành chính, đảm bảo lợi ích của DNXH dưới hình thức DNTN đã được thành lập trước khi BLDS năm 2015 có hiệu lực. Hạn chế của phương án này: việc sửa đổi, bổ sung luật cần nhiều thời gian và chi phí sẽ gây khó khăn cho DNXH đang hoạt động.

Phương án thứ ba, Quy định bổ sung một số tiêu chí cho DNXH trong LDN năm 2014 cho phù hợp với quy định của BLDS năm 2015.

Thứ ba, DNXH phải gánh trên vai nghĩa vụ sử dụng phần lớn tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư cho các mục tiêu xã hội/ môi trường nên việc được hỗ trợ và ưu đãi là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên việc hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư như thành lập, thuế, lao động...vẫn chưa có những quy định cụ thể mà mới chỉ dừng lại ở quy định chung chung là theo quy định của pháp luật (Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, Điều 2). Ví dụ như DNXH được thành lập với tiêu chí là DNXH và lại là doanh nghiệp nhỏ và vừa thì sự hỗ trợ của nhà nước sẽ như thế nào cần phải được quy định rõ mới có thể khuyến khích và thu hút được các nhà đầu tư.

Thứ tư, cần có những quy định tạo mối liên hệ thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật để thực sự tạo hành lang pháp lý đầy đủ và thuận lợi cho các DNXH. Cụ thể đó là mối liên hệ giữa luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật đầu tư công, luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, luật các tổ chức tín dụng... DNXH không phải là một loại hình doanh nghiệp mới nhưng lại góp phần giúp nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường mà nếu tiếp tục để Nhà nước thực hiện chưa chắc đã hiệu quả do đó trước hết những chính sách đầu tư, những quy định về tổ chức và hoạt động của DNXH không nên chỉ bó hẹp trong luật doanh nghiệp mà còn phải chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật có liên quan khác nhưng chưa được đề cập đầy đủ khi quy định về DNXH trong luật doanh nghiệp. DNXH hoàn toàn không phải là một “lợi thế” mà bên cạnh việc thực hiện các mục tiêu xã hội, các DNXH thực hiện hoạt động kinh doanh phải dựa trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng và công bằng như các loại hình doanh nghiệp khác.

Thứ năm, DNXH trước hết phải là một loại hình doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của luật doanh nghiệp. Tiêu chí này tự bó hẹp phạm vi của các DNXH tại Việt Nam so với thực tế và xu hướng chung trên thế giới. Không phải tổ chức, cá nhân nào cũng muốn thực hiện các hoạt động phục vụ cộng đồng hay xã hội, môi trường thông qua việc thành lập một doanh nghiệp nhất định. Nó có thể bắt nguồn từ một ý tưởng, một dự định những cũng có thể là một dự án lớn của những cá nhân, tổ chức nhưng do nhiều rào cản nên họ không muốn hoặc không thể thành lập một DNXH. Thực tế tại Việt Nam cho thấy quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản, tiếp cận các cơ hội kinh doanh, nguồn lực xã hội chưa thực sự bình đẳng giữa kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác; chi phí trung gian, không chính thức còn nhiều (Nghị quyết TW 5 Khóa XII của Đảng, 2017).

Thứ sáu, việc xác định sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tài đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký có thể thực hiện việc kiểm tra, giám sát tốt trên thực tế được không. Tiêu chí này thực tế chỉ thực hiện được khi DNXH có lợi nhuận hàng năm. DNXH nếu báo cáo lợi nhuận hàng năm là một con số âm, trong khi vẫn hưởng đầy đủ các chính xác hỗ trợ và ưu đãi của nhà nước thì sẽ thực hiện như thế nào đối với mục tiêu xã hội đã đăng ký. Vấn đề này lại hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực quản trị kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp và đạo đức doanh nhân – là những vấn đề mà chúng ta yếu kém trong một thời gian dài.

Thứ bảy, báo cáo cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của DNXH sẽ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà DNXH đặt trụ sở chính kiểm tra, giám sát; trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo những nội dung của cám kết trong báo cáo đó (Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, Điều 11). Tuy nhiên, việc yêu cầu báo cáo này của UBND cấp Tỉnh chỉ thực hiện trong trường hợp cần thiết. Tất nhiên trong vấn đề này sẽ có hai cách tiếp cận: (i) báo cáo hành chính nhiều lần sẽ gây phiền hà cho doanh nghiệp; (ii) nếu không thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động thông qua báo cáo của DNXH sẽ không có sự hỗ trợ và định hướng kịp thời, giúp DNXH tháo gỡ những khó khăn sẽ không thể giúp DNXH hoàn thành những mục tiêu xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Do vậy, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của DNXH phải được thực hiện vừa thường xuyên vừa trong trường hợp đặc biệt cần thiết mới mang nhiều ý nghĩa và có hiệu quả thực thi.

Thứ tám, những khoản viện trợ, ưu đãi, tài trợ cho DNXH sẽ phải có những báo cáo cụ thể liên quan đến hoạt động của DNXH trong việc thực hiện những khoản viện trợ này (Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 10). Tuy nhiên một vấn đề mà pháp luật chưa quy định đó là cần phải có những báo cáo, giải trình để xác định rõ nguồn gốc của những khoản hỗ trợ tài chính này có thực sự hợp pháp hay không. Ở Việt Nam, trong nhiều lĩnh vực đặc biệt liên quan đến các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, bên cạnh việc quản lý quỹ còn nhiều yếu kém, việc xác định nguồn gốc hình thành những khoản viện trợ, tài trợ này chưa hề được quan tâm và kiểm soát bằng các cơ chế mang tính pháp lý. Tác giả cho rằng nếu các quỹ này được chuyển đổi thành DNXH, nhưng thực tế số tiền được viện trợ hình thành quỹ lại được nhận từ các hoạt động tham nhũng, rửa tiền, kinh doanh bất hợp pháp, buôn bán ma túy... thì hậu quả pháp lý sẽ rất khó kiểm soát. Vì vậy không nên quan điểm cứ có tiền là nhận và làm từ thiện mà không cần quan tâm đến tiền đó có bất hợp pháp hay không.Việc thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng từ nguồn thu nhập hay hỗ trợ bất hợp pháp sẽ hoàn toàn không có ý nghĩa và cần phải được quy định chặt chẽ trong thời gian tới.

 Kết luận

Tóm lại, luật hóa những quy định pháp luật về DNXH là một chủ trương đúng của nhà nước và phù hợp với xu hướng chung của thế giới. DNXH ra đời giúp nhà nước giảm bớt gánh nặng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường do tác động của kinh tế và sự phát triển của xã hội dẫn đến phân hóa giàu nghèo và các điều kiện xã hội thay đổi từ quá trình hội nhập kinh tế. DNXH ra đời và phát triển còn thể hiện tinh thần và trách nhiệm đối với xã hội của các doanh nhân, hình thành văn hóa và đạo đức kinh doanh cần thiết và lan tỏa những giá trị xã hội trong cộng đồng doanh nghiệp tại Việt Nam. DNXH phát triển và hoạt động có hiệu quả, kết hợp giá trị kinh tế và giá trị xã hội góp phần giảm thiểu những tiêu cực trong bộ máy nhà nước, hạn chế tham nhũng, giảm áp lực cho nhà nước đối với những vấn đề mà bất kỳ giai đoạn lịch sử nào cũng cần phải giải quyết để đảm bảo cuộc sống tốt đẹp cho cộng đồng./.

 

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Lê Nhật Bảo, Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam, xem chi tiết bài viết tại địa chỉ http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=163 truy cập ngày 8/8/17.

2.Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh và Trần Thị Hồng Gấm (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam - Khái niệm, bối cảnh và chính sách, Hà Nội, tr. 53-60.

3.Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, tr. 101.

4.Bùi Xuân Hải (2016), Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức, TP Hồ Chí Minh, tr. 26.

5.Phạm Duy Nghĩa (2010), Giáo trình Luật kinh tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 29.

6.Nguyễn Thị Yến (2015), “Doanh nghiệp xã hội và giải pháp phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 11, tr. 73.

7.Nguyễn Viết Tý (2016), Giáo trình Luật Thương mại, tập 1, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 29.

8. Nghị quyết TW 5 Khóa XII của Đảng (2017) về phát triển kinh tế tư nhân.

9. Bộ Luật Dân sự số 91/2015/QH13.

10.Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13.

11. Nghị định số 96/2015/NĐ-CP.

ThS. Phạm Quý Đạt*

đọc tiếp tin khác