Hotline: 0963538839

MỘT SỐ ĐIỂM BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 CẦN KHẮC PHỤC

Tóm tắt: Luật doanh nghiệp 2014 (“LDN 2014”) ra đời thay thế cho Luật doanh nghiệp 2005 (“LDN 2005”) và được đánh giá là một đạo luật có nhiều cải cách quan trọng theo hướng tăng cường tính linh hoạt, chủ động trong quản lý, điều hành doanh nghiệp, theo Trần Thị Hồng Minh (2016). Tuy nhiên LDN 2014 vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất cập cần phải khắc phục để các quy định của luật rõ ràng hơn và có thể áp dụng vào thực tiễn tốt hơn. Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra các hạn chế, bất cập của LDN 2014. Chính vì vậy bài viết này chỉ tập trung vào những quy định còn thiếu sót hoặc không rõ ràng trong LDN 2014 mà chưa được đề cập hoặc chưa được phân tích thoả đáng trong các công trình khác đã công bố.

Từ khóa: Luật doanh nghiệp 2014; Bất cập; Công ty TNHH, Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân;

 

I. Thiếu sót trong quy định của LDN 2014 về các đối tượng không được quyền thành lập doanh nghiệp

Bộ luật dân sự 2015 có một quy định mới về năng lực hành vi dân sự của cá nhân, đánh dấu lần đầu tiên các nhà làm luật Việt Nam đưa ra khái niệm về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Cụ thể như sau:

Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ (Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, Điều 23, Khoản 1).

Liên quan tới năng lực hành vi dân sự của cá nhân, LDN 2014 có liệt kê hai đối tượng không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, đó là người bị mất năng lực hành vi dân sự và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 18, Khoản 2, Điểm đ).

Tuy nhiên, vì LDN 2014 ra đời trước Bộ luật dân sự 2015, nên trong quy định của LDN 2014 về các cá nhân bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp đã không đề cập tới người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Đây là một điểm bất hợp lý của Luật cần phải được khắc phục, bởi vì tuy chưa đến mức bị mất năng lực hành vi dân sự nhưng người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi vẫn là những người không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình và cần phải có người giám hộ. Do đó họ không thể có đủ điều kiện để thành lập hay quản lý doanh nghiệp. Sẽ không hợp lý và thiếu sót nếu người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp, còn người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì không được đề cập tới.

 II. Sự thiếu thống nhất trong một số quy định liên quan tới công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty hợp danh

Bảo đảm tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật là một trong những nguyên tắc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13, Điều 5). Theo Phan Trung Lý (2012) và Nguyễn Đình Thơ (2011), tính thống nhất này không chỉ được đặt ra đối với toàn bộ hệ thống pháp luật mà còn được đặt ra đối với bản thân từng văn bản quy phạm pháp luật.

Nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất được Lê Thị Nga (2018) đánh giá là một nguyên tắc, một yêu cầu quan trọng trong quy trình lập pháp để tạo ra một hệ thống pháp luật đồng bộ và hiệu quả. Chính vì vậy, các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và LDN 2014 nói riêng cần phải bảo đảm được nguyên tắc này. Tuy nhiên, LDN 2014 vẫn còn một số quy định không đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc quan trọng nêu trên. Cụ thể như sau:

2.1. Sự không thống nhất của Luật khi quy định về quyền tham dự cuộc họp Hội đồng thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 LDN 2014 thì việc tham dự cuộc họp Hội đồng thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được coi là quyền của thành viên. Đồng thời tại Điều 51 quy định về nghĩa vụ của thành viên cũng hoàn toàn không đề cập tới nghĩa vụ dự họp.

Ngoài ra, LDN 2014 cho phép cuộc họp lần thứ nhất của Hội đồng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên được diễn ra khi có số thành viên dự họp đại diện cho ít nhất 65% vốn điều lệ. Nếu cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành thì cuộc họp lần thứ hai sẽ được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu ít nhất 50% vốn điều lệ. Trường hợp cuộc họp lần thứ hai cũng không đủ điều kiện tiến hành và phải triệu tập cuộc họp lần thứ ba thì cuộc họp lần thứ 3 được tiến hành không phụ thuộc số thành viên dự họp cũng như số vốn điều lệ được đại diện bởi số thành viên dự họp (Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 59).

Từ các quy định trên có thể thấy rằng việc tham dự cuộc họp hội đồng thành viên là quyền của thành viên, và họ có thể lựa chọn tham dự hay không tham dự.

Tuy nhiên tại Khoản 3 Điều 59 lại khẳng định “thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên phải tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên”.

Như vậy có thể thấy rằng quy định của Luật doanh nghiệp về việc tham dự cuộc họp Hội đồng thành viên của các thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên là không thống nhất. Ở các điều luật trên thì quy định tham dự cuộc họp là quyền của thành viên, nhưng tới Khoản 3 Điều 59 thì lại khẳng định là thành viên hoặc người đại diện theo uỷ quyền của họ phải tham dự cuộc họp. Nếu vậy, giả sử thành viên không tham dự cuộc họp và cũng không uỷ quyền cho người khác tham dự thì họ có bị coi là vi phạm pháp luật hay không?

Các nhà làm luật cần quy định lại một cách rõ ràng, nhất quán vấn đề này để bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định của LDN 2014. Bất cập này đã tồn tại từ LDN 2005 và tới LDN 2014 vẫn chưa được khắc phục.1

2.2. Sự không thống nhất trong quy định của Luật về thành viên góp vốn trong công ty hợp danh

LDN 2014 quy định rất rõ về việc thành viên hợp danh trong công ty hợp danh phải là cá nhân, tuy nhiên lại quy định không thống nhất về việc thành viên góp vốn có bắt buộc là cá nhân hay không, hay có thể là một tổ chức.

Khoản 1 Điều 173 LDN 2014 quy định thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải góp đủ và đúng hạn số vốn như đã cam kết. Đồng thời tại Khoản 4 của điều này nói rõ tại thời điểm góp đủ vốn như đã cam kết, thành viên được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp. Giấy chứng nhận phần vốn góp phải có: “Tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của thành viên; loại thành viên.”

Nếu dựa vào quy định trên thì có thể thấy rằng trong nội dung của giấy chứng nhận phần vốn góp chỉ thể hiện các thông tin của người góp vốn là cá nhân như tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác. Hoàn toàn không có bất kỳ thông tin nào thể hiện người góp vốn là một tổ chức.

Tương tự, tại Điều 21 LDN 2014 quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty hợp danh cũng chỉ yêu cầu bản sao Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của các thành viên – vốn là các thông tin của cá nhân.

Trong khi đó, Điều 26 LDN 2014 khi đề cập tới danh sách thành viên công ty hợp danh lại yêu cầu danh sách thành viên công ty hợp danh phải có các nội dung chủ yếu sau đây: ‘Tên, mã số doanh nghiệp và địa chỉ trụ sở chính của thành viên là tổ chức đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh’. Tương tự, Điều 22 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với công ty hợp danh có yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp bản sao hợp lệ các giấy tờ sau đây:

Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác, một trong các giấy tờ chứng thực      cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này của người đại diện       theo ủy quyền và văn bản ủy quyền tương ứng đối với trường   hợp người thành lập doanh nghiệp là tổ chức;

Như vậy, Điều 26 LDN 2014 và Điều 22 Nghị định số 78 đều đề cập tới việc thành viên góp vốn của công ty hợp danh có thể là một tổ chức.

Thiết nghĩ, LDN 2014 nên có các quy định rõ ràng và nhất quán về việc thành viên góp vốn của công ty hợp danh có thể là tổ chức hoặc cá nhân nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong nội dung của LDN nói riêng và của các văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật về doanh nghiệp nói chung.

III. Mâu thuẫn trong quy định của LDN 2014 về các hạn chế đối với chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh công ty hợp danh

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 183 LDN 2014 thì chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là thành viên công ty hợp danh.

Tuy nhiên trước đó, tại Khoản 1 Điều 175 Luật lại quy định thành viên hợp danh có thể làm chủ doanh nghiệp tư nhân nếu được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.

Từ các quy định trên, chúng ta thấy có hai sự việc như sau:

 (i) Nếu một thành viên hợp danh của công ty hợp danh muốn làm chủ doanh nghiệp tư nhân thì họ hoàn toàn có thể làm được điều đó, họ chỉ cần được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.

(ii) Nhưng nếu chủ của một doanh nghiệp tư nhân muốn trở thành thành viên hợp danh trong công ty hợp danh thì sẽ không thể được, ngay cả khi họ nhận được sự chấp thuận (nhất trí) của toàn bộ các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh.

Như vậy, có thể thấy rằng hai sự việc nêu trên về bản chất là hoàn toàn giống nhau, nhưng quy định của luật về mỗi trường hợp lại khác nhau. Đây là một sự mâu thuẫn. Trên thực tế đã có trường hợp có người đang là thành viên hợp danh của công ty hợp danh muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân và nhờ luật sư tư vấn. Luật sư sau khi xem xét tình huống đã trả lời rằng quy định của Luật doanh nghiệp về vấn đề này có sự mâu thuẫn và khuyên khách hàng trên nên lựa chọn thành lập các loại hình doanh nghiệp khác (Luật Hoàng Phi 2017).

Doanh nghiệp tư nhân được Nguyễn Đình Luận (2015) đánh giá là loại hình doanh nghiệp cần được đẩy mạnh vì nó là ‘phương tiện có hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng các khoản tiền đang phân tán, nằm im trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư riêng’ Công ty hợp danh cũng được Nguyễn Vĩnh Hưng (2017) nhận định là một loại hình công ty phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội cũng như tâm lý kinh doanh tại Việt Nam.

Chính vì vậy, các nhà làm luật cần sửa đổi các quy định nêu trên theo hướng thống nhất để tránh mâu thuẫn, nhằm giúp các quy định của LDN 2014 về công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân được áp dụng vào thực tiễn tốt hơn.2

IV. Sự bất hợp lý của Luật khi chỉ cho phép doanh nghiệp công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp

Liên quan tới việc công bố nội dung đăng ký kinh doanh, LDN 2005 cho phép các doanh nghiệp được lựa chọn một trong hai hình thức: đăng trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc đăng trên một trong các loại báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp (Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11, Điều 28). Tuy nhiên, Nghị định số 05/2012/NĐ-CP và Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư khi hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp đã đưa ra quy định mâu thuẫn với LDN 2005 khi chỉ cho phép các doanh nghiệp công bố thông tin trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và phải trả phí.

Trên thực tế, tại thời điểm các văn bản nêu trên có hiệu lực, đã có nhiều doanh nghiệp kiến nghị rằng việc bắt buộc các doanh nghiệp chỉ được công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là bất hợp lý. Bởi vì theo ý kiến của các doanh nghiệp và một số nhà quản lý thì Cổng thông tin quốc gia về đăng lý doanh nghiệp về bản chất chỉ là trang thông tin nội bộ của Cục Đăng ký kinh doanh có lượng người truy cập thấp. Trong khi đó, một trong những mục đích chính của việc công bố thông tin là để công chúng tiếp cận được những thông tin quan trọng của doanh nghiệp như việc thành lập, thay đổi đăng ký kinh doanh, giải thể hay phá sản. Do đó nếu bắt buộc doanh nghiệp chỉ được đăng duy nhất trên Cổng Thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp thì sẽ hạn chế tác dụng. Nếu được phép lựa chọn, các doanh nghiệp khẳng định họ sẽ tìm đến các cơ quan thông tin đại chúng, những tờ báo phổ biến, uy tín, có phạm vi phát hành rộng khắp toàn quốc để đăng thông tin và lưu giữ, tra cứu sau này (Lê Hoàng 2014).

LDN 2014 - khác với LDN 2005 - đã bỏ hoàn toàn lựa chọn thứ hai của các doanh nghiệp và chỉ cho phép các doanh nghiệp công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. (Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 33, Khoản 1)

Để tăng cường tính chủ động cho các doanh nghiệp, cũng như nhằm đáp ứng được mục đích của việc công bố thông tin rộng rãi cho công chúng, thiết nghĩ các nhà làm luật nên sửa đổi LDN 2014 theo hướng cho phép các doanh nghiệp được lựa chọn hình thức công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp giống như quy định của LDN 2005, chứ không bắt buộc chỉ được đăng trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Kết luận

LDN 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2015, tới nay đã được hơn hai năm và được đánh giá là một đạo luật có nhiều cải cách quan trọng theo hướng tăng cường tính linh hoạt, chủ động trong quản lý, điều hành doanh nghiệp. Tuy nhiên về mặt kỹ thuật lập pháp cũng như nội dung, LDN 2014 vẫn bộc lộ rất nhiều hạn chế, bất cập và đã được đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau.

Trong phạm vi của bài viết này, tác giả đã chỉ ra một số điểm còn hạn chế của LDN 2014 mà các nghiên cứu khác chưa đề cập tới hoặc chưa phân tích đầy đủ. Cụ thể là: Sự thiếu sót trong quy định của Luật về các đối tượng không được thành lập doanh nghiệp; Sự không thống nhất của Luật khi quy định về quyền tham dự cuộc họp Hội đồng thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên; Sự không rõ ràng trong quy định của Luật về thành viên góp vốn trong công ty hợp danh; Sự mâu thuẫn trong quy định của Luật về các hạn chế đối với chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh công ty hợp danh; Sự bất hợp của Luật lý khi chỉ cho phép doanh nghiệp công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trong đó có nhiều điểm bất cập đã tồn tại từ Luật doanh nghiệp 2005 và không được khắc phục khi LDN 2014 ra đời.

Để bảo đảm tính minh bạch, tính thống nhất và tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật về doanh nghiệp, các nhà làm luật cần phải xem xét sửa đổi các quy định nêu trên.

* Giảng viên Khoa Luật, Đại học Kinh tế Đà Nẵng.

1. Xem Điểm a Khoản 1 Điều 41, Điều 42, và Điều 51 Luật doanh nghiệp 2005.

 

  2. Sự bất cập tương tự cũng được tìm thấy trong Luật doanh nghiệp 2005.

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Lê Hoàng,  ‘Độc quyền đăng công bố thông tin doanh nghiệp!’, truy cập ngày 05 tháng một năm 2018,  < http://www.thesaigontimes.vn/116404/#>

2. Lê Thị Nga, ‘Yêu cầu về tính thống nhất của hệ thống pháp luật’, truy cập ngày 06 tháng một năm 2018, <http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/671>   

3. Luật Hoàng Phi, ‘Thành viên hợp danh có được làm chủ doanh nghiệp tư nhân không?’, truy cập ngày 05 tháng một năm 2018, < http://tongdaituvanluat.vn/thanh-vien-hop-danh-co-duoc-lam-chu-doanh-nghiep-tu-nhan-khong/>

4. Nguyễn Đình Luận (2015), ‘Vai trò của kinh tế tư nhân với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam’, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 25, tr 27

5. Nguyễn Đình Thơ, ‘Giải pháp nào nâng cao tính thống nhất của hệ thống pháp luật?’, truy cập ngày 05 tháng một năm 2018, <http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1464>

6. Nguyễn Vĩnh Hưng (2017), ‘Hoàn thiện chế định pháp luật về công ty hợp danh trong Luật doanh nghiệp năm 2014’, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 88

7. Phạm Thị Hồng Đào, ‘Một số hạn chế của Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư năm 2014 cần hoàn thiện’, truy cập ngày 07 tháng một năm 2018, < http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2066>

8. Phan Trung Lý, Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, truy cập ngày 05 tháng 01 năm 2018,

<http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/NhaNuocVaPhapLuat/View_Detail.aspx?ItemID=86>

9. Trần Thị Hồng Minh (2016), ‘Luật doanh nghiệp và luật đầu tư năm 2014 - nhìn lại một năm thực hiện trong công tác đăng ký kinh doanh’, truy cập ngày 06 tháng 01 năm 2018,

<https://dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/91/ArticleID/2720/Luật-Doanh-nghiệp-và-Luật-Đầu-tư-năm-2014-Nhìn-lại-một-năm-thực-hiện-trong-công-tác-đăng-ký-kinh-doanh.aspx>

10. Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015

11. Luật doanh nghiệp 2014 số 68/2014/QH13, ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014

12. Luật doanh nghiệp 2005 số 60/2005/QH114, ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005

13. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13, ban hành ngày 22 tháng 6 năm 2015

14. Nghị định số 78/2015/ NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 về đăng ký doanh nghiệp

15. Nghị định số 05/2012/NĐ-CP ngày 9 tháng 1 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của chính phủ về đăng ký doanh nghiệp

16. Thông tư số 01/2013/TT-BKHĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 21 tháng 01 năm 2013 hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp

ThS. Đỗ Trần Hà Linh*

đọc tiếp tin khác