Hotline: 0963538839

MỘT SỐ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ ĐẶC THÙ VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN PHẠM TỘI DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH

Tóm tắt Chế định TNHS (TNHS) pháp nhân đã trở thành đề tài tranh luận khá sôi nổi trong khoa học pháp lý,và hoạt động lập pháp nhiều quốc gia trong thập kỷ qua. Hiện nay, chế định TNHS pháp nhân đã được thừa nhận rộng rãi trong luật hình sự các nước. Từ thực tiễn hoạt động đấu tranh và phòng chống tội phạm thời gian gần đây, việc quy định TNHS pháp nhân trong pháp luật hình sự nước ta là cần thiết. Bài viết nghiên cứu và so sánh một số khía cạnh pháp lý đặc thù về TNHS đối với pháp nhân phạm tội và những gợi mở cho Việt Nam.

Từ khóa: TNHS pháp nhân, so sánh luật.

I. Các học thuyết về cơ sở TNHS pháp nhân

Trong khoa học luật hình sự, vấn đề TNHS (TNHS) là một vấn đề khá phức tạp, dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về nó. Thực tế này được biểu hiện trước hết qua định nghĩa về TNHS. Có tác giả định nghĩa:

TNHS cũng chính là dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích. Vậy TNHS của người phạm tội được hiểu là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình(Đại học Luật Hà Nội,2016, tr.244-245), hoặc trách nhiệm hinh sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự quy định(Lê Văn Cảm, 2005, tr.609).

Theo chúng tôi, TNHS được hiểu là một dạng trách nhiệm pháp lý, buộc thể nhân hoặc pháp nhân phạm tội phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về hành vi phạm tội của do chính chủ thể đó gây ra, được thể hiện bằng việc Tòa án thực hiện quyền tư pháp xét xử, theo một thủ tục tố tụng riêng, chặt chẽ nhằm kết án thể nhân, pháp nhân phạm tội.

Trong khoa học luật hình sự hiện đại, TNHS không chỉ đặt ra đối với cá nhân (thể nhân) phạm tội, mà đặt ra cả các pháp nhân thực hiện hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại một cách đáng kể đến quan hệ xã hội luật hình sự bảo vệ.

 

Về mặt lý luận có thể nói rằng, khoa học pháp lý hình sự hiện đại đã giải quyết cơ bản về TNHS đối với pháp nhân. Ngày nay việc thừa nhận TNHS pháp nhân là xu hướng phát triển chung trong luật hình sự nhiều nước trên thế giới (Trịnh Quốc Toản, 2011, tr.236). Hiện TNHS pháp nhân đã chính thức được ghi nhận trong một số văn kiện pháp lý quốc tế, được hợp pháp hóa trong luật hình sự của nhiều nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (Common Law) như Anh, Mỹ, Úc... và các nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law) như Pháp, Thụy Sỹ, Bỉ, Đức...

Deluxe Black’s Law Dictionary định nghĩa

Pháp nhân là một thực thể, khác hơn một tự nhiên nhân, mà có đời sống đầy đủ trong sự dự liệu pháp lý nó có thể thực hiện chức năng một cách hợp pháp, có thể bị kiện hoặc hoặc thưa kiện và có thể quyết định thông qua các đại diện như trong trường hợp của các công ty đối vốn1

 Ở Hoa Kỳ, trong các án lệ cũng đề cập đến vấn đề này:

Pháp nhân là một chủ thể trong quan hệ pháp luật do con người tạo ra, mà chúng ta không nhìn thấy bằng mắt thường được và cũng không thể sờ được như thể nhân. Pháp nhân chỉ tồn tại theo những quy định của pháp luật và thuần túy là một sản phẩm của luật pháp. Một trong những tính chất quan trọng nhất của pháp nhân đó là tính bất tử nhờ vào sự kế tục vĩnh cửu của nhiều người (Kenneth W. Clarkson, Roger LeRoy Miller, Frank B. Cross, 2016, p.221-234).

Trên thực tế, pháp nhân có thể tồn tại hàng trăm năm, có đời sống pháp lý lâu hơn so với những người sáng lập nên nó điển hình là các Keiretsu của người Nhật, Cheabol của Hàn Quốc, Huaren Gongsi của Trung Quốc.

Ở khía cạnh lịch sử, TNHS pháp nhân đã được thừa nhận trong một số phán quyết của tòa án ở Pháp, một số nước ở Châu Âu từ thế kỉ XVII. Ở Pháp, TNHS pháp nhân đã được chấp nhận trong đạo dụ của vua Pháp từ 1670 với hệ thống tố tụng và hình phạt riêng (Trịnh Quốc Toản, 2011, tr.65). Tuy nhiên, chế định này lại  không được thừa nhận trong luật hình sự trong thời gian sau đó. Lý do là do xem pháp nhân là một đối tượng hư cấu, được nhà làm luật dựng lên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập các quan hệ giữa một nhóm người với người thứ ba. Lợi ích, mục đích của pháp nhân là lợi ích, mục đích chung của các cá nhân trong nhóm; và quyền sở hữu của pháp nhân đối với tài sản chỉ là một cách diễn đạt khác về quyền sở hữu chung của các thành viên. Tư cách pháp nhân của nhóm do nhà làm luật ban cho, như một ân huệ, một món quà tặng, và có thể bị người làm luật tước bỏ nếu muốn (Nguyễn Ngọc Điện, 2010, tr.228-229).

Vì pháp nhân là do con người lập ra, hoạt động của nó thực hiện thông qua con người cụ thể nên nó (pháp nhân) không thể và không bao giờ có lỗi, tức là có thái độ tâm lý chủ quan của con người (như suy nghĩ, tính toán, dự tính, mong muốn..). Do đó, theo logic phép biện chứng, không có lỗi sẽ không có TNHS. Chính vì không thể chấp nhận lỗi của pháp nhân nên luật hình sự nước ta trước đây không quy định TNHS pháp nhân. Điều này thể hiện nguyên tắc quy tội khách quan, tức là chỉ truy cứu TNHS chủ thể nào đó mà chứng minh được lỗi của chủ thể đó (Lê Văn Cảm, 2005, tr.650).

Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm ở nhiều nước cho thấy tình hình tội phạm có tổ chức, đặc biệt là tội phạm do pháp nhân thực hiện trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, môi trường ngày càng nhiều, diễn biến phức tạp, gây tác hại và hậu quả lớn cho xã hội.Việc tổ chức và hoạt động của các tập đoàn tội ác này hình thành các thị trường bất hợp pháp liên quan tới các hàng hóa bất hợp pháp như: ma túy; buôn bán người, đưa người di cư bất hợp pháp... (Ngô Huy Cương, 2017, tr. 28-37). Trước tình hình đó, với chính sách hình sự mềm dẻo nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh và phòng chống tội phạm, Luật Hình sự nhiều nước thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ và châu Âu lục địa đã áp dụng chế độ TNHS pháp nhân.

Cơ sở áp dụng chế định TNHS pháp nhân là pháp nhân là những chủ thể độc lập, có tư cách pháp lý, có ý chí không khác gì thể nhân vậy nên nó phải là có các quyền và nghĩa vụ như chủ thể pháp luật (Xaca Vaca, Tori Aritdumi, 1995, tr.65-66). Pháp nhân có quy chế pháp lý riêng, được công nhân về quốc tịch và trụ sở, tài sản. Ở Pháp án lệ đã giải thích về khái niệm pháp nhân theo học thuyết thực tại như sau: ‘Nhân tính không phải là một sự sáng tạo của luật lệ. Mỗi một đoàn thể có một sự phát biểu tập thể để bảo toàn những lợi ích hợp pháp, đáng được pháp luật công nhận và bảo vệ, đều có tư cách pháp nhân’ (Ngô Huy Cương, 2015, tr. 38-49). Theo học thuyết thực tại, thông qua người đại diện, nhân viên của mình để thể hiện ý chí và hành động, ý chí và hành động đó trở thành một chỉnh thể thống nhất của pháp nhân. Vì vậy, pháp nhân là một cơ thể sống của xã hội, có hành vi và suy nghĩ cố hữu của mình. Do đó, pháp nhân không phải do pháp luật hư cấu nên, nó là một thực thể tồn tại thực sự trong đời sống xã hội, được pháp luật thừa nhận. Pháp nhân không chỉ có thể thực hiện được hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự, hành chính mà nó còn có thể thực hiện được hành vi phạm tội (Hoàng Trí Ngọc, 2015, tr. 37-44).

Sự ra đời của thuyết thực tại đối lập với thuyết giả tưởng về pháp nhân đã tạo cơ sở cho sự ra đời các học thuyết về TNHS pháp nhân trong luật hình sự mà điển hình là học thuyết đồng nhất hóa TNHS. Học thuyết đồng nhất hóa TNHS được áp dụng rộng rãi ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ như Anh, Canada….. Ở Anh, học thuyết này được phát triển từ các án lệ mà điển hình án lệ Lennard’s Carrying Co Ltd & Asiatic Petroleum Co Ltd. Án lệ nổi tiếng này của Tòa pháp viện Anh về việc quy kết trách nhiệm hình sự đối với một công ty. Án lệ này được mở rộng theo phán quyết trọng vụ Salomon v Salomon & Co và đặt nền móng cho việc xây dựng học thuyết đồng nhất hóa TNHS. Sau vụ Lennard’s Carrying Co Ltd &Asiatic Petroleum Co Ltd , việc có thể quy kết TNHS pháp nhân đã trở thành hậu quả pháp lý bất lợi nhất khi áp đặt trách nhiệm pháp lý đối với một công ty.

Ở Canada, trên cơ sở các án lệ từ vụ án này đến vụ án khác đã xây dựng nên chế định trách nhiệm hình sư pháp nhân trong Luật hình sự của Canada. Đáng chú ý nhất là phán quyết của tòa trong vụ tranh chấp giữa Canadian Dredge & Dock Co. v. The Queen. Đây là một trong những phán quyết làm cơ sở nền tảng cho việc xây dựng chế định TNHS pháp nhân trong luật hình sự của Canada. Chánh án Bora Laskin, Tòa tối cao Canada nhấn mạnh:

Một công ty phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình khi nhân tính của công ty và hành vi của những người điều hành của công ty tạo nên thống nhất. Nếu một người điều hành của công ty phạm tội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mìnhmà việc thực hiện hành vi phạm tội hoàn toàn mang lại lợi ích cho công ty, thì công ty cũng chịu TNHS về hành vi phạm tội do người điều hành của công ty gây ra (Canadian Dredge & Dock Co. v. The Queen 1985 CanLII 32, [1985] 1 SCR 662).

Án lệ R v Canadian Dredge & Dock Co đã đánh dấu một sự khởi đầu cho việc xây dựng hệ thống khoa học pháp lý về TNHS pháp nhân trongluật hình sự Canada. Luật gia Willard Estey nhận định [t]rong công ty tất yếu phải được vận hành bởi sự ủy quyền lại của các cơ quan lãnh đạo công ty. Chỉ những nhân viên của công ty được ủy quyền liên quan đến sự lãnh đạo của công ty mới có thể dẫn tới trách nhiệm của công ty (Paul Blyschak, 2014, p.657-704).

Theo các án lệ ở Anh, Canada và các nước Common Law, nội dung cơ bản học thuyết là lấy hành vi người ở vị trí chủ đạo trong pháp nhân đồng nhất hóa thành hành vi của chính pháp nhân. Những người giữ vị trí chủ đạo thông thường bao gồm: người đại diện của pháp nhân, giám đốc, hội đồng quản trị hoặc những người có vị trí chi phối và định hướng cho hoạt động của pháp nhân. Ý chí và hành vi của những người này được đồng nhất với ý chí và hành vi của pháp nhân (Hoàng Trí Ngọc, 2015).Theo học thuyết này, để truy cứu TNHS pháp nhân thì phải hội tụ đủ ba yếu tố sau:

 Thứ nhất, hành vi phạm tội phải do người quản lý, điều hành pháp nhân thực hiện. Cụm từ “người quản lý, điều hành pháp nhân của pháp nhân” được hiểu theo nghĩa rộng, tức người đại diện theo pháp luật của pháp nhân không chỉ là giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng quản trị… theo quy định điều lệ pháp nhân, mà bao gồm các cơ quan có tính chất tập thể như hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, đại hội đồng cổ đông… Thực tiễn Luật hình sự Trung Quốc cho thấy, khái niệm “người quản lý, điều hành pháp nhân của pháp nhân” đó có thể là những người quản lý tạm thời, người được ủy quyền đặc biệt bên ngoài pháp nhân, nhưng chịu trách nhiệm đại diện cho pháp nhân bên cạnh pháp nhân, tổ chức khác(Trịnh Quốc Toản, 2011). Án lệ R v Canadian Dredge & Dock Co cho rằng ‘một công ty sẽ không chịu TNHS nếu cá nhân thực hiện hành vi phạm tội đó không phải là người lãnh đạo của công ty, nghĩa là không có quyền đưa ra các chính sách, các quyết định của công ty’. (Canadian Dredge & Dock Co. v. The Queen 1985 CanLII 32, [1985] 1 SCR 662).

Thứ hai, người quản lý, điều hành pháp nhân thực hiện tội phạm nhân danh cho pháp nhân. Tức họ hành động với tư cách đã quy định trong điều lệ hoặc hợp đồng thành lập pháp nhân chứ không phải tư cách cá nhân. Nếu họ hành động với tư cách là người được ủy quyền đặc biệt thì họ phải hành động trong phạm vi được ủy quyền.Trường hợp người lãnh đạo, quản lý pháp nhân phạm tội do vượt quá thẩm quyền được trao, pháp nhân sẽ không chịu TNHS về hành vi vượt quá thẩm quyền đó. Quan điểm này xuất phát từ việc áp dụng lý thuyết về đại diện (agency theory). Trong tác phẩm ‘Lý thuyết công ty: Hành vi quản lý, chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu’, Jensen và Meckling định nghĩa:”

Đại diện như một hợp đồng qua đó một hay nhiều người chủ sở hữu công ty tuyển dụng một người khác (người đại diện) để thực hiện nhân danh mình một công việc bất kỳ trong công ty kéo theo việc trao một quyền ra quyết định nhất định cho người đại diện (Michael C. Jensen, William H. Meckling, 1976, p. 305-360).

Thứ ba, Hành vi phạm tội thực hiện vì lợi ích pháp nhân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, người quản lý, điều hành pháp nhân hướng đến mục đích tìm kiếm lợi ích kinh tế, vật chất hoặc phi vật chất nhất định cho pháp nhân. Án lệ R v Canadian Dredge & Dock Co nói rằng ‘một công ty sẽ không chịu TNHS nếu người lãnh đạo công ty đã hành động gian lận hoàn toàn vì lợi ích của mình mà công ty không được hưởng lợi gì (Canadian Dredge & Dock Co. v. The Queen 1985 Can LII 32, [1985] 1 SCR 662).

 

2. Một vài so sánh khía cạnh pháp lý đặc thù về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

2.1. Tư cách chủ thể chịu trách nhiệm hình sự

Nhìn chung PLHS các nước đều quy định pháp nhân với tư cách là chủ thể của TNHS mà không có sự phân biệt pháp nhân công, pháp nhân tư. Ở nhiều nước, pháp nhân tự được phân chia thành pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại. Về nguyên tắc, tất cả các pháp nhân theo luật tư có mục đích sinh lợi hay không, đều có đủ tư cách chịu TNHS. Nguyên tắc này được sử dụng phổ biến ở nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law) như Pháp, Bỉ, Đức...

Đối với Pháp nhân công, để thực hiện nguyên tắc công bằng nên không thể loại trừ TNHS. Ở Pháp, các pháp nhân khác theo luật công, không phân biệt lĩnh vực hoạt động (như cơ quan công cộng, các tập đoàn vì lợi ích chung, các tổ chức kinh tế hỗn hợp, các xí nghiệp, cơ sở sự nghiệp công, doanh nghiệp bị quốc hữu hoá...) chịu TNHS như pháp nhân tư, trừ một số pháp nhân như nhà nước, vùng lãnh thổ, chính quyền các tỉnh, thành phố (Phạm Bích Học, Mai Thanh Hiếu, 2007, tr. 69-75). Ở Bỉ TNHS cũng được áp dụng đối với pháp nhân công trừ một số pháp nhân như nhà nước liên bang, các vùng lãnh thổ, ủy ban cộng đồng chung (Trịnh Quốc Toản, 2003, tr.53-60).

Đối với cơ quan, tổ chức không có tư cách pháp nhân như nhóm, hội….vẫn là chủ thể chịu TNHS nếu thực hiện tội phạm. Quy định này được tìm thấy trong Luật hình sự Anh (Trịnh Quốc Toản, 2002, tr. 19-25), Bỉ, Trung Quốc…, ngoại trừ Pháp.

Ở Việt Nam, TNHS chỉ được áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Điều 2 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) về cơ sở TNHS :”Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội ……phải chịu TNHS”. Theo Điều 75 BLDS 2015 thì pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Theo Luật doanh nghiệp 2014 thì các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân bao gồm công ty hợp danh, công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần. Trên thực tế, các pháp nhân thương mại thực hiện nhiều hành vi thương mại như: mua bán hàng hoá, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá, đại lý mua bán hàng hoá, gia công trong thương mại. đấu giá hàng hóa, đấu thấu hàng hoá, dịch vụ giao nhận hàng hoá, dịch vụ giám định hàng hoá.....nhằm mục đích tạo nên lợi nhuận.

2.2. Tội danh đối với pháp nhân

Pháp luật hình sự nhiều nước đều quy định pháp nhân chịu TNHS với hầu hết các loại tội phạm được pháp điển hóa trong đạo luật hình sựquốc gia. Nguyên tắc này ghi nhận trong luật hình sự nhiều nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (Common Law) như Anh, Mỹ, Úc... và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law) như Pháp, Thụy Sỹ, Bỉ, Đức....

Ở khía cạnh lịch sử, ban đầu TNHS pháp nhân chỉ được quy định trong lĩnh vực kinh tế như buôn lậu, sản xuất hàng giả, trốn thuế… Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm ở các nước cho thấy tình hình tội phạm có tổ chức và đặc biệt là các tội phạm do pháp nhân thực hiện ngày càng nhiều, diễn biến phức tạp không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn về lao động, môi trường, tài chính, sức khỏe, tính mạng con người… Trong một phán quyết của tòa án bang Massachusetts, Hoa Kỳ  trong vụ (United States v. Bank of New England) đã tuyên ngân hàng New England, trụ sở Boston, Massachusetts phải chịu TNHS đối với tội danh liên quan đến hành vi gian lận tài chính khi có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 5322 (b) của Luật 31 U.S.C (cố tình không nộp báo cáo liên quan đến các giao dịch của khách hàng vượt quá 10.000 USD trong vòng mười lăm ngày).

Hiện nay, về cơ bản, ở các nước, pháp nhân chịu TNHS về nhiều loại tội phạm, không giới hạn ở trật tự quản lý kinh tế, môi trường, tài trợ khủng bố hay rửa tiền. Cụ thể:

Ở Mỹ, ngoài việc có thể bị truy tố về các tội phạm môi trường; cung cấp bất hợp pháp các dịch vụ y tế; vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; vi phạm pháp luật chống độc quyền; tham ô và lừa đảo; phổ biến hoặc trưng bày các nội dung khiêu dâm; vi phạm pháp luật về an toàn tại nơi làm việc. Căn cứ vào tính chất kinh tế, các doanh nghiệp thậm chí còn bị truy tố về những tội xâm phạm nhân thân, kể cả giết người (Nguyễn Khắc Hải, 2014, tr.110-117).

Ở Hà Lan, Canada, Bỉ, Pháp… TNHS pháp nhân được áp dụng có tính chất chung cho mọi tội phạm. Ở Anh, một số tội phạm mà bản chất của nó, pháp nhân không thể thực hiện như tội vi phạm chế độ một vợ một chồng, tội phạm xâm phạm về tình dục thì tòa án sẽ loại trừ pháp nhân ra khỏi phạm vi áp dụng TNHS.

Riêng ở Việt Nam, pháp nhân thương mại chịu TNHS với phạm vi hẹp hơn so với luật hình sự ở các nước.BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã quy định 33 tội danh, trong đó, 22 tội trật tự quản lý kinh tế và 09 tội về môi trường, 2 tội  tài trợ khủng bố,và rửa tiền. Nếu pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội thuộc các Điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì pháp nhân thương mại phải chịu TNHS.

2.3. Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân

Không thể áp dụng hình phạt tù để tước bỏ hoặc hạn chế quyền tự do như đối với cá nhân phạm tội, vì thế các nước đều quy định hình phạt “đánh mạnh” vào mặt kinh tế nếu pháp nhân phạm tội với tính chất”phòng ngừa” nhằm hạn chế hoặc thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ như Anh, Canada…hình phạt tiền là loại hình phạt duy nhất áp dụng đối với pháp nhân phạm tội. Các nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa điển hình Pháp, Bỉ, Đức…bên cạnh hình phạt tiền là hình phạt chính, còn áp dụng một số hình phạt nhưhạn chế kinh doanh, cấm kinh doanh, đóng cửa cơ sở, giải thể, cấm huy động vốn, tịch thu tài sản …. với tư cách là hình phạt chính hoặc bổ sung.

Ở Việt Nam, BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội có sự tương đồng với luật hình sự các nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa. Cụ thể bên cạnh áp dụng hình phạt chính như: phạt tiền (Điều 77), đình chỉ hoạt động có thời hạn (Điều 78), đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (Điều 79), thì pháp nhân phạm tội ở Việt Nam có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung như:cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định (Điều 80), cấm huy động vốn (Điều 81) và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 82).

 

3. Những gợi mở cho Việt Nam

Trước đây trong cả khoa học pháp lý và luật thực định, Việt Nam không thừa nhận TNHS pháp nhân với nhiều lý do khác nhau. Thực tiễn lập pháp, khoa học pháp lý và thực tiễn tại thời điểm trước đều có một nhận thức chung là TNHS pháp nhân chưa cấp bách đến mức phải ghi nhận trong PLHS hiện hành(Lê Văn Cảm, 2005, tr.655).

 

Thực tế trong nhiều năm qua, không ít tổ chức kinh tế - pháp nhân thương mại, chạy theo lợi nhuận thực hiện hành vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm, nhất là trong lĩnh vực kinh tế như trốn thuế, kinh doanh trái phép, đầu cơ, buôn lậu, ô nhiễm môi trường gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Ví dụ như vụ: Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh, Vedan, Tập đoàn lừa đảo đa cấp Liên kết Việt … đều có các hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có tổ chức cao và có những trường hợp mang tính quốc tế, gây thiệt hại nghiêm trọng cho kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải có giải pháp mạnh để phòng ngừa và đấu tranh.

 

Về mặt luật thực định, pháp luật đã quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với pháp nhân phạm tội, ngoài ra cũng có nhiều quy định khác là cơ sở để khởi kiện và buộc pháp nhân phải bồi thường thiệt hại khi vi phạm. Tuy nhiên thực tế, các quy định này còn nhiều bất cập, tính khả thi và hiệu quả kém vì nhiều lý do như: Chế tài không đủ sức răn đe, thủ tục kiện đòi bồi thường, quy định về nghĩa vụ chứng minh nguyên nhân và mức độ thiệt hại do các hành vi của pháp nhân gây ra hoặc quy định về án phí dân sựphức tạp. (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2016, tr.248).

 

Xuất phát từ điều kiện về kinh tế- xã  hội, pháp luật, văn hoá, lịch sử cụ thể trong giai đoạn phát triển hiện nay của nước ta, trên cơ sở kết quả nghiên cứu về mặt lý luận, thực tiễn kinh nghiệm quy định TNHS của pháp nhân trong LHS nước ngoài và ở Việt Nam (Trịnh Quốc Toản, 2013, tr. 142-150), cần khẳng định rằng việc xây dựng chế địnhTNHS đối với pháp nhân  trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập hành lang pháp lý nhằmthỏa mãn tiêu chí hội nhập.

 

Tuy nhiên, chúng tôi khi so sánh những khía cạnh pháp lý đặc thù về TNHS đối với pháp nhân phạm tội trong luật hình sự các nước phát triển, thì TNHS pháp nhân của Việt Nam nên gợi mở theo hướng sau:

 

Thứ nhất, Pháp nhân với tư cách là chủ thể chịu sự quy kết TNHS mà không có sự phân biệt pháp nhân công, pháp nhân tư, hoặc pháp nhân thương mại, phi thương mại. Hay nói cách khác không chỉ pháp nhân thương mại mới chịu TNHS mà cả pháp nhân phi thương mại, pháp nhân công nếu thực hiện hành vi phạm tội và có đủ các dấu hiệu quy định tại Điều 75 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì vẫn bị truy cứu TNHS.

Quy định này được ghi nhận trong luật hình sự của nhiều nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (Common Law) như Anh, Mỹ, Úc và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law) như Pháp, Thụy Sỹ, Bỉ, Đức. Đối với các pháp nhân theo luật tư không có mục đích sinh lợi như các hiệp hội, công đoàn, đảng phái thì TNHS cũng được đặt ra. Thực tiễn xét xử ở Pháp, có 6 bản án liên quan tới việc quy kết TNHS pháp nhân theo luật công (Phạm Bích Học, Mai Thanh Hiếu, 2007).

 

Thứ hai,Tội danh mà pháp nhân phải chịu TNHS không chỉ giới hạn trong 33 tội về trật tự quản lý kinh tế, môi trường, tài trợ khủng bố, rửa tiền mà cần phải mở rộng các tội danh liên quanvề lao động, sức khỏe, tính mạng con người, cưỡng bức lao động….. Các tội danh này được quy định tương đối phổ biến trong luật hình sự các nước Common Law như Anh, Mỹ, Úc...

 Ở Canada, TNHS pháp nhân về tội ngộ sát cũng được đặt ra (See Leigh, 1977, p.247). Ở Hoa Kỳ, trong một án lệToà Phúc thẩm của California, Quận Fifth nhận định:

Công ty Xây dựng Granite (bị cáo) đang xây dựng dự án nhiệt điện. Vào ngày 23 tháng 1 năm 1981, bảy công nhân xây dựng đã thiệt mạng trong một tai nạn tại dự án đó. Sau khi có bằng chứng liên quan, bồi thẩm đoàn của Quận Fresno phán xử bị cáo về tội ngộ sát (Granite Construction Co & Superior Court, 1983, 149 Cal.App.3d 465, 467 [197 Cal.Rptr. 3]).

 

Thứ ba, Khoản 2, Điều 75 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định việc pháp nhân thương mại chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân. Quy định này làm phát sinh một vấn đề là cá nhân và pháp nhân thương mại là cùng nhau phạm tội thì có được xem là đồng phạm trong cùng một vụ án hay không? Xác định lỗi, vai trò của cá nhân và pháp nhân thương mại trong cùng một hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại như thế nào? Trong một vụ phạm tội của pháp nhân thì cá nhân sẽ phải chịu trách nhiệm về cùng một tội danh hay sẽ bị xử lý theo tội danh khác? Tội danh khác đó, nếu có là tội gì? Trong trường hợp bị xét xử cùng một tội danh thì có xem xét vấn đề đồng phạm không? (Bạch Ngọc Du, 2016, tr. 39 - 43).

Tất cả những câu trả hỏi này BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) không quy định rõ. Nghiên cứu so sánh, chúng tôi thấy BLHS 1999 Vương quốc Bỉ có quy định cụ thể về vấn đề này. Đối với tội phạm cố ý thìTNHS pháp nhân và cá nhân được đồng nhất hóa tức là pháp nhân bị truy cứu tội gì thì cá nhân cũng bị truy cứu về tội đó. Đối với tội phạm do vô ý, sẽ quy kết TNHS cho chủ thể có lỗi chính trong việc gây nên hành vi phạm tội, có thể là cá nhân hoặc pháp nhân nhưng không có sự đồng nhất hóa TNHS.

Thứ tư, theo lý thuyết đại diện (agency theory), mọi hoạt động pháp nhân đều thông qua người đại diện. Khi truy cứu TNHS thì vấn đề đặt ra việc thay đổi người đại diện theo điều lệ thành lập pháp nhân hoặc theo hợp đồng thành lập pháp nhân có ảnh hưởng gì đến trách nhiệm người đại diện trước? (Hoàng Đức Cường, 2017, tr. 17-22). Theo chúng tôi, TNHS pháp nhân thông qua người đại diện chính là người đại diện tại thời điểm pháp nhân phạm tội.

 

Thứ năm, giải thích chính thức BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và BLTTHS 2015. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với pháp nhân thương mại theo quy định pháp luật hình sự, tố tụng hình sự nước ta không tránh khỏi các khó khăn, vướng mắc do một số quy định còn thiếu cụ thể, gây nhiều cách hiểu khác nhau. Vì vậy theo chúng tôi, cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể việc thi hành BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và BLTTHS 2015 liên quan đến việc quy kết TNHS và thủ tục truy cứu TNHS pháp nhân thương mại.

4. Kết luận

Có thể khẳng định rằng cùng với ba chế định khác – tội phạm (1), hình phạt (2), đạo luật hình sự (3), thì TNHS là một chế định trung tâm và chủ yếu, đồng thời là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ các quy phạm của Phần chung và Phần các tội phạm của luật hình sự (Trịnh Tiến Việt, 2009, tr. 1-13). Hiện nay, chế định TNHS pháp nhân không chỉ được thiết lập trong pháp luật hình sự của các nước phát triển mà còn được thừa nhận rộng rãi nhiều nước ở Á, Mỹ Latinh…Với một nước có nền kinh tế chuyển đổi, khi đã chấp nhận chế định TNHS pháp nhân, đồng nghĩa chúng ta bên cạnh việc tiếp thu các quan điểm của khoa học pháp lý hiện đại, cần phải đổi mới về tư duy liên quan đến hệ thống khoa học luật hình sự truyền thống, tạo lập hành lang pháp lý để thỏa mãn tiêu chí hội nhập.

  * Giảng viên Đại học Duy  Tân, Đà Nẵng

1. Địnhnghĩa này do PGS.TS Ngô Huy Cương dịch. Xem: Ngô Huy Cương, 2015, tr.1-16)

tài liệu tham khảo

[1]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật hình sự Phần chung, Nhà xuất bản công an nhân dân, Hà Nội.

[2]. Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự Phần chung, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

[3]. Trịnh Quốc Toản (2011), TNHS pháp nhân trong pháp luật hình sự, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[4]. Ngô Huy Cương,“Bình luận các qui định về pháp nhân trong Dự thảo BLDS sửa đổi”, Tài liệu hội thảo chế định pháp nhân trong Dự thảo BLDS sửa đổi, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 3/2015.

[5]. Kenneth W. Clarkson, Roger LeRoy Miller, Frank B. Cross (2014), Business Law: Text and Cases, 13th Edition, Published by Cengage Learning.

[6]. Nguyễn Ngọc Điện (2010), Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[7]. Ngô Huy Cương (2017), Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, thị trường tội phạm và TNHS của pháp nhân: ba vấn đề lớn phải quan tâm khi xây dựng bộ luật Hình sự, Nghiên cứu Lập pháp, Số 10, tr. 28-37.

[8]. Xaca Vaca và Tori Aritdumi (1995), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[9]. Ngô Huy Cương (2015), Bình luận các quy định về pháp nhân trong Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi), Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề sửa đổi BLDS 2005, tr. 38 – 49.

[10]. Hoàng Trí Ngọc (2015), Một số vấn đề về lý luận về TNHS của pháp nhân, Nghiên cứu Lập pháp, Số 23, tr. 37 – 44.

[11]. Michael C. Jensen, William H. Meckling (1976), Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure, Journal of Financial Economics, October, V. 3, No. 4, pp. 305-360.

[12]. Phạm Bích Học, Mai Thanh Hiếu (2007), Trách nhiêm hình sự cúa pháp nhân theo luật hình sự cộng hoà Pháp, Luật học, Số 8, tr. 69-75.

[13]. Trịnh Quốc Toản (2003), TNHS pháp nhân theo Luật Hình sự Vương quốc Bỉ, Nhà nước và Pháp luật, Số 179, tr.53-60.

[14]. Trịnh Quốc Toản (2002), TNHS pháp nhân trong luật hình sự nước Anh, Khoa học (Kinh tế - Luật), Số 3, tr. 19-25.

[15]. Nguyễn Khắc Hải (2014),TNHS pháp nhân trong pháp luật Mỹ, Nghiên cứu lập pháp, Số 02+03, tr.110-117.

[16]. Trịnh Quốc Toản (2013), Vấn đề TNHS pháp nhân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Khoa học ĐHQGHN, số 29, tr. 142-150.

[17]. See Leigh (1977),The Criminal Liability of Corporations in Other Groups, Ottawa L.Rev., 247.

[18]. Bạch Ngọc Du (2016), Một số vấn đề về TNHS pháp nhân thương mại quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghề Luật, Số 4, tr. 39 - 43.

[19]. Hoàng Đức Cường (2017), Pháp nhân thương mại trong pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị,Nghiên cứu Lập pháp, Số 3, tr. 17-22.

[20]. Trịnh Tiến Việt (2009), TNHS và miễn TNHS: Những nội dung pháp lý - xã hội, Tòa án nhân dân, số 3, tr. 1-13.

[21]. Paul Blyschak(2014),Corporate Liability for Foreign Corrupt Practices under Canadian Law, McGill Law Journal, Revue De Droit De McGill, p.657-704.

22. Deluxe Black’s Law Dictionary, 1991, Sixth Edition, Western Publishing Company

27. United States v. Bank of New England, NA 640 F. Supp. 36 [1986])

 

TS.Phan Thị Nhật Tài & Trịnh Tuấn Anh*

 

đọc tiếp tin khác