Hotline: 0963538839

TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI THỰC HÀNH DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

Tóm tắt: Dân chủ là một phương thức quản lý xã hội, tồn tại như một cấu thành trong mỗi nền văn hóa. Do đó, văn hóa và dân chủ hẳn có mối quan hệ tương hỗ và cái này có thể quyết định lên sự tiếp biến, tồn vong của cái kia. Văn hóa Việt Nam ẩn chứa những cấu trúc gây khó khăn cho thực hành dân chủ tại nước ta. Trong phạm vi bài viết, các tác giả chỉ tập trung phân tích lối sống nông nghiệp ăn sâu hàng nghìn năm qua các sinh hoạt của người Việt Nam đang tác động như thế nào đến sự mở rộng dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

Từ khóa: Văn hóa nông nghiệp, dân chủ, thực hành dân chủ.

 

I. Đặt vấn đề

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam đã luôn lựa chọn dân chủ và nhà nước pháp quyền là hướng đi chung của quốc gia. Trên cơ sở đó, những chính sách đưa ra cũng đang cổ vũ cho mục tiêu chính trị này. Song, văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa ẩn chứa những cấu trúc gây khó khăn cho thực hành dân chủ. Đó là, lối sống gia trưởng trong gia đình tạo nên những ngộ nhận quá đáng về vai trò của nam giới. Việc thực hành đời sống trong những năm đầu đời của cá nhân ở trong gia đình cho kết quả là những đứa trẻ thấm đẫm tinh thần gia trưởng. Lối sống nông nghiệp tạo nên văn hóa tiểu nông đeo bám dân tộc hàng nghìn năm, mấy chục năm tiến hành công nghiệp hóa và đô thị hóa cho thấy, để thay đổi nếp sống này quả là khó khăn và lâu dài.

Dựa trên bối cảnh văn hóa, chính trị, kinh tế và xã hội, Việt Nam là quốc gia có những đặc thù sau: (i) Là một quốc gia Á – Đông, ảnh hưởng tư tưởng Nho – Khổng; (ii) Là quốc gia nông nghiệp lâu đời; (iii) Là quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi mạnh, nhưng GDP còn thấp (đạt 2.215 USD/người năm 20161); (iv) Là quốc gia đối diện với nhiều cuộc chiến tranh và hàm chứa nhiều yếu tố gây chia rẽ; (v) Là quốc gia có hệ thống chính trị một đảng; (vi) Là quốc gia ít ảnh hưởng bởi tôn giáo; nhưng các tín ngưỡng địa phương thì phổ biến và vô cùng nhiều màu sắc mê tín.

Với hiện trạng trên, triển vọng và thách thức đối với thực hành dân chủ ở Việt Nam hiện nay từ góc nhìn văn hóa sẽ bị chi phối bởi: lối sống nông nghiệp đặc trưng trên toàn quốc đang ảnh hưởng đến thực hành dân chủ như thế nào? Đó là sự quan tâm về tiến trình mở rộng dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền đang diễn ra ở nước ta hiện nay.

 

II. Tác động của văn hóa nông nghiệp đến thực hành dân chủ ở Việt Nam

Văn hóa Việt Nam được đặc trưng bởi văn hóa nông nghiệp. Khởi nguồn từ văn minh lúa nước, công nghiệp và các sản phẩm công nghiệp mới xuất hiện trên dưới một trăm năm nay, tập trung chủ yếu ở các thành phố. Chính vì vậy, dấu ấn văn hóa nông nghiệp và những tác động đến thực hành dân chủ ở những căn nguyên sau đây. 

2.1. Phẩm tính của người nông dân

Dù đã có những đổi thay về vật chất thì tính khí con người vẫn đậm nét tính khí của người nông dân. Thật vậy, những nét lưu truyền trong nòi giống Việt dễ thấy nhất ở những người nông dân, từ sức vóc, cách ăn mặc, đi đứng, tính khí và lễ nghi. Người nông dân có thể chất mạnh bạo, ăn mặc sơ sài, dãi dầu mưa nắng nhưng ít khi bệnh tật, đi đứng thì nhanh, lại mạnh lúc làm việc, nhưng lại nhút nhát trong giao tiếp. Những nếp ăn ở được truyền lại và giữ gìn qua nhiều thế hệ, tuy không bất di bất dịch (Đào Duy Anh, 2010, tr. 22 – 23). Ông Đào Duy Anh cho rằng, nói đến “thuần phong mỹ tục” là đặc sắc của xã hội nông dân, chứ thành thị thì xưa nay ai cũng cho rằng là nơi phong tục bị suy đồi (Đào Duy Anh,  2010, tr. 231). Có lẽ, theo cách tư duy này thì thành thị là nơi tiếp nhận sự thay đổi văn minh vật chất, sự giao thoa văn hóa trước hết trong một quốc gia, cho nên lối sống và tính cách cá nhân thường thoáng đạt hơn, khác hẳn với cuộc sống trì trệ nơi thôn dã.

Với đặc tính như vậy, xã hội Việt Nam trong lịch sử có một thời gian dài là một xã hội đóng kín với thế giới bên ngoài. Và nếu có biết đến nước nào ngoài nước Việt thì chỉ có Trung Quốc, hoặc Chăm-pa2, Lào, cùng lắm là Cam-pu-chia và Thái Lan. Người ta có thể phản biện là Việt Nam đã có sự giao lưu buôn bán với phương Tây từ sớm qua các cảng Hội An miền Trung, phố Hiến miền Bắc; hoặc các nhà truyền giáo qua ngả Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình. Tuy nhiên, sức ảnh hưởng của những đợt tiếp xúc văn hóa này không thấm gì vào văn hóa bản địa. Hơn nữa, thường gặp phải sự cấm đoán từ triều đình Việt Nam bấy giờ, nhất là đối với việc truyền Đạo Gia-tô (Công giáo La Mã). Mặt khác, xã hội phương Tây trước thế kỷ 18 cũng chưa thực hành lắm các nhân quyền và đời sống dân sự tự do, nên các giá trị này chưa gây ảnh hưởng gì nhiểu lên văn hóa Việt Nam.

Năm 1858 người Pháp chính thức đặt sự đô hộ lên nước Việt bằng vũ lực, đây là cách họ đưa văn hóa phương Tây vào nước Việt không lấy gì làm tốt đẹp. Hoặc chỉ để làm lóa mắt giới cầm quyền và giới nhà giàu với văn minh phương Tây, hoặc đào tạo ra các trí thức mang nhân sinh quan phương Tây, nhằm ủng hộ cho chính sách thuộc địa của người Pháp. Theo hoà ước 1884, chế độ cai trị của Pháp được phân biệt tùy miền. Nam kỳ thuộc địa, Bắc kỳ bảo hộ, Trung kỳ trú sứ. Nhưng trên thực tế cả ba miền đều bị chung dưới ách đô hộ như nhau. Mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp. Sau khi chiếm Việt Nam và Lào, Cam-pu-chia, Pháp thiếp lập chế độ thuộc địa chặt chẽ. Lúc đầu mỗi xứ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Lào, Cam-pu-chia) có một viên thủ hiến lo việc cai trị... Đến năm 1887 Pháp thiết lập phủ Toàn quyền để thống nhất việc cai trị toàn vùng Đông Dương. Tại mỗi xứ, cắt đặt như sau: Thống Đốc Nam kỳ, Khâm Sứ Trung kỳ, Khâm Sứ Cam-pu-chia, Thống Sứ Bắc kỳ, Thống Sứ Lào. Các viên chức này đều phải theo lệnh của viên Toàn Quyền. Dân chúng Việt Nam bị đầy đoạ khốn cực, bị bóc lột tận cùng, phải chịu khổ nhục để phục vụ lớp quan đô hộ. Hơn thế nữa, chế độ thực dân dùng mọi cách để phá huỷ cơ cấu văn hoá Việt (Phạm Xuân Khanh – Phạm Thị Tuyết Mai, 2015). Điều này gây nên hậu quả là nông thôn và nông dân Việt Nam lúc này bị sốc văn hóa, mọi phản ứng tức thì là căm hận và bài trừ văn hóa Pháp. Công cuộc xâm lược của người Pháp vào Việt Nam rõ ràng không thể mang lại sự tiếp biến văn hóa cho người Việt đến “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”, là những giá trị thúc đẩy nền dân chủ tự do như ở phương Tây. Như vậy, vua chúa và giới nhà giàu trong mình đậm đặc cốt tính nông dân, nhưng bề ngoài thì học đòi lối sống phương Tây theo cách lai căng, mà ít sự chọn lọc để hấp thu những giá trị dân chủ, nhân quyền. Người nông dân thì nảy tâm lý khinh sợ “người Tây” nên chỉ biết thu mình lại để tồn tại.

Khác với trước kia, xã hội Việt Nam, con người Việt Nam bị động và thiếu hẳn tâm lý nhập cuộc vào đời sống toàn cầu thì ngày nay, ở Việt Nam người ta không còn kinh ngạc hay bài trừ văn hóa phương Tây là do quá trình hấp thu văn minh vật chất phương Tây hơn một trăm năm qua. Tuy nhiên, thái độ của người Việt trước văn minh phương Tây giống như một anh nông dân nhà quê lần đầu ra thành phố, trông cái gì cũng bắt mắt nhưng chẳng biết nó là gì? nếu có mua đồ thì cũng chẳng biết sử dụng nó vào việc gì?

2.2. Chủ nghĩa gia tộc

Chủ nghĩa gia tộc là một đặc tính của văn hóa nông nghiệp. Lý giải điều này không khó. Nền kinh tế nông nghiệp luôn đòi hỏi tập trung một lực lượng người làm đông đảo trước khi nó được cơ giới hóa như ngày nay (ngay cả ngày nay thì tỷ lệ cơ giới hóa trong nông nghiệp Việt Nam chưa cao3), cộng với nhân sinh quan lưu ấm nên các gia đình Việt Nam sinh nhiều con cái và sống quây quần trong làng, xã. Việc dựng vợ, gả chồng có phần nguyên nhân là để tăng thêm người lao động cho gia đình. Ông Đào Duy Anh nhận xét, từ thời đại phong kiến thượng cổ cho đến thời đại độc lập, lúc nào nước ta cũng lấy gia tộc làm bản vị xã hội. Đạo Nho – Khổng vì thế càng dễ dàng chi phối đời sống gia tộc Việt. Đó là tính gia trưởng. Trong gia đình, con em phải phục tùng gia trưởng; đối với quốc gia, nhân dân phải tòng quân chủ và trọng tôn ti trật tự trong xã hội (Đào Duy Anh, 2010, tr. 362). Điều này dẫn đến hai hệ quả sau:

Thứ nhất, vai trò của cá nhân kém nổi bật, chìm đắm trong gia tộc nên những luân lý đạo đức, chế độ văn vật, chính trị - pháp luật cũng đều lấy gia tộc chủ nghĩa làm gốc (Đào Duy Anh, 2010, tr. 363). Điều này gây cản trở lên mỗi cá nhân, họ không tự ý thức vị trí riêng biệt, các nhân quyền riêng có ở mỗi người. Xét rộng ra toàn thể quốc gia, mỗi cá nhân đều chịu hai áp lực, một áp lực từ gia tộc và một áp lực trung thành với vua chúa; kèm theo trật tự tôn ti khiến cho mỗi cá nhân lu mờ trước cộng đồng. Trải qua nhiều thời đại, trong các công việc chung, vua chúa và giới chức Việt Nam đã khéo léo lợi dụng phẩm tính này của người Việt. Về lâu dài đã làm mất đi động lực của xã hội, mặc cho các khẩu hiệu sáo rỗng về đoàn kết vẫn còn song không còn lợi ích của cá nhân, là cấu trúc của lợi ích cộng đồng. Điều này lặp lại ở cuối mỗi chu kỳ của thời đại quân chủ, và gần đây nhất là thời gian nhà nước thực thi nền kinh tế kế hoạch hóa, dẫn đến khủng hoảng sâu rộng nền kinh tế quốc gia. Các nhân quyền của cá nhân luôn bị tước đoạt bởi quyền lợi tập thể, mà thực chất, thuộc về một nhóm nhỏ quyền lực. Các cơ hội thực hiện quyền dân chủ ở Việt Nam đã bị nén lại bởi hàng nghìn năm bản vị gia tộc.

Thứ hai, vì thực hành gia tộc chủ nghĩa trường kỳ thời đại nên việc đối đãi giữa những người cùng dòng dõi, thân thuộc đều lấy tình cảm làm trọng, câu tục ngữ: “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình” là một thí dụ được đúc kết. Thậm chí, cả việc buôn bán, giao thương cũng lấy lòng tin mà đối đãi, không hề cậy đến giấy tờ hay thủ tục pháp luật bảo đảm. Điều này khác hẳn với xã hội Tây phương, mọi việc cứ cậy nhờ bằng chứng và thủ tục tòa án mà giải quyết. Thời đại quân chủ, bằng chứng nước ta chỉ soạn luật hình, không thấy soạn dân luật để giải quyết. Những nhấn mạnh trên đã không tạo nên truyền thống dân chủ và nhận thức pháp quyền, khiến cho ngày nay Việt Nam khó thu được kết quả bỏ phiếu bầu cử đảm bảo các nguyên tắc dân chủ là một ví dụ có thể luận bàn.

2.3. Nhân sinh quan lưu ấm

Đây là một nhân sinh quan đặc sắc, nó khác lạ với các triết lý tôn giáo có mặt ở Việt Nam, chẳng hạn, triết lý Phật giáo đề cao quan hệ nhân – quả. Nhân sinh quan người Việt đặt mọi kỳ vọng vào con cái (nhất là con trai). Ở nhiều vùng hiện nay, khi người cha cao tuổi thường được người ngoài xưng hô gọi luôn bằng tên người con trai cả. Vì đầu óc người Việt không nặng nề về triết lý sinh tồn nên người ta có xu hướng trông đợi vào con cái, là những người thực tế sẽ nối nghiệp họ trong tương lai. Điều này tạo nên những cản trở trong thực hành dân chủ như sau: Thứ nhất, con cái, nhất là con trai trưởng, thường phải sống gần gũi với cha mẹ và rất ít khi ly hương khiến cho quá trình tiếp thu văn hóa bên ngoài khó khăn. Theo nguyên lý thì trong chế độ phụ quyền, người gia trưởng có quyền uy tuyệt đối ở trong nhà: gia trưởng có quyền sở hữu và quản lý tài sản của gia đình, vợ con phải làm lụng cho gia trưởng chứ không ai được dinh lợi về phần riêng; gia trưởng có quyền sở hữu đối với vợ con và có thể bắt đi làm thuê hay đem bán đi được; gia trưởng có quyền độc đoán về việc hôn nhân của con cái, và quyền sinh sát (Đào Duy Anh, 2010, tr. 117-19); Thứ hai, việc sinh tồn, kết hôn thường xảy ra trong nội tộc, điều này dễ dẫn đến khuynh hướng thế tập, độc tài; Thứ ba, các nghề nghiệp chỉ được truyền lại cho con trai, trong dòng tộc nên rất khó phát đạt ra ngoài, dẫn đến thương mại không phát triển; Thứ tư, sống vì con cái nên người Việt ít đòi hỏi cho bản thân; chăm sóc cho con cái, làm cho chúng ít cá tính độc lập, khó ý thức được quyền cá nhân; Thứ năm, các chiêm nghiệm về cuộc sống chủ yếu liên quan đến gia đình và nông nghiệp, ít chiêm nghiệm về chính trị và vũ trụ. Như vậy, chế độ gia trưởng trong gia đình người Việt có nguồn gốc từ chế độ tiểu gia đình phụ quyền với các chức năng cơ bản: kinh tế tự chủ, tái sản xuất sức lao động, bảo tồn nòi giống, thờ cúng, nuôi dưỡng, giáo dục, trao truyền các giá trị văn hóa của dân tộc, cân bằng tâm sinh lý và tình cảm (Nguyễn Văn Bốn, 2012).

2. 4. Tính thường tồn trong văn hóa

Dân chủ là thể hiện một đời sống dân sự trong hiện tại, tư cách của các thế hệ được tôn trọng và bình đẳng với nhau, đều có quyền mưu cầu hạnh phúc, điều này không hề xung đột với phát triển bền vững. Nhưng với dân tộc Việt, cái thường tồn là đặc tính thế hệ của văn hóa. Tất nhiên, nó có cả tính tích cực và tiêu cực. Biến đổi là một thuộc tính, đồng thời cũng là phương thức tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan. Tuy nhiên, sự biến đổi của các sự vật và hiện tượng không hề giống nhau và ngay trong một sự vật hiện tượng thì sự biến đổi cũng khác nhau ở mỗi nơi, mỗi lúc. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi văn hóa truyền thống trong gia đình Việt Nam như sự phát triển của khoa học kỹ thuật, kinh tế thị trường, truyền giáo, du lịch, hôn nhân dị chủng, di dân, nhu cầu của con người,… Văn hóa Việt Nam nói chung và các giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật trên. ‘Văn hóa không phải là một hiện tượng cố định mà trái lại sự chuyển biến về văn hóa là chuyện bình thường’ (Mai Văn Hai - Mai Kiệm (2011), Xã hội học văn hóa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.280). Bản thân văn hóa vừa có tính tĩnh, vừa có tính động.

“Các ẩn tàng văn hóa như giá trị, quan niệm, đức tin, thói quen, phong tục, cấm kỵ… theo thời gian và trong sự tương tác với các nền văn hóa khác, ở mức độ khác nhau, luôn thay đổi theo hướng chối bỏ và tiếp nhận, loại trừ và sáng tạo nhằm duy trì sự tồn tại, gia tăng sự phát triển và bảo toàn tính bản sắc của nền văn hóa đó”. (Đức Minh, 2008)

Tiếc thương quá khứ giúp cho dân tộc dần qua cơn hoạn nạn nhưng ở điểm này cũng giúp khôi phục lại những giá trị cổ truyền; và nó khiến cho văn hóa chậm thay đổi so với tiến trình văn minh phương Tây; biến thành tính thường tồn. Điều này được lý giải:

Thứ nhất, kể từ thời quân chủ độc lập thì văn hóa nước ta vốn ít nhiều đã ảnh hưởng bởi văn hóa Tàu, dấu chỉ Nho – Khổng vẫn còn dư lại sau cả trăm năm nước ta Âu hóa;

Thứ hai, thời đại trước đây, chúng ta hoàn toàn cách biệt với phương Tây do ngăn cách địa lý. Ngày nay điều này không còn đúng nữa mà văn minh vật chất phương Tây đã hoàn toàn lấn át và có sự khác biệt văn minh lúa nước của châu Á, nên nếu xảy ra xung đột thì hoặc là văn hóa ta phải tiếp biến văn hóa Tây, hoặc văn hóa ta sẽ tiêu biến hoàn toàn. Chúng ta phải theo kịp tiến trình văn minh vật chất phương Tây để tạo nền tảng cho văn hóa Việt tiếp biến và đóng góp vào văn minh chung của nhân loại. Chính vì lẽ đó, nông nghiệp được cơ giới hóa, một nền công nghiệp – kỹ nghệ thực thụ sẽ làm nhòa đi tâm lý vọng hồi. Chúng ta cần độc lập ở mỗi thời đại và chủ động trong các bước tiến của nhân loại, đó là điều kiện tiên quyết để dân tộc Việt còn là dân tộc Việt trong tương lai.

2.5. Tâm lý bài ngoại và tâm lý sính ngoại

Từ khi giành được độc lập từ nước Pháp năm 1945, nước ta rơi vào tâm lý hoài cổ, mong muốn gây dựng lại các giá trị cũ của dân tộc sau tám mươi năm lệ thuộc phương Tây. Nhưng thực tế cho thấy, chúng ta đang lạc hậu rất nhiều và nguy cơ bị mất nước một lần nữa hiển hiện trước mắt. Sự tiến thoái lưỡng nan này thể hiện qua hai dấu hiệu sau, và còn cho đến ngày nay:

Một là, tâm lý bài ngoại. Tâm lý này có nguyên nhân từ tổ chức xã hội Việt Nam theo thứ tự: “Cá nhân - Gia đình - Họ hàng - Làng xóm -Vùng (miền, xứ)-Đất nước. Nhà - Họ - Làng - Nước, có khi phân biệt, mà cũng có hòa hợp, y như quang phổ, tuy phân tích ra thì có bảy màu song chung lại nơi ánh sáng trắng” (Trần Quốc Vượng, 2010, tr.44-6). Trong cơ cấu tổ chức như trên, thì gia đình vẫn là chủ đạo, có vai trò quan trọng hơn làng và nước. Xã hội Việt Nam truyền thống, chính là sự mở rộng của gia đình. Nói đến gia đình Việt Nam thì phải nói đến làng xã Việt Nam, họ hàng, thân tộc, việc thờ cúng tổ tiên, chế độ hiếu hỉ. Tất cả làm thành một tổng thể khiến cho gia đình Việt Nam rất khác gia đình của một xã hội khác. Lại phải xét gia đình trong quan hệ với Tổ quốc. Truyền thống văn hóa Việt Nam không bao giờ xem quyền lợi gia đình đối lập lại với quyền lợi Tổ quốc. Trái lại, mặc dù có nhiều nhược điểm, gia đình Việt Nam chính là cái lò tạo nên tinh thần yêu nước của dân tộc (Phan Ngọc, 1998, tr.55, 56-7, 73-4). Các nhà nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn đều thống nhất rằng gia đình là: tế bào của xã hội; một thiết chế cơ sở, đặc thù của xã hội và bảo tồn nòi giống; tạo ra kinh tế; tổ chức đời sống tập thể; có chức năng giáo dục; thỏa mãn các nhu cầu tâm - sinh lý và tình cảm (Nguyễn Văn Bốn, 2012). Điều này dẫn đến hiện tượng cá nhân bị lu mờ, sợ những giá trị tự do và nguy cơ sụp đổ tôn ti trật tự trong xã hội hiện thời (những người bảo thủ Nho học). Song mặt trái của tâm lý này là không nhìn thấy những giá trị về nhân quyền phương Tây là những giá trị phổ quát đến từ những suy tư triết học sâu xa về nhân sinh quan người - người, nhân sinh quan người - Thượng Đế. Tâm lý bài ngoại xuất hiện nhiều ở lớp người đã có tuổi, là những người giữ gìn lối sinh hoạt truyền thống và ít cởi mở. Do đó, sự Âu hóa cần thêm thời gian để khẳng định kết quả trước những đột biến có thể xảy ra do địa vị kinh tế mang lại, mà Việt Nam có thể lựa chọn chứ không phải là định mệnh.

Hai là, tâm lý sính ngoại. Tâm lý này có ở thanh niên là những người năng nổ trong việc Âu hóa, nhưng lại thành ra những kẻ lai căng nên việc Âu hóa của họ không lấy gì làm tốt đẹp. Phần lớn họ xu theo văn minh vật chất phương Tây, nhưng không tìm thấy lối thoát nào cho quốc tộc cũng như cho chính mình. Một số người du học thì say mê với học thuyết của phương Tây mà đoạn tuyệt với văn hóa nguồn cội, còn những người chán chường với khoa cử trong nước thì lao vào những trò đàn đúm bề nổi. Đây là một nửa bức tranh xã hội Việt Nam cho thấy chúng ta bế tắc trong tiếp biến văn hóa suốt hai thế kỷ vừa qua.

Khó khăn cho thực hành dân chủ khi mà cả tâm lý bài ngoại và tâm lý sính ngoại đều là biểu hiện thái quá của những ứng xử văn hóa. Nguyên nhân của đứt đoạn văn hóa và đường đột thay đổi hai thái cực trên là do: (i) quốc gia chuyển đổi đột ngột đường lối cai trị và không còn duy trì biểu tượng quốc gia đoàn kết; (ii) sự thất học của quần chúng kéo dài trong suốt thời gian bị đô hộ; (iii) giáo dục nửa cuối thế kỷ 20 đến nay bị chính trị hóa làm nảy sinh tâm lý vọng ngoại để tìm lối thoát; (iv) thiếu hẳn những nhà văn hóa lớn và có tính thuyết phục; (v) văn minh vật chất của quốc gia không đủ để tạo một nền tảng cho cuộc tiếp biến văn hóa.

III. Kết luận

Như vậy, văn hóa chính trị có liên hệ chặt chẽ tới sự hình thành nên các thể chế dân chủ và hình thức nhà nước, đồng thời ảnh hưởng tới việc cải cách và mở rộng các quyền tự do. Văn hóa truyền thống có liên hệ chặt chẽ đến nhận thức của dân chúng về các quyền dân chủ, nó giúp cho cuộc cải cách dân chủ đạt được sự bền vững nội tại. Sự tiếp biến văn hóa đang xảy ra do quá trình giao lưu toàn cầu dẫn tới khả năng mở rộng thực hành dân chủ và hình thành nên các thể chế pháp quyền ở hầu hết các quốc gia châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh. Một số đặc điểm văn hóa Việt Nam gây khó khăn cho cuộc cải cách dân chủ. Về lối sống nông nghiệp định hình trong văn hóa Việt Nam đã hàng nghìn năm vẫn là một trở lực lớn và lâu dài. Trước hết, chúng tồn tại trong mỗi gia đình, định hình nên tính cách của mỗi người từ thuở bé. Các môi trường ngoài xã hội như nhà trường, bệnh viện, cơ quan, hội đoàn ở Việt Nam tạo nên các nhân vị bảo thủ, sống ích kỷ và thích nghi thực dụng. Các cải cách dân chủ ở Việt Nam cần gắn với quá trình công nghiệp hóa (để thay đổi sự phụ thuộc vào kinh tế nông nghiệp) và đô thị hóa (thay đổi lối sống nông nghiệp). Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của quá trình này như: mọi người ở nông thôn và thành thị đều có những cơ hội tìm kiếm việc làm, song các phương tiện truyền thông đại chúng cùng với kinh tế thị trường làm cho con người quá coi trọng đồng tiền và đề cao vai trò cá nhân nên đã tác động và làm biến đổi về lối sống như quan hệ nam nữ, lối sống thực dụng, lối sống ích kỷ cá nhân, giả dối, chuộng ngoại, thích hưởng thụ, coi thường tình cảm gia đình, xem nhẹ các giá trị truyền thống. Nhà nghiên cứu văn hóa người Pháp đã khẳng định rằng: ‘Gia đình Việt Nam vẫn là nơi chuyển giao và thực hiện các giá trị văn hóa truyền thống’ (Dẫn từ Hữu Ngọc, 2007, tr. 458-60). Triển vọng mở rộng thực hành dân chủ ở Việt Nam trong tương lai sẽ phụ thuộc vào các tiến trình như: phát triển kinh tế, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, sự phát triển của các hội đoàn tư nhân, cải cách giáo dục, vai trò của giới luật gia, giới trí thức Việt Nam, vai trò của người Việt Nam ở hải ngoại.

* Chủ nhiệm khoa Luật, Học viện Hành chính;      

** Giảng viên khoa Luật, Học viện Hành chính

  1. Theo Tổng cục Thống kê năm 2016.

  2. Là một quốc gia cổ từng tồn tại độc lập liên tục qua các thời kỳ từ năm 192 đến năm 1832. Cương vực của Chăm Pa lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn, Quảng Bình ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam và từ biển Đông cho đến tận miền núi phía Tây của nước Lào ngày nay.

  Theo đánh giá của nhiều nhà khoa học thì việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn quá yếu. Thống kê của Viện Cơ điện và công nghệ sau thu hoạch (Bộ NN&PTNT) cho thấy, mức độ trang bị động lực của nông nghiệp Việt Nam bình quân chỉ đạt 1,16 cv/ha canh tác, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có mức độ trang bị động lực cao nhất cả nước cũng chỉ đạt 1,85 cv/ha. Con số này chưa bằng 1/3 của Thái Lan (4 cv/ha), của Hàn Quốc (4,2 cv/ha) và chỉ xấp xỉ 1/5 của Trung Quốc (6,06 cv/ha); nguồn: http://www.mard.gov.vn/pages/news_detail.aspx?NewsId=19560&Page=2 (Truy cập lần cuối: 31/12/2017).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đào Duy Anh (2010), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Thời đại, Hà Nội.

2. Nguyễn Văn Bốn, Những biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình người Việt hiện nay, nguồn: http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-to-chuc-doi-song-tap-the/2344-nguyen-van-bon-nhung-bien-doi-cac-gia-tri-trong-gia-dinh-nguoi-viet-hien-nay.html (Ngày đăng: 20/12/2012; truy cập lần cuối: 31/01/2018).

3. Mai Văn Hai - Mai Kiệm (2011), Xã hội học văn hóa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

4. Phạm Xuân Khanh – Phạm Thị Tuyết Mai, Pháp xâm chiếm Việt Nam, nguồn: https://nghiencuulichsu.com/2015/07/01/phap-xam-chiem-viet-nam/ (Ngày đăng: 01/07/2015; truy cập lần cuối: 31/01/2018).

5. Đức Minh (biên soạn) (2008), Người Việt phẩm chất và thói hư-tật-xấu, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội.

6. Hữu Ngọc (2007), Lãng du trong văn hóa Việt Nam, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội.

7. Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội.

8. Trần Quốc Vượng (Chủ biên) (2010), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

9.       Website Tổng cục Thống kê: https://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=217

 

PGS.TS. Nguyễn Quốc Sửu   *

NCS. Nguyễn Quang Đức **Tóm tắt:

đọc tiếp tin khác