Để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, Việt Nam cần hòa mình vào thế giới đương đại

Đánh giá tác giả:
  1. Tóm tắt:

Lợi dụng các nước đang oằn mình chống virus Covid 19 (virus Vũ Hán), chính quyền Trung Quốc đã thành lập hai quận Hoàng Sa, Trường Sa mà họ đã dùng vũ lục quân sự cướp của Việt Nam năm 1974, sau đó vào năm 1988 và ở nhiều thời điểm khác nhau. Trung Quốc chọn đúng các thời điểm mà Việt Nam đối mặt với những khó khăn chồng chất hoặc về kinh tế hoặc về quân sự. Hành động của Trung Quốc một lần nữa cho thấy dã tâm của chính quyền Trung Quốc đối với chủ quyền, quyền chủ quyền của đất nước. Câu hỏi về chọn chủ quyền và hay chọn hữu nghị viễn vông, chọn ý thức hệ hay chủ quyền quốc gia trong quan hệ với quốc gia láng giềng quá tham vọng bành trướng và lắm âm mưu lại được đặt ra. Tuy khác nhau về thời điểm song trong lòng người dân Việt Nam vẫn đang sôi sục cảm xúc của cha ông trong thời điểm đất nước đứng trước sự xâm lược của quân Nguyên – đó là cảm xúc Diên Hồng. Sự lựa chọn mang sắc thái khác, những bối cảnh lịch sử khác song bản chất là một: Đối phó như thế nào với người hàng xóm suốt chiều dài lịch sử luôn tìm cách làm suy yếu và tiến tới thôn tính Việt Nam. Bài viết này chia sẻ góc nhìn về sự lựa chọn này.

Từ khóa: Biển Đông, tranh chấp, chủ quyền, Hoàng Sa, Trường Sa Taking advantage of countries buckling against the Covid 19 virus (Wuhan virus), the Chinese government established the Paracel and Spratly districts that they seized from Vietnam by military forces in 1974, then in 1988 and at other times. China chooses the right times when Vietnam faces increasing difficulties either economic or military. China’s actions once again show the Chinese government’s malice towards Vietnam’s sovereignty and sovereignty rights. The question whether to choose either unrealistic friendship with the neighboring country which always is ambitious to territorial expansion and has plenty of conspiracies again arises. Although in different time, the hearts of the Vietnamese people are boiling the feelings Dien Hong every time when the country was faced with the aggression from the outsiders. The choice was made in different moments, in different historical contexts but the essence is one: How to deal with the neighbor which throughout the history always tries to weaken and annex Vietnam. This article shares insights on this option.

Key words: South China Sea, disputes, sovereignty, Hoang Sa, Truong Sa

  1. Dẫn nhập

Một sự thực lịch sử là suốt trong hơn 4000 năm qua Trung Quốc luôn lấn át Việt Nam, họ đã từng xâm chiếm, biến Việt Nam thành quận huyện và cử người Trung Quốc sang cai trị gần 1000 năm. Đó là thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam. Trong khi nhiều dân tộc khác như Nữ Chân, Khiết Đan, Kim, Tây Hạ, Liêu, Mãn Thanh, Duy Ngô Nhĩ, Mông Cổ, Tây Tạng bị người Hán Trung Quốc đồng hóa hoặc thôn tính trở thành dân tộc thiểu số và đất đai của họ bị sát nhập vào lãnh thổ Trung Quốc, Việt Nam vẫn đứng vững và giữ được chủ quyền của mình. Mặc dù Trung Quốc thống trị ta trong suốt cả thời gian dài và sau khi Việt Nam giành độc lập từ thế kỷ thứ 9, các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh lại liên tục cất quân sang xâm lược nước ta nhưng dân tộc Việt Nam luôn đứng vững, buộc các triều đình phong kiến Trung Quốc chuốc những thất bại bị thất bại nhục nhã,

Gần đây nhất, năm 1979, sau khi xúi dục và cung cấp phương tiện trang thiết bị vũ khí cho Khơ Me Đỏ gây chiến tranh ở biên giới Tây Nam giết hại hàng vạn người dân vô tội. Quân đội ta đã phản kích, đánh bại Khơ Me Đỏ và giải phóng Căm Pu Chia khỏi chế độ diệt chủng. Bị thất bại thảm hại, để cứu nguy cho lực lượng này, Đảng Cộng sản, Chính quyền Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình cầm đầu đã đưa hơn 60 vạn quân tấn công toàn bộ tuyến biên giới của ta với mưu đồ đánh nhanh, thắng nhanh để tiến về Hà Nội và có thể còn tiến xa hơn nữa. Bị quân và dân ta chống trả quyết liệt, âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của trung Quốc bị thất bại thảm hại.

Đầu những năm 1990, trước sự lớn mạnh của Việt Nam và quan hệ Mỹ – Việt dần được cải thiện, Trung Quốc thấy cần bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Mục tiêu của việc cải thiện quan hệ về sâu xa là Trung Quốc không muốn Việt Nam có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với Mỹ, không muốn ở phía Nam Trung quốc và vùng biển Đông có sự hiện diện của Mỹ. Cũng như trước đây Trung Quốc không muốn Việt Nam kết thân với Liên Xô và có căn cứ quân sự của Liên Xô tại Việt Nam.

Sau khi bình thường hóa quan hệ từ năm 1991, hai nước đã xác định quan hệ theo phương châm “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” (năm 1999) và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” (năm 2005). Năm 2008 Việt Nam và Trung Quốc nhất trí thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, đây là khung hợp tác cao nhất trong quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới. Năm 2017, hai nước đã ký Bản ghi nhớ hợp tác về kết nối giữa khuôn khổ “hai hành lang, một vành đai” với sáng kiến “vành đai và con đường”. Tổng kim ngạch thương mại song phương năm 2018 đạt 106, 7 tỷ USD, 11 tháng 2019 đạt 105,75 tỷ USD, nhưng thường Trung Quôc xuất siêu sang ta từ 35% đến 45%. Tính đến tháng 11/2019 Trung Quốc có 2739 dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với tổng số vốn 16,1 tỷ USD đứng thứ 7/132 nước đầu tư vào Việt Nam, có khoảng 11000 lưu học sinh Việt Nam tại Trung Quốc và khoảng 2000 lưu học sinh Trung Quốc tại Việt Nam. Hàng năm có khoảng 5 triệu khách du lịch Trung Quốc đi Việt Nam.

  1. Tranh chấp biển Đông mà Trung Quốc tạo ra để độc chiếm biển Đông có thể gây ra chiến tranh không?

Điểm qua những số liệu trên để thấy Việt Nam và Trung Quốc cũng có những lợi ích đan xen nhau. Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc là quan hệ giữa 2 nhà nước, là 2 thị trường tiềm năng giải có khả năng tạo công ăn, việc làm cho hàng chục triệu người của 2 nước. Trong khi đó Trung Quốc có nhiều lợi ích hơn ta khi tỷ lệ xuất siêu sang Việt Nam của Trung Quốc sang Việt Nam chiếm khoảng từ 35% đến 45% của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Vì vậy việc xảy ra chiến tranh không chỉ là tổn thất của Việt Nam. Hơn nữa, Trung Quốc không có cơ sở pháp lý quốc tế để dùng vũ lực gây chiến, tiếp tục cướp các vùng biển, đảo còn lại của Việt Nam. Hơn nữa, bối cảnh quốc tế ngày nay cũng khác mặc dù Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới với tiềm lực quân sự khổng lồ và vũ khí hạt nhân. Những số liệu nếu trên góp phần nhận diện rõ ý đồ của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông. Trung Quốc luôn tìm mọi cách, mọi biện pháp, thủ đoạn kể cả sử dụng vũ lực để buộc Việt Nam phải phụ thuộc vào Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng như trong lịch sử, Việt Nam hiện tại cũng không bao giờ chấp nhận làm nô lệ cho dân tộc khác. Điều này thể hiện trong quyết tâm của chủ tịch Hồ Chí Minh trong câu trả lời cho phóng viên người Pháp rằng liệu Bắc Việt Nam có thể trở nên lệ thuộc vào Trung Quốc không? Không bao giờ “Jamais”. Câu trả lời được đưa ra trong thời gian ta đang cần sự giúp đỡ của Trung Quốc đề thực hiện cuộc chiến đấu nhằm thống nhất đất nước.

Trong cuộc Chiến tranh chống Mỹ thống nhất đất nước của Việt Nam, Trung Quốc tiếp tục vai trò là hậu phương lớn cho Việt Nam. Trung Quốc chi viện cho Việt Nam lương thực, vũ khí, đạn dược, quân nhu và nhu yếu phẩm cho Việt Nam. Trung Quốc cũng giúp ta đào tạo các phi công chiến đấu lái máy bay phản lực, những lớp phi công đầu tiên tham gia chiến đấu bắn rơi máy bay Mỹ như Trần Hanh, Phạm Ngọc Lan… được đào tạo tại Trung Quốc. Trung Quốc giành hẳn một sân bay tại Tường Vân Mông Tự để phi công ta tham gia các khóa huấn luyện nâng cao, chuyển loại. Những sự giúp đỡ kể trên cần được trân trọng và người Việt Nam luôn thể hiện lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Trung Quốc, những nhà lãnh đạo, những người cộng sản chân chính hết lòng ủng hộ sự nghiệp giành độc lập dân tộc và thống nhất của Việt Nam.

Trong một thế giới đầy biến động, chủ nghĩa dân tộc vươn lên ngự trị trên ở nhiều lĩnh vực, chủ thuyết và ứng xử của các lãnh đạo quốc gia lớn, lý tưởng quốc tế cộng sản chỉ còn là vỏ bọc để che dấu các hành vì áp chế các dân tộc khác. Các nước nhỏ sống bên cạnh nước lớn phải có những suy nghĩ thực tế về thời đại và vị thế của mình. Những người lãnh đạo của đất nước phải có tầm nhìn xa và nắm được xu hướng phát triển tất yếu của thế giới hiện đại.

  1. Những sự kiện trong quan hệ Việt Trung và bản chất của chúng

Việc Trung quốc, Liên xô và phe XHCN giúp Việt Nam trong cuộc chiến đấu với nước Pháp, nước Mỹ giành độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc là sự giúp đỡ đề chứng minh CNXH sẽ chiến thắng CNTB, đó là cuộc chiến giữa Lý tưởng cộng sản và lý tưởng tự do tư bản. Chúng ta không phủ nhận sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN. Có các chiến sĩ của quân đội Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên… đã đổ máu tại Việt Nam, vì tự do và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng ở cấp lãnh đạo, bên cạnh những người cộng sản chân chính, có những lãnh đạo vẫn đặt quyền lợi dân tộc mình cao hơn quyền lợi dân tộc khác một cách bất chấp. Lãnh đạo Trung Quốc trong Hiệp định Giơ ne vơ đã đàm phán trên lưng chúng ta khi lấy vĩ tuyến 17 là ranh giới chia cắt 2 miền Nam Bắc. Họ đã chuẩn bị sẵn kế hoạch lâu dài để Việt Nam phải phụ thuộc Trung Quốc, tạo vùng đệm giữa Trung Quốc với Mỹ và phương Tây, cũng như để độc chiếm Biển Đông. Trung Quốc biết rằng nếu Việt Nam Cộng hòa tồn tại với sự hỗ trợ của Mỹ, Trung Quốc sẽ không chiếm được quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa. Trung Quốc tính toán chờ cơ hội và chuẩn bị cơ sở pháp lý cho việc này.

  1. Năm 1958, Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải và đề nghị Việt Nam lên tiếng ủng hộ tuyên bố này. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký công văn gửi Chính phủ Trung Quốc vào ngày 14 tháng 9 năm 1958. Ngoài tranh thủ sự ủng hộ của Việt Nam, họ có ý đồ sử dụng công văn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như một văn bản pháp lý công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại biển Đông. Nhưng Trung Quốc đã nhầm. Trong công hàm đó nổi bật nội dung ‘triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”. “12 hải lý trên mặt bể” không gắn với bất cứ địa danh nào trên biển Đông, không xác định bất cứ khía cạnh pháp lý nào liên quan đến biển Đông. Việc tôn trọng hải phận 12 Hải lý là điều đương nhiên của một Quốc gia đã ký công ước Luật Biển. Cần khẳng định tại thời điểm Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký công văn, toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển bao quanh các quần đảo này đang thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Điều này được chính Hiệp định Giơ ne vơ quy định mà Trung Quốc là một nước đã tham gia ký Hiệp định này.
  2. Trung Quốc muốn Việt Nam phải tuân theo sự chi phối của Trung Quôc. Đây là những suy nghĩ không đúng tinh thần cộng sản. Họ không muốn có một Việt Nam độc lập, tự chủ đứng trong hàng ngũ các nước XHCN. Năm 1972, Mao Trạch Đông đã gặp Richard Nixon. Trong cuộc gặp này Trung Quốc đã gửi thông điệp “Nếu anh không đụng đến tôi thì tôi cũng không đụng đến anh”. Nắm được thông điệp này, Mỹ đã thực hiện phong tỏa toàn bộ đường biển của Việt Nam và ném bom ác liệt nhằm đưa Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá bằng máy bay B 52. Năm 1972, trong lúc Hà Nội bị ném bom rải thảm, Trung Quốc không Trung Quốc có những phản ứng mạnh mẽ như đối với các sự kiện khác. Thông qua việc này Trung Quốc muốn cho Lãnh đạo Việt Nam thấy cần phải nghe lời Trung Quốc, chỉ có Trung Quốc mới bảo vệ được Việt Nam. Rất nhiều hành động chính trị ngoại giao, cho thấy Trung Quốc muốn Việt Nam tiếp tục cuộc chiến tranh chống Mỹ, muốn Việt Nam đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Ngay từ năm 1967, trong báo cáo mật của Cục tình báo Trung ương Mỹ số CIARDP79R00967A001100030007-0 được giải mật năm 2005 đã đưa ra những nhận định tương tự. Báo cáo nêu rõ CIA tin rằng Trung Quốc sẵn sàng gây áp lực với Hà Nội, sẵn sàng gia tăng viện trợ kinh tế, quân sự, kể cả việc bố trí quân đội tại miền Bắc để Việt Nam tiếp tục cuộc chiến tranh. (CIA,1967) Tuy nhiên, Trung Quốc đã không thực hiện được ý định này nên tìm cách sử dụng Việt Nam cho ván bài xâm chiếm lãnh thổ. Năm 1974, tức là hai năm sau khi im lặng với việc Mỹ ném bom rải tham Hà nội, với sự ngầm chấp thuận của Mỹ, Trung Quốc đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa đang nằm trong quyền kiểm soát của chính phủ Việt Nam cộng hòa.
  3. Năm 1988 Trung Quốc tiếp tục dùng vũ lực chiếm 6 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, giết hại nhiều chiến sĩ của quân nhân dân Việt Nam những người không có vũ khí đang làm nhiệm vụ trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Suốt từ đó cho đến nay, cậy mình có lực lượng quân sự hùng mạnh, Trung Quốc luôn thực hiện các hành động có tính toán nhằm mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Trung Quốc đã ban hành nhiều lệnh cấm đánh bắt cá phi lý, đánh đập, bắt giữ, ức hiếp, phá nát, đâm chìm tầu đánh cá của ngư dân, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu ngư dân Việt Nam. Trung Quốc đã điều các tàu hải giám, tàu cá ngụy trang ngang nhiên cắt cáp và quấy nhiễu của các tàu nghiên cứu khoa học Việt Nam ngay trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam. Những hành động của Trung Quốc trái với pháp luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS.
  4. Năm 2009, Trung Quốc đưa ra Tuyên bố về chủ quyền của mình đối với vùng biển, các đảo nằm trong đường 9 đoạn bao gồm 80% biển Đông. Năm 2011, Trung Quốc đưa tàu Hải Giám cắt cáp của tàu Bình Minh 2 đang hoạt động trên vùng biển Việt Nam. Năm 2012, Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Vẫn chưa vừa ý vì đường 9 đoạn chưa chiếm hết biển Đông, Trung Quốc sửa lại bản đồ vào ngày 26 tháng 6 năm 2014 để bao gồm 90% biển Đông. Hoàng Sa, Trường Sa được đưa vào hệ thống đăng ký đất đai quốc gia của Trung Quốc mặc dù vẫn đang thuộc chủ quyền của Việt Nam. Hàng loạt các hoạt động bồi đắp nhân tạo, xây dựng căn cứ quân sự, trạm nghiên cứu, tập trận ở biển Đông được thực hiện với tần suất ngày càng cao hơn bất chấp sự phản đối của Việt Nam và dư luận quốc tế. Năm 2014, Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan 981 tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam đã gây nên một cuộc khủng hoảng tồi tệ trong quan hệ giữa 2 nước. Sự vi phạm trắng trợn của Trung Quốc khiến người dân Việt Nam vô cùng phẫn nộ. Tôn trọng và chủ trương duy trì quan hệ với Trung Quốc, các vị lãnh đạo Việt Nam một mặt đã lắng nghe, tiếp thu những tâm tư tình cảm của nhân dân và mặt khác đã có những phản ứng kịp thời, phù hợp, đúng luật pháp quốc tế nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc trên biển Đông. Việc hạ đặt giàn khoan tại vùng biển Việt Nam là sự lộng hành chưa từng thấy trong lịch sử quan hệ quốc tế, thực tiễn pháp luật quốc tế. Trung Quốc coi thường pháp luật quốc tế, coi thường pháp luật Việt Nam về biển đảo được ban hành phù hợp với pháp luật quốc tế. Trung Quốc đang thực hiện chính sách bá quyền, ngoại giao pháo hạm, cá lớn nuốt cá bé trong thế kỷ XXI, thể kỷ của pháp luật quốc tế dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của các quốc gia, bất kể lớn hay nhỏ.
  5. Tháng 7 năm 2019, Trung Quốc điều tàu HD 8 vào bãi Tư Chính thuộc vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam dưới danh nghĩa thăm dò địa chất, vi phạm pháp luật quốc tế bất chấp phản ứng của Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Tiếp đó, Trung Quốc tiếp tục cho tàu HD 8 xâm nhập vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam. Đáp trả phản ứng của nhiều nước trên thế giới, Trung Quốc trắng trợn tuyên bố rằng HD 8 đang hoạt động bình thường trong vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
  6. Bị Tòa án trọng tài Quốc tế bác bỏ vùng chủ quyền của Trung Quốc nằm trong đường 9 đoạn, năm 2020, lợi dụng đại dịch toàn cầu, Trung Quốc gây hấn ở biển Đông, bắt nạt các nước trong khu vực. Tàu hải cảnh Tung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam, xâm nhập lãnh hải philippin, xâm nhập vùng biển của Malaysia. Điển hình, Trung Quốc quyết định thành lập quận Hoàng Sa, Trường Sa với mưu toan thiết lập chủ quyền của Trung Quốc tại vùng biển bao quanh hai quận này và tiến tới thiết lập khu vực nhận dạng phòng không ADIZ ở khu vực này, đặt thế giới vào sự đã rồi. Những hành động này diễn ra trong lúc cả thế giới oằn mình chống dịch Covid 19 mà Trung Quốc là quốc gia có lỗi phần nào trong việc để đại dịch này xảy ra. Nhiều quốc gia đã lên tiếng phản đối Trung Quốc. Bộ Ngoại giao Mỹ đã ra tuyên bố trong đó nhấn mạnh: ‘Chúng tôi kêu gọi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa duy trì tập trung vào các nỗ lực quốc tế ứng phó với đại dịch toàn cầu, và chấm dứt khai thác sự mất tập trung hoặc dễ bị tổn thương của các quốc gia khác để mở rộng những tuyên bố bất hợp pháp của mình trên Biển Đông’.

Chính phủ Philippin cũng cực liệt lên án hành động của Trung Quốc và tuyên bố đất nước này không thừa nhận những tên gọi tự xưng thừa nhận Tam Sa và các đơn vị trực thuộc, cũng như mọi động thái phát sinh từ hành động này. Bộ ngoại giao Australia cũng bày tỏ quan ngại đối với hành động của Trung Quốc. “Điều quan trọng nhất bây giờ là các bên kiềm chế hoạt động gây mất ổn định, làm việc cùng nhau để giảm bớt căng thẳng, để các nước và cộng đồng quốc tế có thể dành toàn tâm, toàn ý trong việc chiến đấu với đại dịch Covid-19”.

Nhắc đến các sự kiện trên để thấy cần giải quyết như thế nào vấn đề biển Đông? tiếp tục quan hệ hữu nghị theo tình anh em đồng chí với phương châm 16 chữ vàng, 4 tốt để rồi thực chất nằm trong quỹ đạo của Trung Quốc hay quyết tâm hòa vào vào thế giới đương đại để xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh, đủ tiềm lực để bảo vệ vững chăc biên cương, vùng trời, vùng biển đảo của Tổ quốc với sự hỗ trợ của thế giới yêu chuộng hòa bình và công lý. Phân tích những hành động mà Trung Quốc đã thực hiện trên biển Đông từ các góc độ khác nhau cho thấy những kết luận cơ bản sau:

Thứ nhất, Trung Quốc muốn thực hiện giấc mộng Trung Hoa trên biển là biến mình thành cường quốc biển, điều mà họ chưa làm được trong 50 năm dưới sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc mặc dù ý đồ này đã xuất hiện từ lâu. Do sự lạc hậu về kinh tế và công nghệ nên Trung Quốc chưa thể thực hiện được ý đồ này. Trong hai thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã dần dần vươn lên trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới, có nền công nghiệp và quân sự hùng hậu. Thời cơ thực hiện giấc mộng Trung Hoa trên biển. Do trật tự thế giới đã được định hình, các vùng biển của các quốc gia được xác định khá rõ ràng theo pháp luật quốc tế, nhất là UNCLOS nên Trung Quốc không có nhiều lựa chọn. Vươn lên phía Bắc, Trung Quốc không thể đối đầu với Nga, Hàn Quốc. Bành trướng trên biển Hoa Nam Trung Quốc không dễ bắt nạt Nhật Bản. Chỉ còn biển Đông với các nước ASEAN yếu hơn là sự lựa chọn của Trung Quốc. Từng bước, từng bước Trung Quốc xâm chiếm biển Đông với sách lược biến cái không tranh chấp thành tranh chấp, biến cái đang tranh chấp thành của mình. Việt Nam là mục tiêu đầu tiên và chủ yếu nhất của kế hoạch xâm chiếm biển Đông. Thực tế, Việt Nam là quốc gia bị Trung Quốc cướp bóc nhiều nhất, đe dọa nhiều nhất trong số các nước có lợi ích chủ quyền đối với biển Đông.

Thứ hai, do trật tự pháp luật quốc tế trên biển được định hình sau chiến tranh Thế giới lần thứ II, nhất là với sự xuất hiện UNCLOS nên việc xâm lược trực tiếp bằng vũ lực như việc cướp đảo Hoàng Sa của Việt Nam không dễ thực hiện trong thế kỷ XXI. Cách để thực hiện giấc mộng Trung Hoa trên biển là sử dụng chiêu bài tạo bằng chứng lịch sử, yêu sách, đe dọa và gây sức ép dựa trên sự kết hợp các công cụ kinh tế, chính trị, ngoại giao và quân sự. Trung Quốc biết rõ là khó có thể thay đổi pháp luật quốc tế và tính bất hợp pháp của yêu sách đường lưỡi bò, đặc biệt là sau phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế trong vụ Phillipin kiện Trung Quốc nên các công cụ kinh tế, chính trị, ngoại giao quân sự được sử dụng chủ yếu. Tùy theo bối cảnh quốc tế, Trung Quốc sử dụng từng biện pháp với mức độ khác nhau theo chiến thuật “mềm nắn, rắn buông’. Chi Sta Romana, chuyên gia của Philipin về Trung Quốc đã đưa ra những phân tích xác đáng về phản ứng của Trung Quốc trong vụ kiện. Trung Quốc đã từ chối tham gia, phát động các chiến dịch truyền thông, ngoại giao, quân sự bôi nhọ Philipin là quốc gia khiêu khích, vi phạm chủ quyền, cô lập, đe dọa quân sự đối với Philipin bằng việc tăng cường lực lượng hải quân tại đảo Cỏ May. (Chi Sta Romana 2014) Trung Quốc cũng luôn tìm cách chia rẽ cộng đồng ASEAN. GS. Baladas Ghoshal (2014), giám đốc Hiệp hội nghiên cứu đại dương của Ấn Độ đã nhấn mạnh: Trung Quốc lợi dụng sự chia rẽ hiện nay của các nước ASEAN và chính Trung Quốc cũng góp phần vào sự chia rẽ đó bằng cách tạo ra những sự khác biệt trong tổ chức giữa các nước liên quan đến tranh chấp biển Đông và giữa các nước không có tranh chấp. Và đó chính là lý do tại sao Trung Quốc thích đối phó với vấn đề bằng tranh chấp song phương chứ không phải đa phương.

Thứ ba, Trung Quốc coi Việt Nam là vật cản đầu tiên và lớn nhất mưu đồ thực hiện giấc mộng Trung Hoa trên biển vì Việt Nam là quốc gia có nhiều cơ sở pháp lý quốc tế, quốc gia vững chắc nhất để bác bỏ yêu sách phi lý của Trung Quốc trên biển Đông. Khuất phục được Việt Nam là tiền đề quan trọng để khuất phục các nước có lợi ích chủ quyền đối với biển Đông gồm Philipin, Brunei, Indonesia, Malaysia. Bên cạnh mưu đồ giấc mộng, trong giai đoạn 1949- 2019 mà Đảng cộng sản cầm quyền, Trung Quốc luôn chủ trương làm Việt Nam suy yếu, buộc Việt Nam trở thành quốc gia lệ thuộc, chư hầu kiểu mới. Việc khiêu khích, xâm lược Việt Nam cả trên cạn và trên bộ với qui mô lớn và tần suất cao so với những gì diễn ra trong các thế kỷ đó, điều ít xảy trong thế kỷ XIX, nhất là trong giai đoạn Việt Nam là thuộc địa của Pháp. Chiến thuật của Trung Quốc là đặt Việt Nam trong tình trạng bất ổn, không phát triển thành một chốt chặn Trung Quốc như Hàn Quốc ở biển phía bắc, Nhật Bản ở phía nam.

Thứ tư, cần phải nhận thấy rõ rằng các hành động của Trung Quốc ở biển Đông từ việc xâm chiếm đảo Hoàng Sa, Trường Sa đến các hoạt động bồi đắp nhân tạo, thành lập các quận, các thành phố lấy tên Tam Sa đều là những vi phạm pháp luật quốc tế. Trung Quốc không đủ căn cứ để chứng minh cho những đòi hỏi về chủ quyền của mình ở Biển Đông.

  1. Việt Nam ứng phó như thế nào để không bị động trước mưu đồ của Trung Quốc

Thứ nhất, Trung Quốc luôn giữ tâm thế nước lớn, bao giờ cũng muốn các nước khác phải theo mình, sẵn sàng làm mọi thứ có lợi cho mình mà coi thường, chà đạp ích chính đáng, hợp pháp của dân tộc khác. Với tâm thế này cộng với phương thức quản lý, điều hành đất nước không dựa trên nền dân chủ, Trung Quốc không thể có được chính sách đối ngoại thân thiện, hữu nghị dựa trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của Việt Nam. Lấn chiếm trên bộ, xâm lược trên biển của Việt Nam diễn ra liên tục trong thời gian những người cộng sản Trung Quốc nắm quyền. Cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979 đã thể rõ ràng, đầy đủ chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam.

Thứ hai, Trung Quốc không chỉ bành trướng lãnh thổ, mà còn di cư ồ ạt những người thuộc dân tộc Hán đến các quốc gia khác và đang gây ra những vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị nhức nhối, dẫn đến phản ứng gay gắt về sắc tộc tại những khu vực này. Sự lủng đoạn của các băng nhóm người Hoa diễn ra ở Sihanoukville (Căm Pu Chia), ở Shri Lan Ka và nhiều nước khác cho thấy rõ con bài viện trợ và Hoa kiều trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Trung Quốc cho Shri Lanka vay song quốc gia này không trả được nợ. Trung Quốc ép chính phủ Shri Lanka cho thuê cảng Hambantota 99 năm (Báo điện tử VTV 2019), tương đương với thời gian mà triều đình nhà Thanh cho Anh thuê Hồng Kông. Sập bẫy nợ, Shri Lanka chịu mất chủ quyền đối với cảng Hambantota, nơi có vị trị quan trọng về quân sự nhiều hơn so với giá trị thương mại. Trung Quốc chi phối nền kinh tế Căm Pu chia bằng nhiều gói viện trợ hoàn lại hay các gói vay và nhiều dự án đầu tư. Kèm theo sự tăng trưởng ở các địa điểm của Trung Quốc tại đất nước này là sự gia tăng tội phạm và rối loạn trật tự xã hội. Điều này thể hiện rõ nhất ở cảng Xi ha nuc vin. Vào tháng 1 năm 2019, Thống đốc tỉnh Sihanoukville Yun Min đã viết thư cho Bộ trưởng Nội vụ Campuchia để nhấn mạnh vấn đề tội phạm ngày một gia tăng, ảnh hưởng tới giá bất động sản của người dân địa phương và sự bão hòa của lao động Trung Quốc trong lĩnh vực xây dựng. Ông cho rằng ‘Nó đem lại cơ hội cho mafia Trung Quốc thực hiện hành vi tội phạm’ (Zing.vn 2019)

Thứ ba, chế độ quản lý hà khắc, bóp nghẹt dân chủ, đàn áp nhân dân ở Trung Quốc, sự phân hóa giàu nghèo, mâu thuẫn sắc tộc, nhất là ở Tây Tạng, Nội Mông đang đặt Trung Quốc trước nhiều nguy cơ xung đột nội bộ. Tất cả những vấn đề này đang làm cho xã hội Trung Quốc bất ổn, đời sống người dân bất an. Điều đó cho thấy chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc còn không được lòng dân của họ. Trong những thời điểm như vậy, Trung Quốc tìm cách chuyển sự căng thẳng vào các cuộc xung đột cục bộ với các quốc gia láng giềng và kích động chủ nghĩa dân tộc để giảm nhẹ hoặc loại bỏ các xung đột nội bộ. Do vấn độc chiếm biển Đông vừa là mục đích trong trong giấc mộng Trung Hoa và đồng thời cũng là công cụ để thực hiện các chính sách của đất nước này. Giáo sư Katherine Morton, giám đốc Viện quan hệ quốc tế Trung Quốc, trường Đại học Shefield (Anh) đã nhấn mạnh.

Trên các khía cạnh pháp lý, chiến lược và chính trị trong định vị của Trung Quốc, có thể xác định ba động lực chính: đầu tiên, để mở rộng không gian chiến lược (zhanlüe kongjian) ở ngoại vi hàng hải để tăng cường phòng thủ quốc gia; thứ hai, để bảo đảm quyền của mình trong việc tiếp cận các nguồn tài nguyên hàng hải và cạnh tranh tại biên giới công nghệ; và thứ ba, để tận dụng vị thế đàm phán của mình trong bất kỳ thỏa thuận chính trị nào trong tương lai (Katherine Morton 2016)

Qua những phân tích trên, cần rút ra kết luận rằng trong quan hệ đối với Việt Nam, màu đồng chí, ý thức hệ không hề tồn tại. Giới chức Trung Quốc theo hệ tưởng bành trướng, bắt nạt các quốc gia yếu hơn mình, đàn áp những người dân trong nước. Những điều này ó hoàn hoàn toàn xa lạ với các học thuyết tư, tưởng của chủ nghĩa Mác Lê nin mà những giá trị nhân văn, tiến bộ của nhân loại. Jay L. Batongbacal (2014), Viện nghiên cứu các vấn đề hàng hải, Đại học Philipin chỉ rõ tính chất hai mặt trong chính sách của nước này đối với các quốc gia yếu.

Mặc dù nhiều lần đưa ra đảm bảo rằng Trung Quốc không đi lên và phát triển bằng cách chèn ép các nước láng giềng nhỏ yếu hơn và cũng không tìm cách trở thành nước bá quyền trong khu vực nhưng rồi việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 và đơn phương tiến hành khoan trên thềm lục địa Việt Nam đã gửi thông điệp hoàn toàn ngược lại.

Những hành động của lãnh đạo Trung Quốc đối với láng giềng chỉ cho thấy một lòng tham vô đáy, bành trướng, hung hăng. Việc che dấu dịch Covid 19, việc lạm dụng các cơ hội do đại dịch mang lại để bắt nạt hay mua chuộc các nước, thao túng thị trường vật tư y tế, thể hiện rõ bản chất đằng sau các chính sách, chiến lược quốc tế của Trung Quốc.

  1. Để Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam Việt Nam chỉ có một con đường là hội nhập với thế giới đương đại

Để bảo vệ chủ quyền của đất nước đối với Hoàng Sa, một phần Trường Sa đã rơi vào tay Trung Quốc và những phần lãnh thổ còn lại của Trường Sa chúng ta cần làm gì? Đây là câu hỏi khó cho tất cả những người Việt Nam yêu tổ quốc, yêu hòa bình, không muốn chiến tranh loạn lạc. Giải pháp được đưa ra tùy theo cảm nhận và mức độ thông tin của mỗi người, đặc biệt của các nhà lãnh đạo. Mong rằng trong thời đại của chúng ta không có người lãnh đạo nào mang trong mình dòng máu Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Hoàng Văn Hoan.

Việc thành lập hai quận đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Chính quyền Trung Quốc, chứng tỏ Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng cầm quyền không còn là một Đảng Cộng sản chân chính mà là đảng theo tư tưởng bành trướng, coi thường pháp luật quốc tế. Họ đã đơn phương xoá bỏ khẩu hiệu 16 chữ vàng và 4 tốt mà họ đề nghị ta cùng theo đuổi và thực hiện để gìn giữ quan hệ hai nước.

Vì vậy, việc giải quyết vấn đề chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam không thể giải quyết trên quan hệ hai Đảng, trên tình đồng chí mà cần giải quyết trên quan hệ giữa hai nhà nước độc lập có chủ quyền. Con đường dựa vào pháp luật quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để ngăn chặn bằng phương pháp pháp lý, ngoại giao để bảo vệ chủ quyền của đất nước. Tôi cũng hoàn toàn ủng hộ quan điểm là nếu buộc phải chiến đầu để bảo vệ chủ quyền đất nước chúng ta quyết không sợ. Không ít người cho rằng ta có vài chục chiếc máy bay thì Trung Quốc có hàng nghìn chiếc, ta có hai tàu ngầm thì Trung Quốc có hàng chục chiếc. Đấu làm sao với Trung Quốc được v.v. Chúng ta không phát động chiến tranh để bảo vệ chủ quyền song cũng không thể khoanh tay nếu bị tấn công như trong trường hợp Gạc Ma.

Khởi kiện Trung Quốc về hành vi vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông là giải pháp có thể thực hiện được. Khởi kiện Trung Quốc chính là ta đã hội nhập vào dòng chẩy của thế giới đương đại, thế giới của các nước phát triển và các nước đi trên con đường để tiến tới một xã hội thịnh vượng và dân chủ mà Trung Quốc rất sợ hòa nhập vào dòng chảy này. Philipin đã thực hiện việc khởi kiện này và đã thành công. Phán quyết của Tòa án trọng tài đã bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với 90% diện tích biển Đông. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HĐ 981 là cơ sở để Việt Nam khởi kiện cùng. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, Việt Nam đã không khởi kiện và cũng không đứng cùng Philipin khởi kiện Trung Quốc. Tôi cho rằng chúng ta đã bỏ qua cơ hội này và chính vì vậy Trung Quốc tiến hành nhiều hoạt động gây hấn, vi phạm vào các năm tiếp đó, điển hình là việc quấy rối ở bãi Tư Chính của Việt Nam năm 2019. Nhiều chuyên gia chuyên gia pháp luật quốc tế và Việt Nam đến mong muốn Chính phủ khởi kiện Trung Quốc ở thời điểm năm 2014 do Trung Quốc hạ đặt dàn khoan trong vùng biển mà Việt Nam có quyền chủ quyền theo pháp luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS. Baladas Ghoshal (2014) phân tích một số giải pháp mà Việt Nam có thể thực hiện để bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của mình ở biển Đông chống lại các hành động của Trung Quốc. Tuy nhiên ông nhấn mạnh lựa chọn hòa bình duy nhất còn lại là theo đuổi thủ tục trọng tài giống như Philipin đã đưa tranh chấp của mình với Trung Quốc ra Tòa trọng tài Thường trực ở La Hay. (Baladas Ghoshal 2014) Quan điểm của tôi ngay từ khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan là tiến hành khởi kiện hành vi vi phạm này. Vụ kiện thắng hay thua phụ thuộc vào nhiều yếu tố (Trần Sơn Lâm 2014). Không ai giám chắc đi kiện 100% là thắng, nhất là kiện một cường quốc là thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và khả năng gây sức ép nhờ các bẫy nợ rải khắp các quốc gia trên thế giới. Bản thân hội Luật gia Việt Nam cũng đã hai lần tuyên bố phản đối hành động của Trung Quốc và khẳng đỉnh cần kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế và nêu rõ nếu kiện chúng ta sẽ thắng. Tuy nhiên, xét ở phương diện pháp luật quốc tế, Việt Nam có nhiều cơ hội để thắng như Philipin. Dĩ nhiên, phán quyết của Tòa án quốc tế không làm cho Trung Quốc từ bỏ dã tâm xâm chiếm biển Đông. Tuy vậy, vụ kiện sẽ làm cho cộng đồng quốc tế thấy rõ hơn sự phá hoại luật quốc tế từ phía Trung Quốc và từ đó đoàn kết với Việt Nam trong trường hợp Trung Quốc sử dụng vũ lực chống Việt Nam ở biển Đông.

Xét ở khía cạnh về tiềm lực, việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ sẽ không hiệu quả nếu Việt Nam không lớn mạnh. Trong tương quan với Trung Quốc thì Việt Nam bao giờ cũng ở vị thế yếu hơn. Rõ ràng, trong tất cả các cuộc xâm lược của Trung Quốc từ thời cổ đại, trung đại và hiện đại, Việt Nam chưa bao giờ ở thế trên.

Tuy nhiên, người Việt Nam vẫn chiến thắng Trung Quốc vì họ là kẻ xâm lược. Điều quan trong là phải làm thế nào để tương quan về vị thế có sức nặng nhất định. Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapo hay Malaysia vẫn có sức nặng đáng dè chừng đối với Trung Quốc.

Để bảo vệ đất nước hữu hiệu phải xây dựng nội lực nhưng điều này còn chưa được quan tâm đúng mức. Việt Nam hiện nay dựa vào vay vốn và thu hút đầu tư nước ngoài làm hàng xuất khẩu để phát triển. Nội lực đi từ tri thức khoa học và xã hội. Điều này đòi hỏi chất lượng, tự do học thuật, học hỏi tiếp thu tri thức của thế giới, thu hút nhân tài để xây dựng các đại học và trung tâm nghiên cứu ưu tú để phát triển công nghệ. Không thể chỉ tập trung nhập công nghệ lỗi thời và hàng trung gian từ Trung Quốc và dùng lao động cơ bắp để chế tạo hàng xuất khẩu. (Vũ Quang Việt 2019)

Việc chúng ta khởi kiện Trung Quốc xâm lược, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, 7 bãi đá ở Trường Sa (năm 1988, 1995) và cả những hành động xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam như vụ giàn khoan HD 981 ra tòa án quốc tế việc là một việc làm rất cần thiết. Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, được Hiệp định Geneva công nhận và bản thân Trung Quốc đã ký vào hiệp định này. Tôi cho rằng, việc kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế cũng sẽ làm cho quan hệ của ta với Trung Quốc trở nên bình thường, bớt căng thẳng và không gây nên nguy cơ xung đột quân sự vì nếu Việt Nam và Trung Quốc không tự phân xử được thì để quốc tế phân xử. Trung Quốc có thể không tham gia vào vụ kiện này và có thể không chấp nhận mọi phán quyết của Tòa án Quốc tế, nhưng thế giới văn minh sẽ thấy rõ bản chất côn đồ, ngoài vòng pháp luật của Trung Quốc và uy tín quốc tế của họ sẽ xuống dốc.

  1. Kết luận

Tranh chấp trên biển Đông mà Trung Quốc tạo ra cùng với hàng loạt hành động vi phạm pháp luật quốc tế chống lại Việt Nam vẫn là vấn đề nóng trong quan hệ giữa hai nước. Đừng hy vọng sẽ có được thỏa thuận song phương với Trung Quốc theo đó Trung Quốc công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Việt Nam phải sử dụng những phương pháp khác nhau trong khuôn khổ ASEAN, trong khuôn khổ pháp luật quốc tế để giải quyết tranh chấp này. Khởi kiện Trung Quốc ở thời điểm này vẫn là điều Việt Nam có thể thực hiện. Như giáo sư Jay L. Batongbacal (2014) phân tích, khởi kiện Trung Quốc là cú bắn tỉa trong cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế mà tôi xin trích dẫn thay cho một phần kết luận.

Việc khởi kiện Trung Quốc thực sự và có thể, cũng phải rất cẩn thận, kiên nhẫn để xây dựng kế hoạch và thực hiện việc này như một tay thiện xạ ẩn nấp nhắm vào đạt mục tiêu khó khăn mà ở đó có nhiều chướng ngại.

Mặt khác, cần nhận thức đầy đủ rằng việc xây dựng Việt Nam hùng mạnh đủ sức bảo vệ chủ quyền biên giới, hải đảo đòi hỏi những người lãnh đạo có tầm nhìn và nhãn quan phù hợp và đi trước sự phát triển của xã hội, và luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên mọi lợi ích của phe nhóm, lấy dân chủ là động lực phát triển của xã hội. Trong thời chiến để chiến thắng cần có kỷ luật thép, nhưng trong hòa bình để phát triển cần huy động sức mạnh, trí tuệ và sự đoàn kết của của toàn dân tộc thuận theo dòng chẩy của thời đại.

Tài liệu tham khảo
1. Baladas Ghoshal 2014 ‘Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển của Việt Nam – Tại
sao và ý đồ gì?’ trong cuốn ‘Những khía cạnh pháp lý liên quan đến sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải
Dương 981 trong vùng biển Việt Nam’ tr 72
2. Jay L. Batongbacal 2014 ‘Việt Nam kiện Trung Quốc – Một cú bắn tỉa trong cơ chế giải quyết tranh chấp quốc
tế’ trong cuốn ‘Những khía cạnh pháp lý liên quan đến sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong
vùng biển Việt Nam’ tr 231
3. Theo Báo điện tử VTV số ra ngày 30/11/2019 <https://vtv.vn/the-gioi/sri-lanka-muon-thu-hoi-cang-cho-trungquoc-thue-99-nam-20191130141736663.htm>
4. Bộ Ngoại trưởng ngoai giao Phillipin. Tuyên bố ngày 30 tháng 4 năm 2020.
5. Bộ trưởng Ngoại giao Australia tuyên bố dẫn theo Báo Sydney Morning Herald 23 tháng 4 năm 2020
6. Nguyễn Thanh Ca 2020 ‘Biển Đông: Công hàm Phạm Văn Đồng dưới ánh sáng luật quốc tế’ Báo Pháp luật
nngày 5/5/2020 (truy cập ngày 5/5/2020)
7. https://www.cia.gov/library/readingroom/docs/CIA-RDP79R00967A001100030007-0.pdf
8. Catherine Morton 2016 ‘China’s Ambition in the South China Sea: Is a Legitimate Maritime Order Possible?’
internal Affair, 92: 4, 2016, p.936
9. Chi Sta Romana 2014 ‘Phân tích phản ứng của Trung Quốc đối với vụ kiện ra tòa trọng tài quốc tế của Philipin’
trong cuốn ‘Những khía cạnh pháp lý liên quan đến sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong
vùng biển Việt Nam’ tr 187-204
10. Theo Zing.vn ra ngày 14/1/2019 <https://zingnews.vn/bang-dang-trung-quoc-de-doa-nam-quyen-kiem-soattinh-cua-campuchia-post946123.html> (cập nhật ngày 6/5/2020)
11. Trần Sơn Lâm 2014 ‘Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ: Chọn ý thức hệ hay quốc gia dân tộc’ Giáo dục điện từ
online số ra 30 tháng 6
12. Trần Sơn Lâm 2014 ‘Với Trung Quốc chúng ta đừng lo bát nước đầy hắt đi’ Báo giáo dục điện tử online ngày 4
tháng 6.
13. Vũ Quang Việt 2019 ‘Nhìn về tương lai Trung Quốc và Việt Nam’ Thời báo Sài Gòn số ra ngày 3/1/2019 https://
www.thesaigontimes.vn/td/283671/nhin-ve-tuong-lai-trung-quoc-va-viet-nam-.html (truy cập 6/5/20120)

Trần Sơn Lâm

(Nguyên là người lính chiến trường thời kỳ chống Mỹ, nguyên sỹ quan quân đội, nguyên hàm vụ trưởng Vụ Khoa giáo – Xã hội Văn phòng Chính phủ.
Bài viết thể hiện quan điểm nhất quán của tác giả trước những vi phạm của Trung Quốc đối với chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông. Quan điểm của tác giả được thể hiện trong các bài viết đăng ở các tạp chí khác nhau năm 2014 khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 ở vùng biển của Việt Nam năm 2014)

Theo Tạp chí Pháp luật và Phát triển số 3 + 4/2020

(sao chép, dẫn nguồn phải được sự đồng ý bằng văn bản của Ban biên tập)

Tin cùng chuyên mục