Hoàn thiện quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế Việt Nam

Đánh giá tác giả:

1. Đặt vấn đề

Quá trình hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng cộng với việc di dân ngày càng diễn ra mạnh mẽ đã làm phát sinh trên thực tế ngày càng nhiều các mối quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Điều chỉnh pháp luật đối với các mối quan hệ hôn nhân và gia đình đã trở thành một yêu cầu cấp thiết bởi vì khi một quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phát sinh sẽ kéo theo hiện tượng nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia điều chỉnh mối quan hệ đó. Việc giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được thực hiện bằng cách xây dựng và áp dụng các quy phạm xung đột, bao gồm: Các quy phạm xung đột quốc nội do từng nước xây dựng và quy phạm xung đột quốc tế trong các điều ước quốc tế do các nước thỏa thuận ký kết.

Hệ thống quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế Việt Nam điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã không ngừng được hoàn thiện trong thời gian gần đây. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành thay thế cho Luật hôn nhân và gia đình 2000, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, đã bổ sung nhiều quy phạm xung đột chọn luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, vẫn còn những quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa có quy phạm xung đột điều chỉnh: Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung phân tích những vấn đề này và đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật.

  1. Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài

Theo Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2013), Bành Quốc Tuấn (2017), quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế Việt Nam điều chỉnh 6 vấn đề đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: Giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn; Giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn; Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng; Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng; Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ giữa cha, mẹ và con; Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, một phần của quan hệ vợ chồng nói chung là một quan hệ phức tạp rất phức tạp vì liên quan đến mối quan hệ mang tính chất cá nhân giữa vợ chồng với nhau, trong đó xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng là vấn đề quan trọng nhất. Theo Nông Quốc Bình & Nguyễn Hồng Bắc (2006), “quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng mang yếu tố tình cảm, gắn liền với bản thân vợ chồng, không thể chuyển giao cho người khác”.

Chính vì vậy, việc điều chỉnh pháp luật đối với mối quan hệ này yêu cầu phải phù hợp với các yếu tố thuộc về văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng dân cư như: phong tục, tập quán, lối sống, đạo đức, các quy tắc ứng xử, … Cũng theo Nông Quốc Bình & Nguyễn Hồng Bắc (2006), để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ nhân thân giữa vợ và phải kết hợp các quy định pháp luật với quy tắc đạo đức, chuẩn mực xã hội. Xuất phát từ cơ sở như trên, pháp luật các quốc gia khác nhau thường có phương án rất khác nhau cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh từ các mối quan hệ nhân thân vợ chồng. Đối với quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài, sự khác biệt về phong tục, tập quán, lối sống, … sẽ làm phát sinh nhiều vấn đề cần được điều chỉnh bằng pháp luật để duy trì quan hệ cũng như hạn chế các hậu quả có thể phát sinh. Xuất phát từ tính chất quan trọng này, để đảm bảo tính ổn định của các quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, Tư pháp các nước đều xây dựng các quy phạm xung đột để xác định luật áp dụng điều chỉnh. Đối với những nước áp dụng hệ thuộc Luật quốc tịch để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến cá nhân (Pháp, Đức, Italia…) thì quan hệ nhân thân giữa vợ chồng sẽ được giải quyết theo pháp luật của nước mà vợ chồng mang quốc tịch.

Ví dụ: Điều 60 Luật Tư pháp quốc tế Bỉ 2004, Điều 11 Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp. Nếu vợ chồng không chung một quốc tịch thì pháp luật của nước người chồng mang quốc tịch sẽ được áp dụng.

Ví dụ: Điều 17 Luật tư pháp quốc tế của Ba Lan ngày 11-12-1965. Đối với những nước áp dụng hệ thuộc Luật nơi cư trú để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến cá nhân (Anh, Mỹ, Na-uy…) thì quan hệ nhân thân giữa vợ chồng sẽ do pháp luật nơi cư trú chính thức của họ điều chỉnh.

Đối với hệ thống pháp luật Việt Nam, các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên đều có các quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng của công dân hai nước liên quan. Hệ thuộc chủ yếu được ghi nhận trong các hiệp định là Luật quốc tịch (Lex patrae) hoặc hệ thuộc Luật nơi cư trú (Lex domicilii) hoặc thường trú của vợ chồng. Một số hiệp định áp dụng kết hợp cả hệ thuộc Luật quốc tịch cà hệ thuộc Luật nơi cư trú.

Ví dụ: Điều 26 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào; Điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Liên bang Nga. Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Tiệp Khắc (cũ), Việt Nam và Cuba, Việt Nam và Hungary, Việt Nam và Bungari, Việt Nam và Ba Lan, Việt Nam và Lào.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, đến thời điểm hiện tại chưa có trường hợp nào áp dụng các quy định của Hiệp định tương trợ tư pháp để xác định luật áp dụng điều chỉnh một quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài liên quan đến Việt Nam vì phần lớn các trường hợp khi giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài có liên quan đến công dân Việt Nam đều áp dụng pháp luật Việt Nam trực tiếp mà không xuất phát từ sự dẫn chiếu của các quy phạm xung đột trong các Hiệp định tương trợ tư pháp. Thực trạng này đã phát sinh từ giai đoạn áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 và tiếp tục cho đến hiện nay. Theo Hoa Hữu Long (2013), luật áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có khả năng là bất kỳ hệ thống pháp luật của quốc gia nào, kể cả pháp luật của nước ngoài và Việt Nam do kết quả dẫn chiếu của quy phạm xung đột. Kết quả tổng kết cho thấy trên thực tế ở nước ta chưa một Tòa án nào áp dụng pháp luật nước ngoài trong việc giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Điều này dẫn đến quy phạm xung đột của các Hiệp định tương trợ tư pháp đều không thể giải quyết vấn đề xác định luật áp dụng điểu chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài. Hiện nay, nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước đang được rà soát, thẩm định để đề xuất kế hoạch làm việc với quốc gia thành viên còn lại nhằm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

Ví dụ: Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Hungary, Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào … Điều này càng làm cho cơ hội áp dụng các quy phạm xung đột của Hiệp định tương trợ tư pháp để chọn luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng càng trở nên khó khăn.

Tóm lại, tham khảo kinh nghiệm lập pháp quốc tế cũng như quy phạm xung đột của các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên cho thấy để xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài có hai hệ thuộc được áp dụng phổ biến là Luật quốc tịch và Luật nơi cư trú của vợ chồng. Một số trường hợp ngoại lệ áp dụng luật quốc tịch của người chồng nếu vợ chồng khác quốc tịch hoặc áp dụng luật nơi vợ chồng thường trú nếu vợ chồng không có nơi cư trú chung. Mặc dù các quy phạm này chưa có cơ hội áp dụng trên thực tế nhưng phù hợp với các nguyên tắc của Tư pháp quốc tế cũng như hệ thống các quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế Việt Nam thường theo xu hướng áp dụng hệ thuộc Luật quốc tịch.

Đối với quy phạm xung đột trong văn bản pháp luật trong nước, đến thời điểm hiện tại chưa có bất cứ quy phạm xung đột xác định luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài. Theo Bành Quốc Tuấn (2013), vấn đề này đã tồn tại từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và vẫn không được giải quyết ở Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là đạo luật trực tiếp điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài hiện nay. Theo Bành Quốc Tuấn (2017), giải pháp đề xuất tạm thời cho vấn đề này là áp dụng quy định tương tự. Bởi theo Điều 6 về “Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan” và Điều 122 về “Áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” Luật hôn nhân gia đình năm 2014, pháp luật áp dụng có thể là luật Việt Nam (Luật hôn nhân gia đình và các quy định pháp luật khác có liên quan về tài sản, nhân thân…). Như vậy, trong trường hợp luật áp dụng giải quyết về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài là luật Việt Nam thì các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong nước sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, nếu được triển khai trong thực tế thì đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời và cho đến thời điểm hiện tại cũng chưa có trường hợp nào trên thực tiễn áp dụng pháp luật theo giải pháp đề xuất này.

Xuất phát từ tính chất quan trọng của vấn đề cũng như yêu cầu hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột trong Tư pháp quốc tế Việt Nam, việc bổ sung quy phạm xung đột xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn sắp tới. Về mặt thực tiễn, việc xây dựng quy phạm xung đột xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài liên quan đến Việt Nam ngoài việc đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc của Tư pháp quốc tế, còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ lợi ích của đương sự Việt Nam trong các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài (chủ yếu là đương sự bên vợ là công dân Việt Nam) bởi lẽ phần lớn các vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài đều xuất phát từ phía đương sự Việt Nam đơn phương nộp đơn khi bên chồng là công dân nước ngoài không có mặt tại Việt Nam. Về mặt kỹ thuật lập pháp, cần bổ sung quy phạm xung đột xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài vào Luật Hôn nhân và gia đình vì đây là đạo luật chuyên ngành điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình của Việt Nam hiện nay. Theo Bành Quốc Tuấn (2015), trong giai đoạn sắp tới Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục duy trì mô hình không ban hành đạo luật tập trung của Tư pháp quốc tế mà các quy phạm xung đột sẽ chứa đựng trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, bao gồm đạo luật chung là Bộ luật Dân sự và các đạo luật chuyên ngành. Như vậy, việc xây dựng và bổ sung các quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài vào Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp với xu hướng này.

Bên cạnh đó, về mặt kỹ thuật, cần xây dựng quy phạm xung đột hai bên (quy phạm xung đột hai chiều) để đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc áp dụng pháp luật của Tư pháp quốc tế. Theo Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ (2010), quy phạm xung đột một bên về lý thuyết sẽ tạo cơ hội cho pháp luật Việt Nam được áp dụng nhiều hơn nhưng khả năng này chỉ có thể xảy ra khi các bên chọn cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết vụ việc. Thực tiễn cho thấy giai đoạn Bộ luật Dân sự 2005, các quy phạm xung đột rất ít được áp dụng do đây là các quy phạm xung đột một bên, điều này làm cho các bên có liên quan, đặc biệt là bên nước ngoài, không chọn cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết vụ việc nên các quy phạm xung đột của Việt Nam không có cơ hội áp dụng vào thực tiễn. Tuy nhiên, đối với trường hợp vợ chồng có nơi cư trú chung tại Việt Nam thì xây dựng quy phạm xung đột một bên để áp dụng luật thực chất của Việt Nam. Điều này sẽ góp phần tăng cường khả năng kiểm soát các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài gắn bó chặt chẽ với Việt Nam. Về nguyên tắc xác định luật, Việt Nam là nước có truyền thống áp dụng hệ thuộc Luật quốc tịch nên ưu tiên áp dụng luật quốc tịch của vợ chồng. Những trường hợp khác sẽ áp dụng pháp luật nơi vợ chồng có nơi cư trú chung. Nếu vợ chồng có nơi thường trú chung tại Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam.

Tóm lại, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, việc bổ sung quy phạm xung đột xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài vào Luật Hôn nhân và gia đình với vị trí là đạo luật chuyên ngành sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.

  1. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài

Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, một phần của quan hệ vợ chồng nói chung, cũng là một quan hệ phức tạp rất phức tạp vì liên quan đến tính chất của mối quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Về mặt lý luận, trong Tư pháp quốc tế có nhiều quan điểm về tính chất của mối quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Theo Harry D. Krause & David D. Meyer (2003), về cơ bản có các quan điểm chính sau đây:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một quan hệ nhân thân. Quan điểm này xuất phát từ cơ sở lý luận, quan hệ hôn nhân là nguồn gốc làm phát sinh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Vấn đề tài sản vợ chồng, xét ở góc độ pháp lý, chỉ có thể đặt ra trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật. Khi quan hệ hôn nhân chấm dứt thì vấn đề tài sản giữa vợ chồng cũng phải chấm dứt theo hoặc chuyển sang tồn tại dưới một hình thức pháp lý khác. Vì vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, không thể xem quan hệ tài sản giữa vợ chồng như là một loại quan hệ tài sản thông thường và vì thế, phải có chế độ pháp lý riêng dành cho loại quan hệ tài sản này.

Quan điểm thứ hai cho rằng, quan hệ tài sản giữa vợ chồng, xét về mặt tính chất, không có gì khác biệt so với các quan hệ tài sản thông thường khác. Chính vì vậy, quan hệ tài sản giữa vợ chồng có thể áp dụng các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản thông thường khác. Quan điểm này làm phát sinh các chế độ tài sản khác nhau trong quan hệ vợ chồng như: Tài sản chung, tài sản riêng, tài sản đầu tư chung của vợ chồng…

Quan điểm thứ ba cho rằng, quan hệ tài sản giữa vợ chồng mang tính chất của một quan hệ hợp đồng. Trên thực tế, một số nước chấp nhận những hình thức chung sống gần giống với kết hôn dựa trên cơ sở “thỏa thuận tổ chức cuộc sống chung” (không phải là đăng ký kết hôn mà chỉ là đăng ký sống chung). Một số nước phương Tây, thậm chí còn chấp nhận cả quan hệ hôn nhân như một quan hệ hợp đồng. Vì vậy, chế độ tài sản của vợ chồng cũng chịu ảnh hưởng bởi các quy định về quan hệ tài sản trong hợp đồng.

Việc xác định tính chất của mối quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có ảnh hưởng quyết định đến việc xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ này. Xuất phát từ khác nhau về chế độ chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, pháp luật các nước khác nhau đều có cách giải quyết khác nhau đối với quan hệ tài sản vợ chồng có yếu tố nước ngoài từ đó làm phát sinh xung đột pháp luật trong chế định này. Để giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ tài sản giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài, pháp luật các nước quy định nhiều nguyên tắc khác nhau. Đối với các nước trong hệ thống Common Law và một số nước châu Âu khác, pháp luật không quy định riêng chế định về tài sản của vợ chồng mà chỉ áp dụng quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản nói chung để giải quyết. Trong trường hợp vợ chồng có tài sản ở nước ngoài thì áp dụng Luật nơi cư trú chính thức của vợ chồng để giải quyết xung đột pháp luật. Đối với các nước áp dụng Luật nhân thân ở châu Âu thì hệ thuộc Luật của nước mà vợ chồng cùng mang quốc tịch được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng (Điều 17 Luật tư pháp quốc tế của Ba Lan ngày 11-12-1965, Điều 94 Luật gia đình Bungari). Trong trường hợp vợ chồng không cùng quốc tịch thì Luật của nước nơi vợ chồng sống chung được áp dụng (Khoản 1, khoản 2 Điều 48 Luật Tư pháp quốc tế Liên bang Thụy Sĩ ngày 18-12-1987). Trong trường hợp vợ chồng không có nơi sống chung thì áp dụng Luật tòa án để giải quyết (Khoản 3 Điều 48 Luật tư pháp quốc tế Liên bang Thụy Sĩ ngày 18-12-1987). Đặc biệt, Tư pháp quốc tế nhiều nước đều quy định vợ chồng có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng điều chỉnh quan hệ tài sản giữa họ với nhau (Điều 52, 53 Luật tư pháp quốc tế Liên bang Thụy Sĩ, Điều 49 – 51 Luật tư pháp quốc tế Bỉ).

Đặc biệt, theo Jean Derruppe (2005), Tư pháp quốc tế của Pháp xem quan hệ tài sản có thể được xem là một “thỏa thuận ngầm” giữa vợ và chồng, do đó nó có thể được xem như một quan hệ hợp đồng và phải tuân thủ theo nguyên tắc chung của quan hệ hợp đồng, nguyên tắc tự do thỏa thuận. Vì vậy, luật áp dụng cho quan hệ tài sản trước hết là Luật do các bên thỏa thuận lựa chọn (Điều 1387 Bộ luật dân sự Pháp quy định: “Pháp luật không điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng nếu giữa vợ và chồng đã có thỏa thuận riêng mà vợ chồng cho là phù hợp và không trái với thuần phong mỹ tục hoặc trái với các quy định của luật này”). Trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận luật áp dụng thì áp dụng Luật của nước mà vợ chồng mang quốc tịch; Luật nơi thường trú hay luật nơi có mối quan hệ chặt chẽ nhất đối với tài sản của vợ chồng, tùy theo từng trường hợp cụ thể. Đây là nội dung của Công ước La Haye ngày 14-3- 1978 về luật áp dụng cho các chế độ tài sản trong thời kỳ hôn nhân được ký kết trong khuôn khổ Hội nghị La Haye về Tư pháp quốc tế (Convention of 14 March 1978 on the Law Applicable to Matrimonial Property Regimes) đã được chuyển hóa vào luật quốc gia của Pháp theo đạo luật ngày 27-10-1997.

Đối với Việt Nam, về mặt lý luận, pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam qua các thời kỳ đều không xem quan hệ tài sản vợ chồng là một quan hệ tài sản thông thường và vì thế, luôn có chế độ pháp lý riêng dành cho loại quan hệ tài sản này. Theo Nông Quốc Bình & Nguyễn Hồng Bắc (2006), pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qua các giai đoạn phát triển cho thấy Việt Nam chưa bao giờ quan niệm quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một quan hệ tài sản thông thường hoặc một quan hệ hợp đồng mà vẫn nặng về yếu tố nhân thân, tình cảm vợ chồng. Còn theo Nguyễn Ngọc Điện (2014), chế độ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hợp nhất nhưng trong trường hợp ly hôn, khối tài sản vợ chồng sẽ chuyển thành sở hữu chung theo phần có thể phân chia. Nói cách khác, Việt Nam không theo quan điểm nào trong ba quan điểm trình bày ở trên. Điều này có ảnh hưởng quyết định đến các quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh quan hệ tài sản vợ chồng nói riêng, quan hệ tài sản vợ chồng có yếu tố nước ngoài nói riêng.

Về nguyên tắc xác định luật điều chỉnh, hệ thuộc chủ yếu được ghi nhận trong các Hiệp định tương trợ tư pháp là hệ thuộc Luật quốc tịch (Lex patrae) hoặc hệ thuộc Luật nơi cư trú (Lex domicilii) hoặc thường trú của vợ chồng (khoản 1 Điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Liên bang Nga, khoản 1 Điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Ucraina). Ngoài ra, trong trường hợp hai bên không có nơi thường trú chung thì áp dụng Luật quốc tịch; Nếu vợ chồng không cùng quốc tịch thì áp dụng Luật nơi vợ chồng có nơi thường trú cuối cùng để điều chỉnh; Nếu vợ chồng không có nơi thường trú chung cuối cùng thì áp dụng Luật của bên ký kết nơi có Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, cũng tương tự như các quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài, các quy phạm xung đột của các Hiệp định tương trợ tư pháp điều chỉnh quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài chưa một lần được áp dụng trên thực tiễn. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này, theo Bành Quốc Tuấn (2016), là “trong những năm vừa qua hoạt động đàm phán, ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc tận dụng những yếu tố thuận lợi khách quan (điều này thể hiện rõ ở phần lớn các Hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây và được kế thừa cho đến ngày nay) mà chưa có một chiến lược toàn diện nhằm đánh giá yêu cầu thực tiễn để có kế hoạch đàm phán, ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp với những nước mà Việt Nam có yêu cầu lớn về tương trợ tư pháp”. Điều này dẫn đến tình trạng một số Hiệp định tương trợ tư pháp không áp dụng vào thực tiễn do không có nhu cầu, trong khi đó những nước có đông cộng đồng người Việt sinh sống, nhu cầu điều chỉnh cao thì chưa có hiệp định. Tóm lại, tham khảo kinh nghiệm lập pháp quốc tế cũng như quy phạm xung đột của các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên cho thấy để xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài có hai hệ thuộc được áp dụng phổ biến là Luật quốc tịch và Luật nơi cư trú của vợ chồng. Ngoài ra, các bên trong quan hệ vợ chồng được thoả thuận chọn luật áp dụng điều chỉnh quan hệ tài sản giữa họ với nhau.

Đối với văn bản pháp luật trong nước, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không có quy phạm xung đột nào về chọn luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài. Điều 130 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận; giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau: “Trong trường hợp có yêu cầu giải quyết việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận; quan hệ nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các quy định của Luật này và các luật khác có liên quan của Việt Nam để giải quyết”. Tuy nhiên, đây không phải là quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ tài sản vợ chồng.

Theo Bành Quốc Tuấn (2017), cũng tương tự như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài, có thể áp dụng Điều 6 và Điều 22 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài và giải pháp này cũng chỉ là tạm thời. Cần thiết phải xây dựng một quy phạm xung đột riêng để xác định luật áp dụng điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài có liên quan đến Việt Nam để đảm bảo lợi ích của các bên vợ chồng đối với tài sản.

Về mặt lý luận, như đã phân tích, Việt Nam chưa bao giờ quan niệm quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một quan hệ tài sản thông thường hoặc một quan hệ hợp đồng mà vẫn nặng về yếu tố nhân thân, tình cảm vợ chồng. Chính điều này đã dẫn đến trên thực tế có rất nhiều vụ việc ly hôn có tranh chấp tài sản vợ chồng rất phức tạp và khó giải quyết. Trong khi đó, pháp luật nhiều nước phương Tây quan niệm quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là quan hệ hợp đồng và cần phải minh bạch, rõ ràng ngay khi quan hệ hôn nhân bắt đầu. Chính vì vậy, để đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài liên quan đến Việt Nam cần thiết phải bổ sung quy phạm xung đột xác định luật điều chỉnh quan hệ pháp luật này.

Xuất phát từ tính chất quan trọng của việc xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài liên quan đến Việt Nam cũng như sự thiếu vắng quy phạm xung đột trong Tư pháp quốc tế Việt Nam, cần bổ sung quy phạm xung đột xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng có yếu tố nước ngoài cần bổ sung vào Luật Hôn nhân và gia đình. Hệ thuộc áp dụng xác định luật là hệ thuộc Luật quốc tịch của vợ chồng, nếu vợ chồng khác quốc tịch thì áp dụng luật nơi vợ chồng có nơi cư trú chung. Nếu vợ chồng có nơi thường trú chung tại Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, cần quy định vợ chồng có quyền thoả thuận chọn luật áp dụng cho quan hệ tài sản của họ và luật lựa chọn sẽ được áp dụng nếu đáp ứng các điều kiện chọn luật của Tư pháp quốc tế Việt Nam.

  1. Kết luận

Việc ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thay thế cho Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là bước tiến bộ của Tư pháp quốc tế Việt Nam nói chung, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng. Tuy nhiên, phân tích, đánh giá ở mức độ tổng quát vẫn còn nhiều quy phạm xung đột cần phải bổ sung liên quan đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài. Điều này sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài của Việt Nam nói chung, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:
1. Nông Quốc Bình & Nguyễn Hồng Bắc (2006), Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, tr. 172 – 235.
2. Đỗ Văn Đại & Mai Hồng Quỳ (2010), Tư pháp quốc tế Việt Nam – Quan hệ dân sự, lao động, thương mại có yếu
tố nước ngoài, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Nguyễn Ngọc Điện (chủ biên, 2014), Giáo trình Luật dân sự (Tập 1), Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, tr. 190.
4. Harry D. Krause & David D. Meyer (2003), Family Law (fourth edition), West Publishing Co., p. 69 – 102.
5. Hoa Hữu Long, Tổng quan pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành pháp luật liên quan đến quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài, Tham luận tham gia Tọa đàm “Về thực trạng Tư pháp quốc tế Việt Nam và kinh nghiệm Nhật
Bản”, Bộ Tư pháp tổ chức ngày 05/12/2013 tại Hà Nội.
6. Nhà pháp luật Việt – Pháp (2005), Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp (bản dịch tiếng Việt), Nhà xuất bản Tư pháp,
Hà Nội, tr. 16 – 17.
7. Jean Derruppe (2005), Tư pháp quốc tế (dịch từ tiếng Pháp), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 248 –
255.
8. John De Witt Gregory & Peter N. Swisher & Sheryl L. Wolf (2005), Understanding Family Law (third edition),
LexisNexis Group, p. 69 – 116.
9. Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2013), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà
Nội, tr. 357 – 403.
10. Bành Quốc Tuấn (2013), “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhận có yếu tố nước ngoài tại Việt
Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (21), tr. 28 – 34.
11. Bành Quốc Tuấn (2015), “Không ban hành đạo luật tư pháp quốc tế: Xu thế tất yếu của tư pháp quốc tế Việt
Nam trong giai đoạn sắp tới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (05), tr. 23 – 30.
12. Bành Quốc Tuấn (2016), “Đánh giá tổng quan các hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt nam với
một số quốc gia”, Tạp chí Quản lý nhà nước, (245), tr. 66 – 70.
13. Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội (Tái
bản lần 1 tháng 9/2017), tr. 399 – 401.

PGS. TS. Bành Quốc Tuấn

Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: quoctuan178@yahoo.com

Theo Tạp chí Pháp luật và Phát triển số 3 + 4/2020

(sao chép, dẫn nguồn phải được sự đồng ý bằng văn bản của Ban biên tập)

Tin cùng chuyên mục