Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm giải trình nhà nước

Đánh giá tác giả:

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình nhà nước là giá trị chung của quản trị công. Trách nhiệm giải trình được coi là một trong những giá trị cơ bản, là dấu hiệu của một xã hội dân chủ hiện đại. Giải mã các vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm giải trình nhà nước là điều cần thiết. Vì vậy, nội dung bài viết xoay quanh các vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm giải trình, trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước, mối quan hệ giữa trách nhiệm giải trình với pháp quyền và dân chủ.

Dương Thu Hương

Summary: State accountability is the common value of public governance. Accountability is considered one of the basic values, and as a sign of a modern democratic society. Decoding the theoretical issues related to state accountability is of essential. Therefore, the content of this article revolves around the theoretical issues related to accountability, governmental administrative agencies’ accountability, the relationship amongst accountability, the rule of law and democracy.

Từ khóa: trách nhiệm giải trình, hành chính nhà nước, trách nhiệm giải trình nhà nước.

Trách nhiệm giải trình là một từ khóa thường xuyên được nhắc đến trong lĩnh vực quản trị (Bovens, 2005). Trách nhiệm giải trình nhà nước là giá trị chung của quản trị công. Dù dưới chính thể dân chủ hay chuyên chế thì trách nhiệm giải trình vẫn luôn luôn tồn tại (Von Dornum 1997). Tuy nhiên, dưới hình thái nhà nước dân chủ thì trách nhiệm giải trình được thể hiện rõ nét và phong phú nhất. Do vậy, trách nhiệm giải trình được coi là một trong những giá trị cơ bản, là dấu hiệu của một xã hội dân chủ hiện đại (Fatemi và Behmanesh, 2012; Bovens, 2005). Công dân có quyền được biết hành vi nào đã được nhân danh họ, và họ cần có các biện pháp để khắc phục khi chính quyền hay những người nắm giữ quyền lực trong chính quyền có các hành vi lạm dụng quyền lực, bất hợp pháp, hay có các hành xử bất công. Công dân cần có khả năng yêu cầu nhà nước bồi thường khi quyền lợi của họ bị chính quyền xâm phạm (Peters, 2011). Với tầm quan trọng như trên, giải mã các vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm giải trình nhà nước là điều cần thiết. Vì vậy, nội dung bài viết xoay quanh các vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm giải trình, trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước, mối quan hệ giữa trách nhiệm giải trình với pháp quyền và dân chủ.

  1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm giải trình, trách nhiệm giải trình nhà nước

Trách nhiệm giải trình là một phương thức quan trọng để thực hiện quyền giám sát. Như một nguyên tắc mà Bentham – luật gia, nhà triết học người Anh thế kỷ 18 đã nêu “Chúng ta càng bị kiểm soát nghiêm ngặt thì chúng ta càng cư xử tốt hơn” (Hood, et al, 1999), điều này đã thể hiện sự cần thiết của trách nhiệm giải trình trong đời sống xã hội nói chung, đặc biệt trong vấn đề tổ chức quyền lực nói riêng. Chúng ta chẳng ai tự nguyện bị ràng buộc bởi trách nhiệm giải trình mà chỉ khi điều đó là bắt buộc, và sự bắt buộc đó được hỗ trợ bởi sức mạnh cưỡng chế (Butler, 2005). Vì vậy, trách nhiệm giải trình là một vấn đề mang tính thời sự không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Tính riêng từ năm 2001 đến năm 2006, từ khóa “trách nhiệm giải trình” đã xuất hiện trong 50 trên tổng số 70 dự thảo Luật được trình lên Quốc hội Mỹ trong vòng mỗi chu kỳ 2 năm (Bovens, 2005). Tổng thống Obama khi xây dựng dự thảo Luật Khôi phục và Tái đầu tư năm 2009 để đáp ứng với tình hình đại khủng hoảng kinh tế trên thế giới 2008, ông đã nêu ba mục tiêu chính, đó là: tạo thêm việc làm mới, thúc đẩy hoạt động kinh tế và nâng cao mức độ chưa từng có của trách nhiệm giải trình và minh bạch trong chi tiêu của Chính phủ (Rojas, 2012). Không chỉ riêng ở Mỹ, nhu cầu nghiên cứu về trách nhiệm giải trình đang diễn ra ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Trách nhiệm giải trình nhà nước (trách nhiệm giải trình công) đang là một chủ đề quan trọng trong cải cách hành chính công trên phạm vi toàn cầu (Christensen, 2011). Phần tiếp theo, bài viết sẽ đi vào nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về trách nhiệm giải trình và trách nhiệm giải trình nhà nước bao gồm các khía cạnh: định nghĩa, nguồn gốc và phân loại.

1.1. Định nghĩa trách nhiệm giải trình và trách nhiệm giải trình nhà nước

Thuật ngữ “trách nhiệm giải trình” (accountability) có vẻ như dễ hiểu và dễ dịch, nhưng định nghĩa cũng như sự giải thích về nó khác nhau tùy từng quốc gia khác nhau (OECD, 2011). Có một số quốc gia, “trách nhiệm giải trình” được giới hạn trong hệ thống liên quan đến nghĩa vụ báo cáo. Trong khi ở một số nền văn hóa khác, “trách nhiệm giải trình” bao hàm nghĩa rộng hơn, đó là: làm thế nào để những người được trao quyền lực phải chịu trách nhiệm cho những hành vi của họ (OECD, 2011). Nhiều học giả cũng cho rằng, khái niệm “trách nhiệm giải trình” là một khái niệm vô định và khó có thể có định nghĩa chính xác và phải được tiếp cận ở nhiều góc độ với đa dạng ý nghĩa khác nhau (Mulgan, 2000; Bovens, 2005; Considine, 2002). Bởi vậy, trách nhiệm giải trình có thể được nghiên cứu dưới góc độ y học, tài chính hay là được nghiên cứu như một khái niệm pháp lý, phạm trù đạo đức, ở phạm vi toàn xã hội hay chỉ giới hạn trong sắp xếp tổ chức (Ryan, 2019). Trách nhiệm giải trình theo định nghĩa của học giả Martha Minow nghĩa là: “chịu trách nhiệm trả lời trước cơ quan có thẩm quyền về việc thực hiện các hành vi được ủy quyền và chịu trách nhiệm về những sai phạm của mình” (Minow, 2003). Học giả Normanton lại đưa ra định nghĩa “trách nhiệm giải trình” bao hàm những khía cạnh rộng hơn: Trách nhiệm giải trình là việc công khai, giải thích và biện minh cho những gì đã làm, là cách để một người giải trừ trách nhiệm (Normanton,1971). Trách nhiệm này có thể bắt nguồn từ chính trị, hiến pháp, sự phân cấp hoặc hợp đồng (Osborne, 2002). Đồng quan điểm với Normanton và nhiều học giả khác ở khía cạnh giải thích, biện minh và tính chịu trách nhiệm, Mureinik và Price trong các bài viết của mình cũng cho rằng một chính quyền có trách nhiệm giải trình nghĩa là chính quyền đó có trách nhiệm giải thích, biện minh cho người dân liên quan đến các quyết định, hành động và hệ thống pháp luật mà nó ban hành, không những thế, cần phải có trách nhiệm với những hành vi đó (Mureinik, 1993; Price, 2015). Học giả Andreas Schedler lại đưa ra một khái niệm trách nhiệm giải trình thông qua một sơ đồ về mối quan hệ mà ở đó A có trách nhiệm giải trình với B nếu A có nghĩa vụ giải thích và biện minh cho hành động của mình trước B, hoặc nếu A có thể bị trừng phạt nếu cách cư xử hay sự giải thích liên quan đến cách cư xử đó không thuyết phục được B (Schedler, et al, 1999). Học giả Oakerson cho rằng người có trách nhiệm giải trình nghĩa là có trách nhiệm trả lời về hành vi hành động hoặc không hành động của mình, và tùy thuộc vào câu trả lời mà có thể bị gánh chịu hậu quả (cả tích cực và tiêu cực) (Oakerson, 1989).

 “Trách nhiệm giải trình nhà nước” trong cuốn cẩm nang trách nhiệm giải trình hướng tới thực hiện chương trình nghị sự 2030 được định nghĩa như sau: “Khái niệm trách nhiệm giải trình gắn liền với mối quan hệ giữa nhà nước và người dân, ở đó, nhà nước có nghĩa vụ giải trình về những việc làm của mình, cũng như người dân có quyền được nắm giữ trách nhiệm giải trình của Nhà nước”. Nghĩa vụ giải trình ở đây bao hàm ba thành tố chính: (1) tính trách nhiệm – nhà nước có trách nhiệm xác định rõ những nhiệm vụ, tiêu chuẩn thực hiện hoặc trách nhiệm thực hiện các hoạt động nhất định; (2) Khả năng trả lời – nghĩa vụ của cơ quan nhà nước cung cấp thông tin và lý do của các hoạt động của mình, đặc biệt là đối với những người bị ảnh hưởng bởi các hoạt động đó; (3) Khả năng thực thi – nhà nước cũng là một chủ thể chịu hậu quả hoặc chế tài cho những hoạt động của mình hoặc những sai phạm mà mình gây ra.(2) Ý kiến khác cho rằng, khái niệm trách nhiệm giải trình thực chất gắn liền với khái niệm đại diện. Trách nhiệm giải trình bắt nguồn từ chế độ dân chủ đại diện, đây là sự cam kết mà các chính trị gia thiết lập với công dân, là trách nhiệm định kỳ của các chính trị gia đối với cử tri, những người đã lựa chọn họ. Một chính quyền có trách nhiệm giải trình là khi các thể chế đưa ra buộc các cơ quan của chính quyền đó phải có trách nhiệm công khai, chứng minh và thậm chí có thể bị xử phạt liên quan đến các quyết định của chính quyền (Peruzzotti, 2011).

Về vấn đề này, các nhà khoa học Việt Nam cũng có những quan điểm khác nhau. “Trách nhiệm giải trình trong nền hành chính công là một thuộc tính của người được ủy quyền thực thi công vụ phải có nghĩa vụ giải thích và phải chịu trách nhiệm về những việc mình làm trước người ủy quyền và các bên có liên quan” (Phạm Duy Nghĩa, 2015). Với quan niệm này, trách nhiệm giải trình gắn liền với các chủ thể là người được ủy quyền, người ủy quyền và bao gồm hai khí cạnh, đó là “sự giải thích” và “tính chịu trách nhiệm”. GS.TSKH Đào Trí Úc (2015) cho rằng: Trách nhiệm giải trình được hiểu là nghĩa vụ báo cáo và chịu trách nhiệm về công việc, hoạt động của chủ thể quyền lực cho ai đó, cơ quan nào đó. Trách nhiệm giải trình sẽ đúng đắn và đẩy đủ nhất khi hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước bảo đảm được sự kiểm tra, kiểm soát quyền lực.

Ở đây, trách nhiệm giải trình là “sự báo cáo” và “tính chịu trách nhiệm” của chủ thể nắm quyền lực với người hay tổ chức khác. Cũng có quan điểm cho rằng, trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ là việc cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền chủ động hoặc thực hiện theo yêu cầu việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm đối với kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ trước người dân, xã hội và các cơ quan, tổ chức có liên quan (Nguyễn Quốc Hiệp, 2015). Với quan điểm này, trách nhiệm giải trình lại tập trung vào khía cạnh “cung cấp thông tin” và “tính chịu trách nhiệm”. Ở một khái niệm khác, trách nhiệm giải trình lại được hiểu ở một phạm vi hẹp hơn, trách nhiệm giải trình dường như chỉ là trách nhiệm cung cấp, giải thích thông tin: “trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước là việc thực hiện nhiệm vụ giải trình nhằm cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao…” (Phạm Hồng Quang, 2014).

Như vậy, nhìn chung, các định nghĩa nêu trên dù còn có những quan niệm khác nhau nhưng hầu như đều nhất quán ở quan điểm cho rằng trách nhiệm giải trình bao gồm hai thành tố chính đó là khả năng cung cấp thông tin, trả lời, giải thích và khả năng chịu trách nhiệm về các hành vi, việc làm của chủ thể này với chủ thể khác. Tổng hợp các quan điểm nêu trên, tôi đưa ra định nghĩa trách nhiệm giải trình và trách nhiệm giải trình của nhà nước như sau: Trách nhiệm giải trình là việc công khai, giải thích, biện minh cho các hành vi của chủ thế này với chủ thế khác, đồng thời gắn liền với đó là việc phải chịu trách nhiệm với các hành vi đó. Đi vào cụ thể hơn, trách nhiệm giải trình của nhà nước là nghĩa vụ công khai, giải thích, biện minh cho các quyết định, hành vi của nhà nước đối với các cá nhân và tổ chức và nhà nước phải chịu trách nhiệm cho các hành vi sai phạm của mình.

1.2. Nguồn gốc trách nhiệm giải trình nhà nước

Trách nhiệm giải trình của nhà nước có nguồn gốc từ cổ xưa. Roberts đã dẫn lời của một một học giả về nền dân chủ Hy Lạp cổ rằng: “dấu ấn của nhà nước Athen là sự quan tâm của họ đối với trách nhiệm giải trình của nhà nước” (Roberts, 1982). Ngay trước Công nguyên, trong chế độ nhà nước Athens, nhiều tổ chức đã có những quy định liên quan đến đảm bảo trách nhiệm giải trình (Von Dornum, 1997). Bất cứ người dân nào cũng có thể đưa ra khiếu nại đối với các hành động sai trái của công chức nhà nước, từ hành vi sai trái cho đến việc các chính sách kém hiệu quả (Von Dornum, 1997). Có thể lấy một ví dụ chứng minh cho một thiết chế cổ đại từ nhà nước Athens nhằm đảm bảo trách nhiệm giải trình đó là cơ chế “euthyna”. Từ euthyna trong tiếng Hy Lạp chỉ sự ngay thẳng trong hành động, cũng đồng thời chỉ thiết chế đảm bảo hoạt động đúng đắn của các công chức (Von Dornum, 1997). Cơ chế euthyna được manh nha hình thành từ khoảng thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, là một cơ quan kiểm toán công dành cho tất cả các công chức nhà nước, từ thủ quỹ cho đến thẩm phán, cho đến các tướng, không loại trừ bất kỳ ai (Roberts, 1982). Cơ chế euthyna hoạt động thông qua hai phương thức. Đầu tiên, mỗi cuối năm, mọi công chức phải đứng lên trước Hội đồng công dân và cung cấp thông tin về các hoạt động của mình tại cơ quan (Roberts,1982). Tại Hội đồng công dân này, bất cứ người dân nào cũng có thể lên tiếng đưa ra các cáo buộc chống lại các công chức của mình (Roberts,1982). Thứ hai, cơ chế euthyna hoạt động thông qua hội đồng kiểm toán (euthynoi). Nếu hội đồng kiểm toán nhận thấy rằng sự giải trình của một công chức chứa đựng sự không thật thà hoặc lời cáo buộc của người dân là có căn cứ thì người công chức đó sẽ bị truy tố và xét xử. Trong quá trình bị kiểm tra, quyền công dân của người công chức sẽ bị tạm thời đình chỉ. Một số quyền công dân bị đình chỉ phải kể đến đó là: họ không được tham gia vào các hoạt động chính trị, không được đi khỏi nơi cư trú, không được chuyển nhượng tài sản… (Roberts,1982). Họ chỉ được khôi phục lại các quyền công dân nếu các hành vi của họ trong năm trước đã được xem xét và tuyên bố là trung thực (Roberts,1982). Khía cạnh này có thể xem là một khía cạnh rất thú vị của cơ chế euthyna. Euthyna được coi là cơ chế khởi đầu cho sự thể hiện chế độ dân chủ ở Athens (Carawan, 1987). Cơ chế này đã khẳng định người Athens coi trọng tính trung thực, đúng đắn trong hành động của các công chức nhà nước như thế nào. Lịch sử cổ xưa về quan niệm trách nhiệm giải trình của người Athens cho thấy rằng việc đảm bảo trách nhiệm giải trình của công chức là nền tảng cho một chế độ quản trị công tốt. Sự tồn tại của trách nhiệm giải trình như một giá trị văn hóa, chính trị đã tạo nên nền tảng cho nền dân chủ Athens (Von Dornum, 1997). Trách nhiệm giải trình cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của chế độ dân chủ bởi trách nhiệm giải trình bao gồm ba yếu tố chính: Thứ nhất, tính đúng đắn, trung thực đảm bảo rằng các công chức sẽ hành động một cách thích hợp thông qua các cơ chế phòng ngừa và cơ chế loại bỏ (những công chức nào có các hành vi không phù hợp sẽ không còn được tiếp tục nắm giữ quyền lực). Thứ hai, tính minh bạch đảm bảo cho người dân có quyền biết được các công chức của họ đang làm gì, chính sự minh bạch này sẽ tạo động lực cho niềm tin vào chính quyền. Từ minh bạch sẽ dẫn đến yếu tố thứ ba của trách nhiệm giải trình, đó là tăng cường sự tham gia của người dân vào các hoạt động của chính quyền (Von Dornum, 1997).

Ý niệm về trách nhiệm giải trình đã xuất hiện từ chế độ Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên lý thuyết về trách nhiệm giải trình nhà nước được dựa trên cơ sở học thuyết về người ủy quyền và người đại diện (Principal-agent theory) (Gailmard, 2014; Ohad, 2007; Bovens, 2005). Những phân tích, đánh giá về trách nhiệm giải trình nhà nước đòi hỏi sự phân biệt ai là người phải chịu trách nhiệm giải trình với ai. Đây cũng là vấn đề cốt lõi của học thuyết về người ủy quyền và người đại diện. Trong mô hình học thuyết người ủy quyền và người đại diện, một hoặc một nhóm người (gọi chung là người đại diện) sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động thay mặt một người (hoặc một nhóm) người ủy quyền. Học thuyết cũng tập trung vào sự đáp ứng của người đại diện đối với các mục tiêu của người ủy quyền, và làm cách nào để sự đáp ứng đó được thực hiện thông qua các hành động của mỗi cá nhân cũng như thông qua các thể chế mà họ tương tác. Đó cũng là những vấn đề cơ bản cần nghiên cứu về trách nhiệm giải trình trong các thể chế chính trị.

1.3. Phân loại trách nhiệm giải trình

Trên thế giới có nhiều cách phân loại trách nhiệm giải trình khác nhau. Có những phân loại đi theo hướng phân chia trách nhiệm giải trình theo chủ thể trong mối quan hệ trách nhiệm giải trình và cũng có những phân loại đi theo hướng phân chia trách nhiệm giải trình theo tính chất, phạm vi.

Rick Stapenhurst và Mitchell O’Brien từ Viện Ngân hàng Thế giới phân chia trách nhiệm giải trình thành trách nhiệm giải trình theo hàng ngang và trách nhiệm giải trình theo hàng dọc; trách nhiệm giải trình pháp lý và trách nhiệm giải trình chính trị (Stapenhurst và O’Brien, 2008). Trách nhiệm giải trình hàng ngang là khả năng các kiểm soát sự lạm dụng quyền lực lẫn nhau của các cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, trách nhiệm giải trình hàng dọc là trách nhiệm giải trình thông qua đó người dân và xã hội có thể giám sát được hoạt động của chính quyền (Stapenhurst và O’Brien,2008). Đồng thời, tác giả cũng phân chia trách nhiệm giải trình thành hai loại: trách nhiệm giải trình chính trị và trách nhiệm giải trình pháp lý. Trong đó, tác giả đã lý giải rằng trong mối tương quan về quyền lực nhà nước, cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp hoạt động như là hai thiết chế có quyền yêu cầu trách nhiệm giải trình từ cơ quan hành pháp. Đây là trách nhiệm giải trình theo hàng ngang. Tuy nhiên, xem xét về yếu tố nội dung của trách nhiệm giải trình thì cơ quan hành pháp phải chịu trách nhiệm giải trình với cơ quan lập pháp về mặt chính trị và chịu trách nhiệm với cơ quan tư pháp về mặt pháp lý. Phân loại này xuất phát từ việc cơ quan lập pháp thực chất là một thể chế chính trị, còn cơ quan tư pháp thì chỉ xem xét tính hợp pháp của các hoạt động (Stapenhurst và O’Brien, 2008).

Đồng quan điểm với hai tác giả nêu trên nhưng ở tầm bao quát và đầy đủ hơn, Staffan I. Lindberg phân loại trách nhiệm giải trình theo ba khía cạnh, thứ nhất là nguồn của mối quan hệ trách nhiệm giải trình, thứ hai là phạm vi, mức độ trách nhiệm giải trình, thứ ba là chiều hướng của trách nhiệm giải trình (Lindberg, 2009). Trách nhiệm giải trình phân loại theo nguồn thì được chia thành nguồn từ bên trong và nguồn từ bên ngoài, ví dụ: trách nhiệm giải trình giữa cấp trên và cấp dưới trong một cơ quan liên quan đến các nhiệm vụ mà cấp trên giao cho cấp dưới thì được gọi là trách nhiệm giải trình bên trong vì nguồn của mối quan hệ này là từ bên trong nội bộ cơ quan; còn trách nhiệm giải trình giữa cử tri và người đại diện thì nguồn là từ bên ngoài, lúc này quốc hội hay chính phủ có trách nhiệm giải trình với cử tri. Trách nhiệm giải trình phân chia theo mức độ, được Staffan I. Lindberg phân chia phụ thuộc vào từng mối quan hệ, ví dụ: cơ quan kiểm toán tài chính sẽ thực hiện quyền kiểm soát và yêu cầu trách nhiệm giải trình ở một mức độ rất cụ thể dựa trên các quy tắc và quy định cụ thể, ngược lại, mối quan hệ trách nhiệm giải trình giữa cử tri và người đại diện sẽ ở một mức độ, phạm vi lớn hơn, bao gồm rất nhiều khía cạnh. Thứ ba, trách nhiệm giải trình phân chia theo chiều hướng của mối quan hệ, ví dụ: các cổ đông thực hiện hình thái trách nhiệm giải trình theo chiều dọc từ dưới lên khi họ nắm giữ quyền yêu cầu ban giám đốc chịu trách nhiệm giải trình về hoạt động của công ty; các chính trị gia thực hiện hình thái trách nhiệm giải trình theo chiều dọc từ trên xuống khi họ nắm giữ quyền yêu cầu các cơ quan hành chính nhà nước chịu trách nhiệm giải trình cho việc thực thi các chính sách mà họ đặt ra; cơ quan lập pháp tham gia giám sát nhánh hành pháp hoặc tòa án hiến pháp thực hiện việc xem xét các hành vi ban hành pháp luật của nhánh lập pháp, đây là việc các cơ quan này đang thực hiện hình thái trách nhiệm giải trình theo chiều ngang (tức là giữa các cơ quan ngang hàng) (O’Donnell, 1998). Từ ba khía cạnh nêu trên, Staffan I Lindberg đã đưa ra một bảng các loại trách nhiệm giải trình bao gồm 12 loại như sau (Gormley và Steven, 2004; Radin, và Barbara, 1996; Scott, 2000; Catalina và Peruzzotti, 2000; Grant và Robert (2005); Mulgan (2003); Schedler, et al 1999)

Ở Việt Nam, PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa chia trách nhiệm giải trình thành bốn loại xét từ bản chất các kênh xác lập giải trình, bao gồm: (1) trách nhiệm giải trình chính trị; (2) trách nhiệm giải trình hành chính; (3) trách nhiệm giải trình nghề nghiệp và (4) trách nhiệm giải trình xã hội (Phạm Duy Nghĩa, 2015). Dưới góc nhìn của tác giả thì trách nhiệm giải trình chính trị là trách nhiệm giải trình trước Đảng. Trách nhiệm giải trình hành chính là trách nhiệm giải trình trong nội bộ nền hành chính công (Phạm Duy Nghĩa, 2015). Trách nhiệm giải trình hành chính chia thành hai loại: trách nhiệm giải trình hàng dọc (giải trình giữa cấp dưới với cấp trên), trách nhiệm giải trình hàng ngang (giữa các cá nhân/tổ chức với các đơn vị khác có chức năng giám sát, thanh tra như: thanh tra nội bộ, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án).

Trách nhiệm giải trình nghề nghiệp: là trách nhiệm ngang hàng, nội dung là những hành vi chuyên môn, cần được giám sát bằng chuẩn mực chuyên môn thông qua các hoạt động của các hội đồng, hiệp hội. Ví dụ như: hội đồng khoa học đánh giá chuyên môn, các cuộc bỏ phiếu và lấy ý kiến trong cơ quan hành chính (Phạm Duy Nghĩa, 2015). Trách nhiệm giải trình xã hội là trách nhiệm giải trình của công chức và đơn vị hành chính đối với xã hội thông qua hoạt động tham vấn, lấy ý kiến người dân, tổ chức tiếp dân… (Phạm Duy Nghĩa, 2015).

Có thể nói, trong số các loại trách nhiệm giải trình nêu trên, có sự khác nhau hết sức quan trọng giữa hai loại trách nhiệm giải trình theo chiều dọc. Đối với loại trách nhiệm giải trình theo chiều dọc từ dưới lên, trong đó, cổ đông, người dân, tổ chức xã hội được coi là những người ủy quyền, sau khi trao quyền lực cho các chính trị gia, cơ quan nhà nước, hoặc lãnh đạo công ty, những người ủy quyền thực hiện quyền giám sát hoạt động của chính trị gia, cơ quan nhà nước, lãnh đạo công ty, và buộc những chủ thể này phải có trách nhiệm cung cấp thông tin, giải trình đối với những thành công hay thất bại trong các quyết sách của họ (đôi khi là cả những hậu quả từ những quyết sách đó). Nếu không hài lòng, người ủy quyền có thể xử phạt người được ủy quyền bằng cách loại bỏ họ khỏi vị trí hoặc đơn giản là vạch trần những thất bại hay những hành động không phù hợp của người được ủy quyền. Điều cuối cùng là làm sao để những người được ủy quyền phải đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của người ủy quyền.

Tuy nhiên, đối với loại trách nhiệm giải trình theo chiều dọc từ trên xuống thì nguyên tắc lại rất khác so với trách nhiệm giải trình theo chiều dọc từ dưới lên. Trong trường hợp này, những người ủy quyền ở quan hệ trách nhiệm giải trình theo chiều dọc từ dưới lên lại không liên quan trực tiếp đến mối quan hệ trách nhiệm giải trình. Thay vào đó, người được ủy quyền (chính trị gia, lãnh đạo cơ quan, lãnh đạo công ty lại là người nắm giữ quyền yêu cầu trách nhiệm giải trình từ các nhân viên cấp dưới, mục đích cuối cùng vẫn là đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi từ người ủy quyền, ví dụ: Thủ tướng (với vai trò là người ủy quyền) bổ nhiệm và chuyển giao quyền quyết định cho Bộ trưởng, Bộ trưởng (với vai trò là người ủy quyền) là người đứng đầu Bộ nắm quyền yêu cầu trách nhiệm giải trình từ các nhân viên của mình nhằm đáp ứng yêu cầu của Thủ tướng (là người được ủy quyền bởi Quốc hội hay nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước). Công chức nhà nước có trách nhiệm giải trình với lãnh đạo nhưng thực chất phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và phải hành động dựa trên cơ sở pháp luật và các quy định của nhà nước. Như vậy, các công chức nhà nước cấp dưới trong mối quan hệ trách nhiệm giải trình với cấp trên trong các cơ quan nhà nước thực chất không phải để đáp ứng nhu cầu của cấp trên, đặc biệt là khi các chỉ thị của cấp trên đi ngược lại với pháp luật và các quy định của nhà nước.

  1. Trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước

Tính trả lời và tính chịu trách nhiệm trong trách nhiệm giải trình được hình thành trong mối quan hệ “quyền lực”. Đó chính là một thể hiện của mối quan hệ quyền lực (Goetz và Jenkins, 2005). Tính trả lời và chịu trách nhiệm trong trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước bắt nguồn từ quyền lực nhà nước. Đây là cơ sở khoa học cho việc hình thành nhận thức về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước nói chung. Nhìn nhận vấn đề “trách nhiệm giải trình” từ khía cạnh quyền lực thì quyền hành pháp cũng chỉ là một bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước. Nói đến trách nhiệm giải trình của cơ quan hành pháp (hay hành chính nhà nước) là nói đến trách nhiệm giải trình của cơ quan này đối với cơ quan lập pháp và tư pháp.

 Liên quan đến vấn đề này, tác giả Anna Maria Goetz và Rob Jenkins đã lý giải về mối quan hệ trách nhiệm giải trình giữa cơ quan lập pháp và hành pháp được hình thành như sau: Thông thường, trong mối quan hệ trách nhiệm giải trình, bên có nhiều quyền lực hơn sẽ có trách nhiệm giải trình với bên ít quyền lực hơn. Trong xã hội, người dân bầu ra các lãnh đạo chính trị hình thành cơ quan lập pháp, từ đó hệ thống các cơ quan lập pháp sẽ giữ trách nhiệm giám sát hoạt động của các cơ quan hành pháp, một bộ phận nhỏ giữ trách nhiệm kiểm toán sẽ có quyền yêu cầu sự giải thích liên quan đến hoạt động của một bộ phận lớn các cơ quan công quyền khác. Các cơ quan có chức năng đảm bảo trách nhiệm giải trình được thiết kế ra để hỗ trợ cho bên ít quyền lực thực hiện quyền kiểm soát của mình (Goetz và Jenkins, 2005). Bên cạnh đó, nguồn gốc của trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước cũng bắt nguồn từ xung đột giữa đảng phái chính trị và chính quyền. Xung đột này nằm ở tính chuyên quyền của các nhà chính trị. Bất cứ lãnh đạo chính trị nào cũng muốn đảm bảo rằng cấp dưới của mình sẽ tuân thủ chính xác chính sách của anh/cô ta. Các chính sách này thường được ban hành dưới dạng pháp luật. Mặc dù các cơ quan hành chính (cơ quan thực thi pháp luật) cố gắng tuân thủ hoàn toàn với những gì mà các nhà lập pháp ban hành ra nhưng trong quá trình thực thi không thể tránh khỏi sự đi lệch chính sách ban đầu (Peter, 2014). Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, cơ quan hành chính có thể không muốn tuân thủ hoàn toàn trong quá trình thực thi pháp luật. Họ có các ưu tiên riêng và quan niệm riêng về những gì tạo ra chính sách tốt trong lĩnh vực của mình (Goodsell, 2011). Do vậy, cần phải có những biện pháp để đảm bảo trách nhiệm giải trình của nhánh hành pháp và các công chức nhà nước, buộc họ phải chịu trách nhiệm cho những hành động làm sai lệch chính sách của mình. Quan trọng hơn, sự cần thiết của trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính công không phải chỉ nằm ở việc đảm bảo thực thi các chính sách như mong đợi mà còn phải làm tăng hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này. Vì vậy, đảm bảo trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước ngày càng trở thành một vấn đề khó khăn phức tạp nhưng rất cần thiết (Mulgan, 2000; Considine, 2002).

Đối với mối quan hệ kiểm soát quyền lực giữa cơ quan hành pháp và tư pháp, cơ quan tư pháp thực hiện chức năng bảo vệ công lý và giám sát việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể trong xã hội, bao gồm cả cơ quan hành pháp. Cơ quan tư pháp lúc này đóng vai trò là cơ quan yêu cầu trách nhiệm giải trình từ cơ quan hành pháp về mặt pháp lý. Tức là, mọi hoạt động của cơ quan hành pháp cần phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật và đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật. Mặc dù ở nhiều quốc gia, việc bổ nhiệm thẩm phán ở Tòa án tối cao được thực hiện bởi người đứng đầu cơ quan hành pháp3 , tuy nhiên, điều này cũng không ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng của cơ quan tư pháp.

Cơ quan hành chính nhà nước dưới góc độ là người được ủy quyền, bên cạnh việc thực hiện trách nhiệm giải trình đối với chủ thể ủy quyền (bao gồm cơ quan quyền lực, người dân) thì còn phải có trách nhiệm giải trình đối với những đối tượng chịu tác động bởi những chính sách, quyết định mà cơ quan hành chính ban hành ra để thực hiện quyền lực nhà nước do nhân dân giao cho.

Từ những phân tích liên quan đến khái niệm chung về trách nhiệm giả trình nhà nước cũng như mối quan hệ kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước nêu trên, có thể thấy rằng, trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước và toàn bộ các cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước trong việc chịu trách nhiệm cung cấp thông tin, giải thích, trả lời về các hành vi hành động hoặc không hành động của mình (bao gồm: ban hành quyết định, chính sách, pháp luật, thực thi quyết định, chính sách, pháp luật…) và chịu trách nhiệm về các hoạt động đó.

  1. Trách nhiệm giải trình trong mối quan hệ với pháp quyền

Pháp quyền từ lâu đã trở thành giá trị phổ biến của xã hội. Ý tưởng về pháp quyền bắt nguồn từ rất lâu trong lịch sử, nhưng phải đến cuối thế kỷ thứ 19, thuật ngữ pháp quyền mới chính thức được nhà lập hiến người Anh Albert Venn Dicey sử dụng trong cuốn “Giới thiệu về nghiên cứu pháp luật Hiến pháp”, xuất bản năm 1885. Ông đã đưa ra những giải thích đầu tiên về nguyên tắc pháp quyền trong một nền dân chủ tự do đặt trong bối cảnh ở Anh thời bấy giờ. Theo Dicey, nhà nước pháp quyền bao gồm ba yếu tố liên kết với nhau: thứ nhất, pháp quyền đặt ra yêu cầu không ai phải chịu hình phạt ngoại trừ khi vi phạm các quy định của pháp luật, và tòa án là nơi thích hợp để xác định việc vi phạm pháp luật; (2) thứ hai, dưới nguyên tắc pháp quyền, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Điều này ngụ ý rằng chính phủ và các quan chức không được hưởng các quyền miễn trừ đặc biệt và cần phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước tòa án trên cơ sở pháp luật; (3) thứ ba, ở Anh, nơi mà không có một bản hiến pháp thành văn thì pháp quyền được công nhận bởi cơ quan tư pháp. Pháp quyền bao gồm các biện pháp bảo vệ các cá nhân khỏi các hành vi lạm quyền, độc đoán được thực hiện bởi chính quyền. Vì vậy, Tòa án được trao quyền để làm người giám sát việc thực thi các biện pháp đó (Anthony, 2012).

Một trong những yếu tố cơ bản để đạt đến nguyên tắc pháp quyền đó là tiếp cận công lý cho tất cả mọi người bất kể giàu nghèo, giới tính, tôn giáo. Nhưng pháp quyền không chỉ là vấn đề công lý mà đó còn là việc thúc đẩy các điều kiện cho phép người dân được thực hiện quyền làm chủ của mình. Đảm bảo nhà nước pháp quyền là đảm bảo pháp luật được thiết kế và thực thi nhằm bảo vệ quyền của người dân. Liên hợp quốc định nghĩa pháp quyền “là một nguyên tắc quản trị nhà nước trong đó tất cả mọi cá nhân, tổ chức, cộng đồng, từ công cho đến tư, bao gồm cả chính các cơ quan nhà nước, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Thứ pháp luật phải được ban hành công khai, được thi hành một cách công bằng, dưới chế độ xét xử độc lập. Pháp luật đó phải phù hợp với các quy chuẩn và tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế” (United Nations, 2012).

Pháp quyền cùng với minh bạch và trách nhiệm giải trình là ba trong số các đặc trưng của quản trị tốt. (4) Các đặc trưng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khác với nền quản trị truyền thống, lấy nhà nước là trung tâm, thực hiện quyền cai trị, ban phát các dịch vụ, trong khi người dân thụ động tiếp nhận dịch vụ, nền quản trị hiện đại lấy người dân làm trung tâm, nhà nước tạo điều kiện tích cực cho người dân được tham gia trong các quá trình quản lý nhà nước, từ ban hành cho đến thực thi chính sách và pháp luật (Đặng Minh Tuấn, 2019). Trong đó, quản trị tốt yêu cầu nhà nước cần có khuôn khổ pháp luật công bằng và pháp luật đó phải được thực thi một cách không thiên vị. Bên cạnh đó, trách nhiệm giải trình được coi là yếu tố cốt yếu của quản trị tốt. Không chỉ các cơ quan nhà nước mà các tổ chức xã hội và khối tư nhân cũng phải có trách nhiệm giải trình trước công chúng và đối tác. Trách nhiệm giải trình và minh bạch cũng như nguyên tắc pháp quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Pháp quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước cũng như người dân và các tổ chức xã hội tuân thủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật một cách công bằng. Đây là tiền đề cho việc thực hiện minh bạch và trách nhiệm giải trình. Muốn thực hiện minh bạch và trách nhiệm giải trình, trước hết cần tạo ra các khuôn khổ pháp luật để tạo điều kiện cho người dân và xã hội được quyền tiếp cận thông tin trong đó có các thông tin liên quan đến hoạt động của các cơ quan nhà nước. Đồng thời, cần tạo ra khuôn khổ pháp luật để đảm bảo nghĩa vụ minh bạch thông tin cũng như trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trước người dân và toàn xã hội. Không thể có trách nhiệm giải trình nếu thiếu sự minh bạch và nguyên tắc pháp quyền (Đặng Minh Tuấn, 2019). Ngược lại, trách nhiệm giải trình là động lực thúc đẩy hiệu lực, hiệu quả của cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan hành chính nhà nước nói riêng, từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình thực hiện chế độ pháp quyền.

  1. Trách nhiệm giải trình trong mối quan hệ với dân chủ

Như đã nói ở trên, trách nhiệm giải trình là một trong những giá trị cơ bản của nền dân chủ hiện đại, đặc biệt là dân chủ đại diện. Trong đó, nhân dân là người nắm quyền lực và là được coi là người ủy quyền chính yếu và tối cao. Nhân dân ủy thác quyền lực vào những người đại diện, đến lượt mình, người đại diện trực tiếp của người dân ủy thác quyền lực cho chính quyền trong việc thông qua, ban hành, soạn thảo và thực thi pháp luật và các chính sách với mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Từ các đảng phái chính trị tới cơ quan lập pháp cho đến người đứng đầu cơ quan hành pháp cho đến các Bộ trưởng, v.v. đã tạo nên một “chuỗi các đại biểu dân chủ” (Bovens, 2005). Với mô hình chuỗi các đại biểu này, mỗi người ủy quyền trong chuỗi sẽ có trách nhiệm giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ đã được ủy quyền bằng cách yêu cầu trách nhiệm giải trình từ người được ủy quyền. Trách nhiệm giải trình cung cấp cho công dân và đại diện của họ những thông tin cần thiết để đánh giá những hoạt động của chính quyền (Przeworski, et al 1999; Dowdle, 2006). Cuối chuỗi là người dân, những người có quyền đưa ra những phán quyết cuối cùng về cách thức quản lý của chính quyền bằng sự lựa chọn ở thùng phiếu. Vì vậy, trong mối quan hệ với việc thực hiện dân chủ, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước là điều kiện tiên quyết cho quá trình dân chủ hoạt động.

  1. Kết luận

Câu hỏi làm thế nào để đảm bảo trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng là một vấn đề đã thu hút sự chú ý, đàm luận của công chúng, các nhà làm chính sách và giới học giả ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trách nhiệm giải trình là yêu cầu thiết yếu không chỉ bởi vì nó hạn chế sự lạm dụng quyền lực của giới công chức nhà nước mà còn bởi nó làm tăng tính minh bạch trong hoạt động công quyền. Tính minh bạch ngược lại làm tăng sự hiểu biết, tin tưởng của công dân đối với chính quyền, đồng thời khuyến khích công dân tham gia vào các hoạt động của nhà nước. Trách nhiệm giải trình nhà nước bao gồm hai yếu tố chính đó là tính giải trình và tính trách nhiệm. Cụ thể, nhà nước có nghĩa vụ công khai, giải thích, biện minh cho các quyết định, hành vi của nhà nước đối với cá nhân, tổ chức và nhà nước.

  1. ThS, nghiên cứu viên, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
  2. TAP Network for 2030 Agenda, “SDG accountability handbook, A pratical guide for Civil society” [Mạng lưới TAP, “Câm nang trách nhiệm giải trình để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững], p.7-8, https://sdgaccountability.org/, truy cập lần cuối ngày 28/10/2019.
  3. Ví dụ như: Hoa Kỳ việc bổ nhiệm thẩm phán tòa án nhân dân tối cao được thực hiện bởi Tổng thống, với sự phê chuẩn của Thượng Viện, hay Singapore, tất cả các thẩm phán ở Tòa án tối cao đều được bổ nhiệm bởi Tổng thống với đề xuất của Thủ tướng (người đứng đầu cơ quan hành pháp).
  4. Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á và Thái Bình Dương thuộc Liên hợp Quốc, Quản trị tốt bao gồm 8 đặc trưng: sự tham gia, định hướng đồng thuận, trách nhiệm giải trình, minh bạch, sự kịp thời, hiệu lực và hiệu quả, tính bình đẳng không loại trừ chủ thể nào và tuân thủ pháp quyền. https://www.unescap.org/sites/default/files/good-governance.pdf (Truy cập lần cuối 3/2/2020).
Tài liệu tham khảo
1. Anthony, Valcke, 2012, The rule of Law: Its origins and meanings (A short guide for practitioners), Encyclopedia of Global Social Science Issues, ME Sharp publishing, Forthcoming, https://papers.ssrn.com/sol3/papers.
cfm?abstract_id=2042336 (Truy cập lần cuối 3/2/2020).
2. Bovens, M, 2005, “Public accountability”, in Ferlie. E et al (eds), The Oxford handbook of public management,
Oxford University Press, tr.182.
3. Butler, J., 2005, Giving Account of Oneself. New York: Fordham University Press, p.11.
4. Carawan, Edwin M., 1987, “Eisangelia and Euthyna: The Trials of Miltiades, Themistocles, and Cimon”, 28
Greek, Roman & Byzantine Stud (1987), tr.187-190.
5. Christensen, T. và Lægreid, P., eds, 2011. The Ashgate Research Companion to New Public Management.
Burlington: Ashgate.
6. Considine, M, 2002, ‘The End of the Line? Accountable Governance in the Age of Networks, Partnerships, and
Joined-Up Services’, Governance: An International Journal of Policy, Administration and Institutions, 15(1).
7. Dowdle, M. W. 2006. Public Accountability: Conceptual, Historical, and Epistemic Mapping, tr. 1–26 in Public Accountability: Designs, Dilemmas and Experiences, ed. M. W. Dowdle. Cambridge: Cambridge University Press.
8. Fatemi, Mahboubeh và Behmanesh, Mohammad Reza (2012), New Public Management Approach and Accountability, International Journal of Management, Economics and Social Science, Vol I(2), tr 47; Bovens, M (2005),
tlđd 1.
9. Gailmard, Sean, 2014, Accountability and Principal – Agent Theory, in Mark Bovens, Robert E. Goodin và
Thomas Schillemans, The Oxford Handbook of Public Accountability, Oxford University Press, tr.1;
10. Goetz, Anna Marie và Jenkins, Rob, 2005, “Reinventing Accountability Making Democracy work for human
development”, Palagrave Macmillan, tr.8.
11. Gormley, William T. Jr., and Steven J. Balla, 2004, Bureaucracy and Democracy: Accountability and Performance. Washington DC: CQ Press;
12. Goodsell, C. T., 2011, Mission Mystique: Belief Systems in Public Agencies. Armonk, NY: M.E. Sharpe.
13. Grant, Ruth W., and Robert O. Keohane, 2005, ‘Accountability and Abuses of Power in World Politics’, American Political Science Review 99(1) February, tr29-43;
14. Nguyễn Quốc Hiệp, 2015, Thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm phòng ngừa tham
nhũng ở Việt Nam hiện nay, Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Thanh tra, tr.20.
15. Hood, Christopher, Oliver James, George Jones và Tony Travers (1999) Regulation Inside Government:
Waste-watchers, Quality Police, and Sleaze-busters. Oxford: Oxford University Press, tr.19.
16. Lindberg. Staffan I. (2009), Accountability: the core concept and its subtypes, https://assets.publishing.service.
gov.uk/media/57a08b4740f0b652dd000bd6/APPP-WP1.pdf (Truy cập lần cuối 3/2/2020).
17. Minow, Martha, 2003, Public and Private Partnerships: Accounting for the New Religion, Harvard Law Review,
Vol.116, tr.1260.
18. Mulgan, R. 2000. “Accountability: An Ever-Expanding Concept?” Public Administration, 78: 555–73;
19. Mulgan, R, 2000, ‘Comparing Accountability in the Public and Private Sectors’, Australian Journal of Public
Administration 59(1), tr.87;
20. Mulgan, R, 2003, Holding Power to Account: Accountability in Modern Democracies. Basingstoke: Palgrave;
21. Mureinik, E, 1993, “Reconsidering review: Participation and accountability” Acta Judicia tr 35-36; A Cockrell,
1993, “Can you paradigm? – Another perspective on the public law/private law divide” Acta Judicia pp 227-247;
22. Phạm Duy Nghĩa, 2015, Quan niệm về trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ, chuyên đề thuộc Đề tài
khoa học trọng điểm cấp Bộ “Trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt
Nam”, Thanh tra Chính phủ, Viện Khoa học Thanh tra, tr.20;
23. Phạm Duy Nghĩa, 2015, Trách nhiệm giải trình: vươn tới những chuẩn mực của một nền hành chính phục vụ
phát triển, tr.2, https://fsppm.fuv.edu.vn/cache/MPP7-542-R06V-Trach%20nhiem%20giai%20trinh_Vuon%20toi%20
nhung%20chuan%20muc%20cua%20mot%20nen%20hanh%20chinh%20phuc%20vu%20phat%20trien–Pham%20
Duy%20Nghia-2015-06-19-16071213.pdf. (Truy cập lần cuối 3/2/2020).
24.Normanton, E. Leslie, 1971, Public accountability and audit: A reconnaissance in Bruce L.R, Smith and Douglas
Hauge (eds), The Dilemma of Accountability in Modern Government: Independence Versus Control, Macmillan.
25. Oakerson, Ronald J, 1989, “Governance Structures for Enhancing Accountability and Responsiveness” in
Handbook of Public Ad- ministration, ed. James L. Perry. San Francisco: Jossey-Bass, tr.114.
26.OECD, 2011, Public Sector Modernisation: Modernising Accountability and control, 2005, tr.2, http://www.oecd.
org/site/govgfg/39044829.pdf (Truy cập ngày 31/1/2020).

27. Ohad, Soudry, 2007, A Principal-Agent Analysis of Accountability in Public Procurement, in KV Thai và G
Piga (eds), Advancing Public Procurement: Experiences, Innovation and Knowledge Sharing, PrAcademics Press,
Boca Raton;
28. Osborne, Stephen P, 2002, Public Management, Critical Perspective, Vol V, Policy making, ethics and Accountability in public management, Routledge, tr.453.
29. Peruzzotti, Enrique 2011, The Workings of Accountability: Contexts and Condition, In Sina Odugbemi, &
Taeku Lee (Eds), Accountability through public opinion from Inertia to Public action, pp.81-92, The world bank, Washington, DC.
30. Peters, B. Guy, 2011, Performance-Based Accountability, In Anwar Shah (Ed.), Public Sector Governance
and Accountability Series, Performance accountability and combating corruption, pp.15-32, Worldbank, Washington,
DC.
31. Peter, B Guy, 2014, Accountability in Public Administrative in Mark Bovens, Robert E. Goodin, và Thomas
Schillemans, The Oxford Handbook of Public Accountability, Oxford University Press.
32. Price, A, 2015, “State liability and accountability”, Acta Judicia, tr 313-335.
33. Przeworski, A., Stokes, S. C., và Manin, B., eds. 1999. Democracy, Accountability, and Representation. Cambridge: Cambridge University Press;
34.Phạm Hồng Quang, 2014, Trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước-một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Đề tài cấp Bộ, tr.24.
35.Radin, Beryl A., and Barbara S. Romzek, 1996, ‘Accountability Expectations in an Intergovernmental Arena: The
National Rural Development Partnership’, Journal of Federalism 26:2 (Spring), tr59-81;
36. Roberts, Jennifer Tolbert 1982, Accountability in Athenian Government, University of Wincousin Press, tr 4-5.
37. Rojas, Francisca M. 2012, “ Recovery Act Transparency learning from State’s experience”, IBM Center for The
business of Government, http://www.businessofgovernment.org/sites/default/files/Recovery%20Act%20Transparency.
pdf (truy cập ngày 31/1/2020);
38. Ryan, Jonh, 2019, Public accountability: A matter of trust and confidence – A discussion paper, tr.8, https://oag.
govt.nz/2019/public-accountability/docs/public-accountability.pdf (Truy cập ngày 31/1/2020).
39. Schedler.A, Diamond, Larry và Plattner, Marc F (eds), 1999, The Self-Restraining State: Power and Accountability in New Democracies, Boulder and London: Lynne Rienner, tr 14-17.
40. Scott, Colin, 2000, ‘Accountability in the Regulatory State’, Journal of Law and Society 27(1) (March), tr 38-60;
41. Smulovitz, Catalina, and Enrique Peruzzotti, 2000 ‘Societal Accountability in Latin America’, Journal of Democracy 11(4) (October), tr147-158;
42. Stapenhurst, Rick và O’Brien. Michell, 2008, Accountability in Governance, https://siteresources.worldbank.org/
PUBLICSECTORANDGOVERNANCE/Resources/AccountabilityGovernance.pdf (Truy cập lần cuối 3/2/2020).
43. Đặng Minh Tuấn, 2019, Lý luận cơ bản về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà
nước và phòng, chống tham nhũng, tài liệu Hội thảo: “Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị
nhà nước và phòng, chống tham nhũng ở trên thế giới và Việt Nam”, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
44. GS.TSKH.Đào Trí Úc, 2015, “Vấn đề trách nhiệm giải trình trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt
Nam”, chuyên đề thuộc Đề tài cấp Bộ của viện Khoa học Thanh tra, tr.58.
45. United Nations, 2012, General Assembly, Sixty-sixth session, Agenda item 83, Delivering Justice: A programme
of action to strengthen the rule of law at the national and international levels. Report of the Secretary-General, tr. 2,
mục I.2.
46. Von Dornum, Deirdre Dionysia, 1997, The straight and the crooked: legal accountability in Ancient Greece, Columbia Law Review, Vol.97, No.5, tr.1516

Theo Tạp chí Pháp luật và Phát triển số 3 + 4/2020

(sao chép, dẫn nguồn phải được sự đồng ý bằng văn bản của Ban biên tập)

Tin cùng chuyên mục