NHỮNG BẤT CẬP VỀ HÌNH THỨC GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT TẠI CÁC ĐỊA BÀN ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Đánh giá tác giả:

Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6, ngày 29/11/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014. Qua hơn 4 năm tổ chức thi hành Luật Đất đai 2013 cho thấy vẫn còn một số tồn tại, bất cập, trong đó có việc xác định hình thức giao đất.

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6, ngày 29/11/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014. Qua hơn 4 năm tổ chức thi hành Luật Đất đai 2013 cho thấy vẫn còn một số tồn tại, bất cập, trong đó có việc xác định hình thức giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ nhằm phát triển kinh tế – xã hội tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn (địa bàn ưu đãi đầu tư). Bài viết này xin trao đổi về nội dung này và đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung Luật đất đai năm 2013 nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về đất đai, nhất là các quy định về hình thức giao đất, cho thuê đất tại các địa bàn ưu đãi đầu tư.

Triển khai thi hành Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Chính phủ và Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành tương đối đầy đủ các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành pháp luật đất đai theo thẩm quyền và triển khai thực hiện khá tốt các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Kết quả đạt được trong thi hành luật đất đai 2013 thể hiện qua các mặt công tác như: đã ban hành khá đồng bộ các quy định chi tiết hướng dẫn thi hành luật; kịp thời tháo gỡ các vướng mắc khó khăn của các địa phương; đã rà soát, lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất (2016-2020) phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và từng địa phương; công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất được các địa phương triển khai thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt, bảo đảm đúng các quy định của pháp luật về đất đai; việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất có rừng đặc dụng, phòng hộ được kiểm soát chặt chẽ; việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất theo Luật Đất đai 2013 đã khắc phục được tình trạng thu hồi đất tràn lan trước đây, sàng lọc được các nhà đầu tư có năng lực bảo đảm đưa đất vào sử dụng hiệu quả hơn, giảm tình trạng để đất đai lãng phí, bỏ hoang; đã tập trung chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp để hoàn thiện hồ sơ địa chính, đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với

* ThS. Phó Viện trưởng Viện NC Pháp luật và Kinh tế Asean – Nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Tài nguyên và Môi trường

đất; tiếp tục hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống hồ sơ địa chính; công tác kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất được tiến hành đồng bộ với việc rà soát, đo đạc, cắm mốc, giao đất, cho thuê đất; đẩy mạnh việc cấp giấy chứng nhận và tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh theo tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 112/2015/NQ-QH13 của Quốc hội về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng (Theo ncseif.gov.vn 2017).

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thi hành pháp luật về đất đai, các địa phương gặp không ít khó khăn, vướng mắc làm hạn chế hiệu lực, hiệu quản quản lý và g[A1] ây lãng phí tài nguyên đất đai, có thể kể đến như trong việc áp dụng thực hiện quy định về thu hồi đất, điều kiện để được giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất còn nhiều bất cập; hay việc xác định hình thức đấu giá hay không đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ nhằm phát triển kinh tế – xã hội tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn (địa bàn ưu đãi đầu tư) theo quy định tại Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ. Bài viết này tập trung trao đổi một số vướng mắc về hình thức giao đất, cho thuê đất tại các địa bàn ưu đãi đầu tư theoquy địnhpháp luật về đất đai và pháp luật về đầu tư.

1. Những khó khăn trong xác định hình thức giao đất, cho thuê đất

Điểm b khoản 2 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 quy định các trường hợp không đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trong đó có trường hợp “Sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất quy định tại Điều 110 của Luật này” và tại điểm a khoản 1 Điều 110 Luật Đất đai năm 2013 quy định việc miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được thực hiện trong trường hợp: “Sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, trừ dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại”.

Căn cứ quy định nêu trên, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc và các tỉnh Tây Nguyên, khi thực hiện việc giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư tại các địa bàn ưu đãi đầu tư thường áp dụng hình thức giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất đối với các dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Ví dụ điển hình là việc Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đắk Lắk giao đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất cho Công ty TNHH MTV Bánh Kẹo Thăng Long (Cty Thăng Long) làm chủ đầu tư để thực hiện dự án với hàng loạt hạng mục như: Sân golf, hồ bơi, công viên, khu giải trí… Về trường hợp cụ thể này, hiện đang có hai quan điểm áp dụng pháp luật trái người nhau cụ thể như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải đấu giá quyền sử dụng đất đối với đất đã thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng (áp dụng điểm b khoản 1 Điều 119 Luật Đất đai năm 2013); nếu đất chưa thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng thì Nhà nước quyết định thu hồi đất, đồng thời bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng và thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất. Những dự án được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất có thời hạn thực hiện trên địa bàn ưu đãi đầu tư (mức độ ưu đãi không cao) cũng phải thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất. Đây là quan điểm của Kiểm toán Nhà nước với lập luận rằng UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt chủ trương đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh, phát triển đô thị trên các diện tích đất có nguồn gốc các công ty nông, lâm nghiệp (trên địa bàn ưu đãi đầu tư) không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất là trái với quy định của Luật đất đai và Luật Đầu tư. Chỉ có “những dự án miễn hoàn toàn tiền thuê đất mới không phải đấu giá quyền sử dụng đất”. Việc miễn tiền thuê đất (có thời hạn) là theo chính sách ưu đãi đầu tư trong thời gian xây dựng cơ bản (Văn Thành – Báo CAND 2018).

Quan điểm thứ hai lại cho rằng, không đấu giá quyền sử dụng đất (kể cả dự án đầu tư được miễn tiền thuê đất có thời hạn tùy theo lĩnh vực đầu tư) do các dự án này thuộc các trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 110 Luật Đất đai 2013; điểm a khoản 1 và các điểm b, c, d khoản 3 Điều 19 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (Nghị định số 46/2014/NĐ-CP). Đây là quan điểm của UBND tỉnh Đắk Lắk với lập luận và cho rằng, nếu theo kết luận kiểm toán: “Chỉ có những dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư tại địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mới không phải đấu giá quyền sử dụng đất”, còn tất cả các dự án đầu tư khác tại địa phương đều phải tổ chức đấu giá. Điều này không phù hợp, gây khó khăn cho việc thu hút đầu tư vào các địa bàn đặc biệt khó khăn như tại tỉnh Đắk Lắk. UBND tỉnh Đắk Lắk cũng cho rằng, vì các dự án đầu tư có sử dụng đất tại tỉnh (trừ các dự án đầu tư nhà ở thương mại) thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn đều được miễn tiền thuê đất. Vì vậy, các trường hợp này thuộc trường hợp không phải đấu giá quyền sử dụng đất (Văn Thành – Báo CAND 2018). Việc UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt chủ trương đầu tư đối với các trường hợp này là đúng quy định với lý giải cụ thể như sau:

Điểm a khoản 1 Điều 110 Luật Đất đai năm 2013 quy định miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong trường hợp: “Sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, trừ dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại”. Điểm b khoản 2 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 quy định không đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất trong trường hợp “Sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất quy định tại Điều 110 của Luật này;”

Điều 19 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP quy định: (1) Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước cho cả thời hạn thuê trong các trường hợp sau: (a) Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư được đầu tư tại địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn;… (2) Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian xây dựng cơ bản theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng tối đa không quá 03 năm kể từ ngày có quyết định cho thuê đất, thuê mặt nước. Trường hợp người thuê đất sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp (trồng cây lâu năm) theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì thời gian xây dựng cơ bản vườn cây được miễn tiền thuê đất áp dụng đối với từng loại cây thực hiện theo quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lâu năm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định. Việc miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian xây dựng cơ bản được thực hiện theo dự án gắn với việc Nhà nước cho thuê đất mới, chuyển từ giao đất không thu tiền sử dụng đất sang thuê đất, không bao gồm các trường hợp đầu tư xây dựng cải tạo, mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh và tái canh vườn cây trên diện tích đất đang được Nhà nước cho thuê…(3) Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước sau thời gian được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước của thời gian xây dựng cơ bản theo quy định tại Khoản 2 Điều này, cụ thể như sau: (a) Ba (3) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư; đối với cơ sở sản xuất kinh doanh mới của tổ chức kinh tế thực hiện di dời theo quy hoạch, di dời do ô nhiễm môi trường; (b) Bảy (7) năm đối với dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; (c) Mười một (11) năm đối với dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; (d) Mười lăm (15) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư, lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư.

Điều 16 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư (Nghị định 118/2015/NĐ-CP), quy định đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều 15 và Điều 16 Luật Đầu tư gồm: (1) Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư hoặc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định tại Phụ lục I Nghị định này; (2) Dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại Phụ lục II Nghị định này; (3) Dự án đầu tư có quy mô vốn từ 6.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc kể từ ngày được quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; (4) Dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động trở lên (không bao gồm lao động làm việc không trọn thời gian và lao động có hợp đồng lao động dưới 12 tháng); (5) Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật về công nghệ cao và pháp luật về khoa học công nghệ.

Như vậy, căn cứ vào các quy định của Luật Đất đai năm 2013, Luật Đầu tư năm 2014 và Điều 19 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP và Điều 16 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP thì việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai trong trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thì không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất. Đối với các trường hợp chỉ được giảm tiền sử dụng đất, hoặc không được giảm tiền sử dụng đất thì thuộc trường hợp phải đấu giá quyền sử dụng đất khi giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án đầu tư.

Như chúng ta thấy, trên thực tế để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn ưu đãi đầu tư có hai loại miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất: (1) Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước cho cả thời hạn thuê và (2) Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước có thời hạn. Vậy, việc áp dụng hình thức giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư tại các địa bàn ưu đãi đầu tư không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất có được áp dụng cho cả hai loại miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nêu trên hay không? Hay chỉ được thực hiện giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất đối với loại dự án được miễn tiền sử dụng đất cho cả thời hạn thuê (quan điểm của Kiểm toán Nhà nước), đang là vấn đề chưa được các cơ quan nhà nước thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và xử lý trong những trường hợp cụ thể. Vấn đề này theo Luật đất đai năm 2013 thì không phân biệt trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho toàn bộ quá trình thực hiện dự án hay miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất có thời hạn.

Hiện nay, hầu hết các địa phương đều áp dụng hình thức giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn ưu đãi đầu tư mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (không phân biệt miễn có thời hạn hay không thời hạn) theo quy định của pháp luật về đất đai thì không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất. Đây được coi là một trong những quy định chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trên thực tế còn có quan điểm khác nhau cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, rõ ràng, dễ thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, tránh thất thoát tài sản Nhà nước. Vì trên thực tế khi áp dụng pháp luật và lập luận cho rằng chỉ dự án đầu tư được miễn toàn bộ tiền sử dụng đất mới thực hiện giao đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, còn đối với các dự án đầu tư được miễn một phần (có thời hạn) trên địa bàn ưu đãi đầu tư thì cũng không chính xác. Nhưng nếu theo lập luận của UBND tỉnh Đắk Lắk, thì rất nhiều dự án đầu tư trên địa bàn ưu đãi đầu tư và thẩm trí trên phạm vi cả nước đều không phải đấu giá quyền sử dụng đất, vì hầu hết được miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản sẽ gây thất thoát cho ngân sách nhà nước. Vì vậy, cần nghiên cứu, làm rõ khái niệm miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và quy định cụ thể hình thức giao đất, cho thuê đất để áp dụng đối với các dự án đầu tư trên địa bàn ưu đãi đầu tư là nhiệm vụ quan trọng, góp phần hoàn thiện pháp luật về đất đai trong thời gian tới.

2. Một số giải pháp

Để khắc phục tình trạng hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau giữa các địa phương và tránh tình trạng lợi dụng chỉ định nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư trái quy định, gây thất thoát ngân sách nhà nước và tạo khe hở để tham nhũng, lãng phí, chúng tôi cho rằng cần quy định cụ thể hơn, phân biệt rõ hơn về hình thức giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư đối với cả hai loại miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho toàn bộ thời hạn dự án hoặc miễn tiền sử dụng đất, thuê đất có thời hạn. Đề nghị nghiên cứu, tách, quy định riêng cho từng loại miễn tiền sử dụng đất, thuê đất, cụ thể như sau:

2.1. Chỉ nên quy định áp dụng hình thức không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất đối với các dự án đầu tư được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong toàn bộ thời gian thực hiện dự án. Đây thực chất là những chính sách ưu đãi đặc biệt mà Nhà nước dành cho các nhà đầu tư nhằm khuyến khích họ bỏ vốn vào những lĩnh vực, địa bàn mà khả năng thu hút đầu tư còn hạn chế qua đó nhằm mục đích phát triển kinh tế và cân bằng sự phát triển kinh tế – xã hội trong những lĩnh vực, địa bàn khác nhau tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, biển và hải đảo.

2.2. Đối với các dự án đầu tư được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất có thời hạn thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, thì nên thực hiện hình thức giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, nhằm tránh việc lợi dụng kẽ hở pháp luật để giao đất, cho thuê đất cho “sân sau”, tạo lợi ích nhóm, gây thất thoát tài sản của Nhà nước. Vì thực chất những dự án này thuộc nhóm dự án đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư thấp hơn, việc thực hiện các dự án này ít nhiều cũng có những thuận lợi hơn, ưu đãi hơn so với các dự án thông thường, nhất là những dự án đầu tư trên địa bàn thị xã, thành phố thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc và vũng Tây nguyên.

Từ những phân tích trên đây cho thấy, việc sửa đổi, bổ sung Luật đất đai năm 2013 tới đây cần thiết phải nghiên cứu, quy định rõ ràng về hình thức giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư trên địa bàn ưu đãi đầu tư, để các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường thực hiện đúng quy định, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, góp phần xây dựng đất nước vững mạnh, phồn vinh.

Những phân tích trong bài viết này dựa trên những vướng mắc bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật mà các địa phương trên phạm vi cả nước hiện đang gặp phải cần Bộ Tài nguyên và Môi trường làm rõ trong quá trình triển khai thi hành pháp luật đất đai, nhất là việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai 2013 trong thời gian tới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật đất đai 2013 số 45/2013/QH13, ngày 29 tháng 11 năm 2014

2. Luật Đầu tư số: 67/2014/QH13, ngày 26 tháng 11 năm 2014

3. Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

4. Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

Lê Văn hợp