THU THẬP, KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

Đánh giá tác giả:

ThS. Trần Văn Tuân*

(Giảng viên Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội)

Thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ là một hoạt động cụ thể, có ý nghĩa quan trọng nhưng cũng đồng thời là hoạt động khó khăn, phức tạp của quá trình chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Về cơ bản, quá trình xảy ra vụ việc phạm tội là quá trình phản ánh thông tin của vụ việc vào môi trường xung quanh. Do đó, muốn nhận thức đúng được bản chất của vụ án thì phải thu thập được đầy đủ các thông tin về kết quả phản ánh đó. Trong bài viết, tác giả tập trung phân tích về chứng cứ trong các vụ án về động vật hoang dã và quá trình đánh giá chứng cứ trong các vụ án này.

Từ khóa: Chứng cứ, thu thập, đánh giá chứng cứ, động vật hoang dã

Các thông tin phản ánh về vụ án luôn tồn tại như một tất yếu khách quan, có tính quy luật. Thông tin có được từ các dạng phản ánh của sự vật, hiện tượng, phản ánh là một trong những khái niệm cơ bản của nhận thức luận duy vật. “Chủ nghĩa duy vật biện chứng phân biệt sự phản ánh tâm lý với tư cách là đặc tính của vật chất có tổ chức cao (động vật và con người) và đặc tính phản ánh trong thế giới tự nhiên vô cơ” (Từ điển triết học, 1986, tr. 249). Những phản ánh vật chất được hình thành trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, do các đối tượng có thể tác động vào thế giới vật chất, tác động vào con người làm biến đổi vật chất, ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Hoặc để lại một số dấu hiệu nhất định là sự phản ánh riêng lẻ của sự kiện đã xảy ra.

Thực tế cho thấy mỗi vụ án hình sự có những tình tiết, đặc điểm, biểu hiện khác nhau, không vụ nào giống vụ nào; mỗi nhóm tội phạm lại có một số biểu hiện đặc trưng riêng về phương thức, thủ đoạn, công cụ, phương tiện, người phạm tội, bị hại, diễn biến của sự việc… Các vụ án về động vật hoang dã (ĐVHD) cũng vậy, quá trình thu thập chứng cứ trong các vụ án này cần có những biện pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ phù hợp với tính chất, đặc điểm đặc trưng với vụ án về ĐVHD.

1. Thu thập chứng cứ

Chứng cứ có thể hiểu là “cái thực tích hay hiện trạng có thể bằng cứ vào mà chứng thực được” (Đào Duy Anh, 2010, tr. 159). Chứng cứ cũng có thể hiểu là cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định điều gì đó là thật (Hoàng Phê, 2003, tr. 192). Chứng cứ là khái niệm đã được sử dụng từ rất lâu đời. Lịch sử hình thành và phát triển của lý luận về chứng cứ luôn gắn với lịch sử phát triển của lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp. Bên cạnh các quan điểm về tội phạm, các hình thức tiến hành tố tụng của từng nhà nước trong từng thời kì sẽ có quan điểm về chứng cứ. Từ thời cổ đại đã áp dụng hình thức Tố tụng buộc tội (tố cáo), được thực hiện theo nguyên tắc: “không có nguyên cáo thì không có quan tòa”. Trong thế giới cổ đại, những nguyên tắc tố tụng về tố cáo được phản ánh một cách đầy đủ nhất trong luật tố tụng La mã thời đại cổ điển (Vư-Sin -Ky , 1950, tr. 381).

Trong các vụ án hình sự thì chứng cứ là phương tiện chứng minh nhằm xác định các tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Theo đó, dựa vào chứng cứ, sự thật khách quan mới được làm rõ, đồng thời cũng loại bỏ những gì không có thật. Với tư cách là phương tiện để chứng minh tội phạm và người phạm tội, đồng thời được dùng để xác định những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, cho nên chứng cứ xuất hiện cùng với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và được các nhà làm luật cụ thể hóa trong Bộ luật hình sự Việt Nam (Vương Văn Bép, 2011, tr. 50).

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có 2 điều luật quy định trực tiếp nhóm tội phạm về ĐVHD là Điều 234 “Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã” và Điều 244 “Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Quy định trong 2 điều luật này đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc trong đấu tranh xử lý các tội phạm về ĐVHD so với quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Để có nhận thức một cách toàn diện về những tình tiết, sự việc về hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của ĐVHD đã diễn ra trước đó đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập được đầy đủ những thông tin về vụ việc đó. Quá trình nghiên cứu cho thấy, thường có 03 dạng phạm tội chủ yếu về ĐVHD là phạm tội có tổ chức, xuyên quốc gia, thường vì mục đích kinh tế; phạm tội cố ý, nhỏ lẻ nhằm phục vụ đời sống hàng ngày; và thiếu hiểu biết, không ý thức được hành vi của mình là phạm tội.

Trong các vụ án về ĐVHD nói riêng cũng như trong các vụ án hình sự nói chung, thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và không thể thiếu của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự. Kết quả hoạt động thu thập chứng cứ có ảnh hưởng rất lớn đến việc kiểm tra đánh giá chứng cứ và ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Nếu phát hiện, thu thập chứng cứ đầy đủ, chất lượng thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đánh giá, sử dụng chứng cứ. Để thu thập được chứng cứ nhanh chóng, kịp thời thì người thu thập chứng cứ cần luôn bám sát vào đối tượng chứng minh, căn cứ vào đặc điểm đặc trưng của từng loại vụ án, quy luật hoạt động của đối tượng, quy luật hình thành chứng cứ để nghiên cứu, đề ra phương hướng, cách thức thu thập chứng cứ.

Khi phát hiện, thu thập chứng cứ trong các vụ án về ĐVHD, cần lưu ý một số điểm sau:

Quá trình điều tra cần làm rõ các vấn đề: Có tội phạm về ĐVHD xảy ra hay không? Tội gì? Điều, khoản nào? Hành vi phạm tội cụ thể như thế nào? Người bị khởi tố có đủ căn cứ xác định đúng là người thực hiện tội phạm hay không? Có người đồng phạm hay không? Nếu có đồng phạm thì vai trò của các đồng phạm như thế nào? Nguyên nhân phạm tội? Động cơ, mục đích của người phạm tội? (trong các vụ án về ĐVHD động cơ, mục đích phạm tội thường xuất phát từ lợi ích vật chất, có thể vận chuyển thuê để lấy tiền, mua bán để kiếm lời, đánh bẫy, giết thị, lấy xương để bán kiếm lời…). Trong trường hợp các đối tượng thuê vận chuyển mà người được thuê khai không biết bên trong có gì mà chỉ nhận vận chuyển và nhận tiền thuê thì khi tiến hành hỏi cung có thể làm rõ hơn ý thức chủ quan của những người vận chuyển thuê thông qua lời khai của bị can.

Trường hợp tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra (CQĐT) cần kiểm tra kĩ các địa điểm có thể nuôi nhốt, cất giấu ĐVHD như hầm bí mật, các nơi xa nơi cư trú, trong rừng, trong vườn hoang… Các đối tượng có sự chuẩn bị, che giấu hành vi thì thường đưa ĐVHD ra vào nơi nuôi nhốt, cất giấu một cách bí mật vào ban đêm và được canh phòng cẩn mật. ĐVHD cũng được nuôi nhốt phổ biến ngay tại nhà ở của đối tượng, vì vậy một mặt phải tìm kỹ ở hiện trường, mặt khác phải nhanh chóng tìm ở những nơi có căn cứ nghi ngờ các đối tượng cất giấu, tẩu tán, chôn lấp. Trong đó cần chú ý thu thập các dấu vết đặc trưng như dấu vết phản ánh sự di chuyển, kháng cự của ĐVHD như: cỏ cây dập nát, vết trượt, vết chân của ĐVHD; dấu vết sinh vật như: Máu, mảnh da, lông, tóc, móng, vuốt; dấu vết để lại trên cơ thể chủ nhà, người chăm sóc, trông coi, bốc dỡ, vận chuyển như dấu vết lông, vết cắn, cào, xước, phân, nước tiểu của động vật… Ngoài ra còn có các dấu vết khác như: Dấu vết chân, dấu vết dày dép, dấu vết vân lốp bánh xe, dấu vết dỡ chuồng trại… tại hiện trường. Thu thập chứng cứ được tiến hành sau khi phát hiện chứng cứ và nguồn chứng cứ. Trong quá trình khám nghiệm hiện trường, có thể phát hiện nhiều dấu vết, vật chứng nên việc thu thập dấu vết, vật chứng và ghi nhận lại các thông tin phản ánh từ hiện trường có giá trị chứng minh rất cao. Các hoạt động ghi nhận chứng cứ tại hiện trường có thể được tiến hành như: chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả trong biên bản khám nghiệm hiện trường. Việc ghi nhận đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm đảm bảo giá trị chứng minh và hiệu lực sử dụng chứng cứ trong vụ án.

Đối với các trường hợp vận chuyển ĐVHD, bộ phận, sản phẩm của ĐVHD, các đối tượng thường có sự ngụy trang, che giấu cẩn thận vì đây là khâu dễ bị phát hiện nhất. Tuỳ từng loại ĐVHD và các sản phẩm từ ĐVHD, khối lượng vận chuyển, phương tiện vận chuyển cũng như quãng đường và mức độ an toàn trên quãng đường đó mà đối tượng có những phương thức vận chuyển phù hợp. Phương tiện vận chuyển thường được chế tạo các ngăn phụ để cất giấu ĐVHD như sàn, thùng xe, tàu, bè thiết kế hai ngăn, hai đáy; hoặc được cất giấu vào săm xe, lốp dự phòng, cất trong bao tải, thùng xốp, thùng cactong, trà trộn với các loại động vật thông thường để đánh lạc hướng cơ quan chức năng; hoặc thuê người bản địa ở vùng núi vận chuyển ĐVHD với khoảng cách không xa, thuê cửu vạn mang vác ĐVHD và các sản phẩm từ ĐVHD qua biên giới, thuê hành khách hoặc nhờ họ mang hàng qua trạm kiểm soát; hoặc lợi dụng các hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá để cất giấu ĐVHD trong các hàng hoá cồng kềnh, khối lượng lớn khó kiểm tra. Ngoài các cá thể, bộ phận hoặc sản phẩm ĐVHD thu được thì còn có nhiều loại vật chứng khác như xe máy, điện thoại di động, các dụng cụ để ngụy trang khi vận chuyển như bao, túi, thùng xốp, thùng cactong… Đây là những điểm đặc trưng của hành vi vận chuyển ĐVHD, sản phẩm, bộ phận của ĐVHD, nên để phát hiện, thu giữ vật chứng thì lực lượng chức năng cần lên kế hoạch cụ thể, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Sau khi phát hiện, thu giữ cần lập biên bản như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng (trong đó có vật chứng là các loài ĐVHD và vật chứng là công cụ, phương tiện dùng để phạm tội), trường hợp cần thiết thì có thể chụp và lập bản ảnh vật chứng là ĐVHD. Khi lập biên bản ghi nhận sự việc, cần mô tả một cách đầy đủ,, cụ thể mọi đặc điểm như chúng vốn có, không nhận xét, đánh giá theo ý chủ quan của bản thân người lập biên bản.

Nếu vụ án về ĐVHD có đồng phạm thì phải chứng minh vai trò của từng người đồng phạm, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng người đồng phạm để cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với người đó. Trong vụ án liên quan đến hành vi mua bán hoặc vận chuyển ĐVHD có thể có đối tượng rủ rê, lôi kéo người quen, bạn bè cùng thực hiện hành vi phạm tội, có những bị can không nhận thức được hành vi của mình là phạm tội mà chỉ nghe theo lời người khác mà thực hiện; động cơ phạm tội có thể đơn giản là lợi ích vật chất có được từ hành vi mua bán, vận chuyển trái phép ĐVHD. Vì vậy, trong quá trình hỏi cung, lấy lời khai cần xác định rõ hành vi của từng đối tượng để có cơ sở xử lý.

Đối với hoạt động trưng cầu giám định và giám định, Quyết định trưng cầu giám định trong các vụ án về ĐVHD có thể được đưa ra trước khi khởi tố vụ án để xác định chính xác về loài. Đối với các vụ án về ĐVHD thì hoạt động giám định rất quan trọng. Kết luận giám định xác định các động vật, sản phẩm hoặc bộ phận của ĐVHD có thuộc Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB, IIB hoặc Phụ lục I, Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài ĐVHD nguy cấp hay không. Đây là cơ sở quan trọng để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án, đường lối xử lý vụ việc. Nếu cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật thuộc các danh mục trên thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khi thu giữ được vật chứng, cần phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn, hư hỏng, đặc biệt là các trường hợp ĐVHD đã bị thương do săn bắt, vận chuyển dẫn đến dễ bị chết, nhiều bộ phận, sản phẩm của ĐVHD dễ bị hư hỏng. Do đó sau khi thu giữ ĐVHD và các bộ phận của chúng, CQĐT chú ý tới khâu bảo quản để giữ nguyên giác trị chứng minh của vật chứng. Để đảm bảo nguyên tắc vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để ĐVHD chết, bị bệnh, mất mát, lẫn lộn, phân hủy, hư hỏng… Dù việc thu thập chứng cứ có thể tiến hành bằng nhiều cách thức khác nhau, nhưng đều phải có quá trình ghi nhận chứng cứ và lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Việc ghi nhận có thể được thực hiện thông qua mô tả bằng lời văn, thể hiện trong các biên bản; thông qua quay phim, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình; vẽ sơ đồ… Các hoạt động trên đều phải tiến hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục, chủ thể tiến hành.

2. Kiểm tra, đánh giá chứng cứ

Chứng cứ và nguồn chứng cứ có mối quan hệ biện chứng, không tách rời. Việc thu thập chứng cứ có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, nhưng chứng cứ thu được phải đảm bảo có đủ ba thuộc tính là tính khách quan, tính liên quan, tính hợp pháp.

– Tính khách quan: Chứng cứ là những gì có thật, điều đó có nghĩa là chứng cứ luôn tồn tại trong thế giới khách quan, không phụ thuộc ý thức chủ quan của con người. Những tồn tại khách quan thì không phụ thuộc vào suy đoán hay tưởng tượng của con người, cũng không phải nằm trong suy nghĩ của con người. Thuộc tính khách quan của chứng cứ đòi hỏi những người đi tìm chứng cứ phải xuất phát từ thực tế vụ việc đã xảy ra trong quá khứ để nhận thức chúng. Bất kỳ một chứng cứ nào có liên quan đến vụ án về ĐVHD đều phải đảm bảo sự tin cậy, bởi lẽ sự tin cậy sẽ là cơ sở của mọi kết luận của vụ án. Khi đánh giá chứng cứ thì sự tin cậy một chứng cứ giúp cho những người tiến hành tố tụng sẽ đánh giá một cách khách quan và chính xác hơn. Không thể lấy ý chí chủ quan của một người hoặc một nhóm người để áp đặt vào sự tồn tại của chứng cứ, phải luôn tôn trọng sự thật, tránh những nhận định chủ quan, nóng vội, định kiến.

– Tính liên quan: Cơ sở lý luận của tính liên quan của chứng cứ là dựa trên nguyên tắc toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nguyên tắc này đòi hỏi CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát (VKS) khi giải quyết vụ án về động vậy hoang dã, phải xem xét toàn diện các mối quan hệ có liên quan đến vụ án, rút ra được những mối quan hệ bản chất, chủ yếu để làm sáng tỏ bản chất của vụ án. Trong trường hợp chứng cứ được đánh giá là chứng cứ trực tiếp như cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật thì việc xác định tính liên quan trở nên dễ dàng hơn vì chứng cứ trực tiếp nhìn nhận thẳng ra vấn đề cần chứng minh.Trong trường hợp chứng cứ được đánh giá là chứng cứ gián tiếp như thông qua lời khai của các đối tượng vận chuyển, buôn bán cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật thì việc xác định tính liên quan trở nên phức tạp hơn vì nó không chỉ ngay ra được đối tượng cần tìm, mà nó thông qua một vật trung gian nào đó, là cơ sở suy đoán tính liên quan của vụ án, đòi hỏi cần phải có kinh nghiệm nghề nghiệp và khả năng nhận biết để có thể phát hiện và đưa ra suy đoán có cơ sở về tính liên quan của chứng cứ gián tiếp.

Tính liên quan của chứng cứ được thể hiện ở chỗ chứng cứ đó phải chứng minh được có hay không sự việc săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của ĐVHD, nội dung của sự việc đó, hậu quả của hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội… cùng những vấn đề khác cần phải giải quyết trong vụ án hình sự. Nhưng cũng cần lưu ý là những gì có thật không liên quan đến vụ án hình sự thì không được dùng làm chứng cứ.

– Tính hợp pháp: Nếu như tính khách quan và tính liên quan của chứng cứ thể hiện bình diện khách quan, thì tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện bình diện pháp lý. Cơ sở lý luận của thuộc tính hợp pháp của chứng cứ là dựa trên nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. Đây là nguyên tắc rất quan trọng và cơ bản của toàn bộ quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tính hợp pháp của chứng cứ được thể hiện ở việc chứng cứ được chứa đựng trong những nguồn và được thu thập bằng những biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Mọi thông tin về hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của ĐVHD, các tài liệu phản ánh sự việc, các đồ vật, dấu vết phải được ghi nhận, thu thập theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nếu không sẽ không đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ, và như vậy sẽ không có giá trị chứng minh.

Đánh giá là nhận định giá trị (Hoàng Phê, 2003, tr. 287). Để đánh giá chứng cứ một cách có hiệu quả, cần thực hiện các công việc: Nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra các chứng cứ đã thu thập được; Xác định mối quan hệ giữa các chứng cứ, có cần thiết phải bổ sung không; Chứng cứ có được thu thập từ nguồn tin cậy không và cơ sở nào thể hiện sự tin cậy? Xác định nhóm chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, các chứng cứ có giá trị buộc tội, các chứng cứ có giá trị gỡ tội, các chứng cứ chứng minh đồng phạm; Xác định các nhóm chứng cứ để xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật khác có liên quan.

Khác với hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét xử, hoạt động đánh giá chứng cứ trong giai đoạn này nhằm đưa ra kết luận của CQĐT được thực hiện trước khi xét xử và nhằm mục đích phục vụ cho giai đoạn xét xử mà chưa có hiệu lực pháp luật. Chỉ trong trường hợp CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra thì việc đánh giá chứng cứ mới có tính quyết định (Nguyễn Văn Du, 2006, tr. 17).

Việc phân tích, đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy logic của những người tiến hành tố tụng nhằm xem xét giá trị chứng minh của chứng cứ. Khi đánh giá chứng cứ trong các vụ án về ĐVHD cần tuân thủ các quy định của pháp luật, dựa trên cơ sở pháp luật, tinh thần trách nhiệm, ý thức trách nhiệm của các chủ thể. Đồng thời, người đánh giá chứng cứ phải có niềm tin nội tâm để có sự tin tưởng chắc chắn vào kết luận mà mình đưa ra. Niềm tin nội tâm được củng cố thêm dựa trên cơ sở ý thức pháp luật, nhận thức khoa học về vấn đề cần nghiên cứu. Trình độ hiểu biết, năng lực nhận thức, kinh nghiệm của người tiến hành tố tụng cũng ảnh hưởng đến chất lượng đánh giá chứng cứ. Nếu đánh giá đúng giá trị chứng minh của chứng cứ thì sẽ góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.

Trong các vụ án hình sự nói chung và các vụ án về ĐVHD nói riêng, có thể đánh giá chứng cứ bằng hai phương pháp là đánh giá riêng từng chứng cứ và đánh giá tổng hợp toàn bộ chứng cứ trong vụ án.

– Đánh giá riêng lẻ từng chứng cứ là hoạt động nhận thức của người tiến hành tố tụng đối với mỗi chứng cứ đã thu thập được trong quá trình tố tụng để kết luận về giá trị chứng minh của chứng cứ. Đánh giá giá trị chứng minh của từng chứng cứ là xem xét chứng cứ đó có khả năng làm rõ được tình tiết nào trong vụ án, mức độ tin cậy của chứng cứ đó đến đâu, chứng cứ có khả năng chứng minh trực tiếp hay gián tiếp một vấn đề, chứng cứ có giá trị chứng minh một phần hay toàn bộ vụ án. Khi nghiên cứu từng chứng cứ phải xem xét chứng cứ đó đã đủ cơ sở để đưa ra những kết luận và quyết định tố tụng hay chưa. Quá trình nhận thức về chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án, nếu nhận thức đúng sẽ đưa ra kết luận đúng, quyết định hình phạt đúng, nếu nhận thức sai sẽ đưa ra kết luận sai, quyết định hình phạt sai.Để kết luận về khả năng chứng minh của chứng cứ thì cần căn cứ vào quy định của pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật hình sự đối với mỗi hành vi phạm tội cụ thể.

– Đánh giá tổng hợp chứng cứ: Người đánh giá chứng cứ phải thấy được mối liên hệ chặt chẽ với nhau của các chứng cứ trong hệ thống chứng cứ và phải được xắp xếp theo một trật tự nhất định. Cần xem xét chứng cứ có mối liên hệ với các chứng cứ khác như thế nào, liên hệ trực tiếp hay gián tiếp, các chứng cứ có bổ sung hỗ trợ gì cho nhau không, vì chứng cứ trong một vụ án bao giờ cũng có mối liên hệ mật thiết, logic với nhau. Đánh giá tổng hợp các chứng cứ trong điều tra các vụ án về ĐVHD là hoạt động nhận thức của các chủ thể đánh giá chứng cứ đối với các chứng cứ đã thu thập được trong mối liên quan chặt chẽ với nhau nhằm xác định giá trị chứng minh của chúng và rút ra kết luận về hành vi phạm tội liên quan đến ĐVHD và các tình tiết khác. Quá trình đánh giá tổng hợp các chứng cứ là xem xét các chứng cứ đã đủ để chứng minh tất cả những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hay chưa. Khi đánh giá tổng hợp chứng cứ các chủ thể phải dựa vào những cơ sở như: những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá riêng lẻ, các nguyên tắc đánh giá chứng cứ, kiến thức nghiệp vụ và kinh nghiệm bản thân. Việc xem xét một cách toàn diện sẽ giúp cho bản chất vụ án được sáng tỏ và kết luận chính xác về hành vi diễn ra có phải là tội phạm về ĐVHD hay không? Nếu có thì đó là tội gì (Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã hay Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm)? Ai là người thực hiện hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật, bộ phận, sản phẩm của ĐVHD)? Tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Kết quả của quá trình kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn truy tố của VKS thể hiện ở quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng hoặc quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án hoặc quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung. Kết quả của quá trình kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử của Tóa án thể hiện ở một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án. Kết quả của quá trình kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa thể hiện việc Tòa án ra bản án, quyết định về vụ án hoặc ra quyết định hoãn phiên tòa (Phạm Mạnh Hùng, 2018, tr. 204).

3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong các vụ án về động vật hoang dã

3.1. Nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn, kỹ năng và phương pháp thu thập, đánh giá chứng cứ trong các vụ án về động vật hoang dã

ĐTV, KSV, Thẩm phán, Hội Thẩm muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, ngoài việc phải có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức tốt thì phải có trình độ hiểu biết, năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Hoạt động tố tụng là hoạt động tuân thủ pháp luật, chịu sự chế ước và giám sát của nhiều chủ thể khác, nên người tiến hành tố tụng phải vận dụng kiến thức pháp luật, sự hiểu biết xã hội để thể hiện rõ quan điểm của mình thông qua hoạt động đánh giá chứng cứ trong các vụ án về ĐVHD. “Thực tế đã chỉ ra rằng, để đánh giá chính xác trình độ năng lực của người tiến hành tố tụng nói chung, của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT và ĐTV nói riêng thì yếu tố cực kỳ quan trọng đó là dựa vào khả năng nhận thức đúng về bản chất của chứng cứ và vận dụng linh hoạt chiến thuật sử dụng chứng cứ chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự” (Trần Nguyên Quân, 2011, tr. 27).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (Hồ Chí Minh toàn tập – tập 5, 2004, tr. 269). Do vậy, ngoài kiến thức đã được trang bị cơ bản đã được đào tạo tại các trường chuyên nghiệp, ĐTV, KSV, Thẩm phán, Hội thẩm luôn luôn phải tự học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiên cứu các văn bản mới hướng dẫn về xử lý các vụ án liên quan đến ĐVHD, có kĩ năng nhận biết sơ bộ về loài, về cách thức giải quyết trong các trường hợp cứu hộ loài bị bắt. Ngoài ra, cần am hiểu các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý, khoa học kĩ thuật… Đây là những tri thức giúp cho việc thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình trong quá trình nghiên cứu, đánh giá chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội.

Cần xây dựng đội ngũ ĐTV, KSV, Thẩm phán có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tư tưởng lập trường kiên định, ủng hộ sự nghiệp đổi với và công cuộc cải cách tư pháp. Thường xuyên cho ĐTV, KSV, Thẩm phán, Hội thẩm được có cơ hội nghiên cứu, học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh; nghiên cứu, học tập, quán triệt các quan điểm, tư tưởng, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thường xuyên tìm hiểu, nghiên cứu các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên để hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm luôn gắn với sự lãnh đạo của Đảng, chịu sự quản lý, kiểm tra, giám sát của cấp trên và của các cơ quan, tổ chức, người dân.

3.2. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình đánh giá chứng cứ

Chấp hành đường lối và quan điểm của Đảng, trong hơn 55 năm qua, các cơ quan tư pháp đã nhận rõ sự cần thiết phải từng bước kế hoạch hóa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện mục tiêu chung (Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 2015, tr. 414). Việc tăng cường quan hệ phối hợp giữa CQĐT, VKS, Tòa án trong giải quyết các vụ án hình sự nói chung và trong hoạt động đánh giá chứng cứ đối với các vụ án về ĐVHD nói riêng là một yêu cầu tất yếu hiện nay.

Hoạt động giải quyết án hình sự là hoạt động phức tạp được pháp luật quy định cụ thể đối với hệ thống cơ quan khác nhau thực hiện, mỗi cơ quan được pháp luật pháp luật quy định thực hiện chức năng, nhiệm vụ riêng, có tính độc lập về tổ chức, hoạt động trong từng giai đoạn. Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả của hoạt động đánh giá chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội cần phải nâng cao chất lượng phối hợp giữa CQĐT, VKS, Tòa án ngay từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm đến khi vụ án được giải quyết bằng Bản án, Quyết định của Tòa án. Để đạt được điều này, ở mỗi cơ quan cần thống nhất cơ chế kiểm tra liên ngành đối với công tác điều tra, truy tố và xét xử; kịp thời phát hiện những thiếu sót, tồn tại để chấn chỉnh, yêu cầu khắc phục; kiến nghị với cấp trên và cấp ủy Đảng địa phương về những biện pháp tăng cường hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ riêng trong từng giai đoạn tố tụng hình sự nhưng hoạt động của cơ quan này có ảnh hưởng đến kết quả của các cơ quan khác. Nếu CQĐT thu thập chứng cứ đầy đủ, chất lượng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đánh giá chứng cứ của CQĐT, VKS và cả Tòa án. Để thực hiện tốt mối quan hệ ngay từ trong giai đoạn điều tra thì trước khi tiến hành thu thập chứng cứ, CQĐT cần chủ động thông báo cho VKS, tạo điều kiện thuận lợi cho VKS kiểm sát các hoạt động như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi… trong các hoạt động thu thập chứng cứ này, CQĐT, VKS cần chủ động phối hợp với nhau để tìm ra hướng giải quyết tốt nhất, chứng cứ được thu thập với chất lượng cao nhất. Có như vậy thì hoạt động đánh giá chứng cứ mới được thực hiện với kết quả cao nhất.

3.3. Đầu tư cơ sở vật chất và trụ sở làm việc, có chế độ đãi ngộ phù hợp đối với ĐTV, KSV, Thẩm phán

Hiện nay, mặc dù đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, cơ sở vật chất, điều kiện và phương tiện làm việc đã được đầu tư nhiều nhưng ở nhiều địa phương vẫn còn thiếu, thô sơ, lạc hậu, chưa bố trí đủ theo yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm. Đặc biệt là đối với các vụ án về ĐVHD, vẫn còn thiếu các phương tiện lưu giữ, bảo quản tang vật thu giữ được nên nhiều trường hợp xác động vật bị hư hỏng, phân hủy trong quá trình đợi xử lý. Nhiều trường hợp thiếu các phương tiện hỗ trợ, cứu hộ, thiếu nơi nuôi nhốt để chăm sóc, thiếu nguồn thức ăn khiến cho các loài động vật còn sống nhưng trong thời gian chờ xử lý lại bị chết do bệnh tật hoặc quá yếu. Bên cạnh đó, khi phân bổ ngân sách, cũng như khi quy định tiêu chuẩn, định mức diện tích trụ sở làm việc, trang thiết bị phục vụ cho công việc, định mức chi tiêu ngân sách, Nhà nước vẫn coi VKS, Tòa án như các cơ quan hành chính sự nghiệp khác. Thực tế cho thấy mức chi cho cán bộ, KSV, Thẩm phán còn thấp, mức chi cho công tác nghiệp vụ, mua sắm, sửa chữa trụ sở,… không đáp ứng được nhu cầu. Vì vậy, trong thời gian tới, bên cạnh việc giao nhiệm vụ, các cơ quan tiến hành tố tụng cần tiếp tục được quan tâm hơn nữa, tạo điều kiện hơn nữa về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công việc đảm bảo thực hiện chức năng của ngành của đơn vị được hiệu quả. Về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức hiện đang công tác trong các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải được quan tâm hơn nữa. Cần trang bị các công cụ, phương tiện, các trang thiết bị hiện đại, phù hợp cho việc phát hiện hành vi săn bắt, vận chuyển, nuôi nhốt, mua bán ĐVHD; đồng thời cần có các trang thiết bị hỗ trợ cho việc chăm sóc, cứu chữa cũng như bảo quản các tang vật thu giữ được./.

Theo Tạp chí Pháp luật và Phát triển số 1 + 2/2019

Tài liệu tham khảo
1. Đào Duy Anh (2010), Hán Việt từ điển, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
2. Vương Văn Bép (2011), Khái niệm chứng cứ trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 và hướng sửa
đổi, bổ sung, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học.
3. Nguyễn Văn Du (2006), Quá trình chứng minh trong vụ án hình sự ở nước ta, Luận án tiến sĩ Luật học, Viện
nhà nước và pháp luật – Viện khoa học xã hội Việt Nam.
4. Phạm Mạnh Hùng – Chủ biên (2018), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, NXB Lao động, Hà
Nội.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2004), tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội.
7. Trần Nguyên Quân (2011), Sử dụng chứng cứ trong hỏi cung bị can – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận
án tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân.
8. Từ điển Triết học (1986), NXB Tiến bộ.
9. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2015), Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của Viện kiểm
sát nhân dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
10. Vư-Sin -Ky, Lý luận chứng cứ tư pháp trong pháp luật Xô Viết, NXB Matxơcova, 1950.

Tin cùng chuyên mục