Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trước đại dịch Covid-19 ở Việt Nam hiện nay

Đánh giá tác giả:

Tóm tắt: Đại dịch Covid-19 đã và đang diễn ra hết sức phức tạp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội trên toàn thế giới. Nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã chung tay cùng với Chính phủ và nhân dân trong cuộc chiến chống lại đại dịch này. Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội giúp nâng cao uy tín của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh của bản thân doanh nghiệp. Rất nhiều doanh nghiệp đã thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình trong đại dịch Covid 19. Tuy nhiên, trên thực tế còn một số doanh nghiệp còn lợi dụng đại dịch để trục lợi và làm ảnh hưởng đến an sinh xã hội và công tác phòng chống dịch của đất nước. Bài viết này đề cập đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp gắn với thảm họa y tế toàn cầu Covid-19 và những giải pháp cần thực hiện nhằm nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội của mình đối với cộng đồng và đất nước.

Từ khóa: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, Đại dịch Covid-19, Thương hiệu doanh nghiệp

  1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trong xã hội hiện nay, đang hình thành xu hướng tiêu dùng thông minh, theo đó người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến chất lượng của sản phẩm mà còn quan tâm đến cách thức tạo ra sản phẩm đó, quan tâm trách nhiệm xã hội (TNXH) của các doanh nghiệp. Những làn sóng tẩy chay các doanh nghiệp kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, gây ô nhiễm môi trường diễn ra ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới. Do đó, bên cạnh việc tổ chức sản xuất kinh doanh vì lợi ích của mình các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững cần phải có trách nhiệm đối với cộng đồng, với xã hội. Trước áp lực của xã hội, các doanh nghiệp đã đưa TNXH vào chương trình hoạt động của mình nhằm tăng đến mức tối đa các tác dụng tích cực và giảm tới tối thiểu các hậu quả tiêu cực đối với xã hội.

Hiểu theo nghĩa thông thường thì trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình. Như vậy, có thể thấy rằng nói đến trách nhiệm là nói đến những hành vi của chủ thể gắn với lời nói và sự cam kết thực hiện. Mỗi thành viên trong xã hội cần có sự cam kết chỉ được thực hiện những hành vi không bị pháp luật cấm để không chỉ mang lại lợi ích cho mình, mà còn mang lại lợi ích cho xã hội. Trách nhiệm được tiếp cận từ nhiều góc độ song nổi bật nhất là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức hay trách nhiệm xã hội. Trách nhiệm pháp lý được qui định bởi pháp luật với nhiều dạng khác nhau tùy theo mức độ và lĩnh vực áp dụng như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự. Trách nhiệm đạo đức cũng được hiểu tùy theo lĩnh vực áp dụng. Trách nhiệm đạo đức công vụ, trách nhiệm nghề nghiệp là những dạng cụ thể của trách nhiệm đạo đức. Trách nhiệm xã hội có thể được hiểu theo nghĩa là trách nhiệm được xã hội mặc định cho các thành viên, không mang tính cưỡng chế thông qua hệ thống pháp luật. Trách nhiệm xã hội được áp dụng đối với nhiều nhóm chủ thể khác nhau và chủ yếu là những nhóm người hoạt động nghề nghiệp, ví dụ như trách nhiệm xã hội của luật su, của bác sỹ hay của doanh nghiệp. ISO trong Hướng dẫn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đưa ra định nghĩa sau:

The responsibility of an organization for the impacts of its decisions and activities on society and the environment, through transparent and ethical behavior that: 1. Contributes to sustainable development, including health and the welfare of society; Takes into account the expectations of stakeholders Is in compliance with applicable laws and consistent with international norms of behavior; Is integrated throughout the organization and practiced in its relationships (ISO 2011)

Khái niệm TNXH của doanh nghiệp lần đầu tiên xuất hiện trong trong công trình Trách nhiệm xã hội của doanh nhân của Howard Rothmann Bowen. Xuất hiện từ các đây 50 năm song giá trị của khái niệm TNXH càng ngày càng phát huy giá trị cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và nền dân chủ. Từ đó đến nay, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến thuật ngữ này, coi nó là một trong những công cụ thúc đẩy sự kết nội giữa tăng trưởng kinh tế và hòa nhập xã hội, nhất là sự hòa nhập, kết nối giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp. Howard Rothman Bowen ở thời điểm cách đây 67 năm cho rằng thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thường xuyên nói đến. Howard R. Bowen định nghĩa TNXH của doanh nghiệp gắn với những mục tiêu, giá trị mà doanh nghiệp (hay doanh nhân) theo đuổi nhưng liên quan đến giá trị và mục tiêu chung của xã hội. Nó (TNXHDN) hàm định nghĩa vụ của doanh nghiệp theo đuổi những chính sách, đưa ra các quyết định, đi theo những xu hướng được mong muốn xét theo các mục tiêu và giá trị của xã hội chúng ta. (Haward R. Bowen 1953, p 6) Hội đồng Kinh tế Thế giới (World Business Council) về sự phát triển bền vững cho rằng:

 CSR là một khế ước liên tục bằng kinh tế cống hiến cho sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống người lao động và gia đình của họ cũng như của cộng đồng và xã hội nói chung” (như trích dẫn trong Micheal 2003)

Bản chất của TNXHDN thể hiện khá rõ trong định nghĩa này. Đó là nghĩa vụ đạo đức của doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu của mình nhưng không được trái với đạo giá trị và mục tiêu của xã hội. TNXH được nghiên cứu ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế thị trường và nền dân chủ phát triển. Xu thế nghiên cứu và ứng dụng TNXH DN được chú trọng trong vài thập kỷ gần đây khi phát triển bền vững trở thành mục tiêu của nhân loại. Mỗi chính phủ, tổ chức hay doanh nghiệp đều có những quan điểm riêng tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình (Nguyễn Ngọc Thắng, 2010). Trên thực tế hiện nay, TNXH được thể hiện ở một số quan điểm chính như sau: (i) doanh nghiệp cho rằng nộp thế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khà là đã thực hiện TNXH rồi; (ii) hoặc cực đoan hơn, người ta không quan tâm đến TNXHDN mà quan tâm đến lợi ích của cổ đông, của doanh nghiệp; hoặc TNXH được hiểu chỉ là “lòng tốt”, việc làm “từ thiện” của các chủ doanh nghiệp. Từ năm 2003, Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng Thế giới đưa ra khái niệm về TNXHDN.

TNXHDN là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội. (Trích từ Nguyễn Phương Mai, 2013)

TNXHDN được xem là thực hành tốt để doanh nghiệp xem xét các vấn đề xã hội và môi trường. TNXHDN được thực hiện trên cơ sở phải tôn trọng pháp luật và cam kết với các bên có lợi ích liên quan, có khả năng gắn kết hoạt động kinh doanh với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đạo đức, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền con người và đáp ứng các mối quan tâm của khách hàng, nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của các chủ sở hữu doanh nghiệp, bên có liên quan và toàn xã hội, xác định rõ, ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực có thể từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức, 2009).

TNXHDN được thể hiện qua các mặt: (i) Bảo vệ môi trường; (ii) Đóng góp cho cộng đồng xã hội; (iii) Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp; (iv) Bảo đảm an toàn và lợi ích cho người tiêu dùng; (v) Quan hệ tốt với người lao động; (vi) Bảo đảm lợi ích cho cổ đông và người lao động trong doanh nghiệp. Tất cả các yếu tố này đều quan trọng như nhau, trong đó, bốn yếu tố đầu tiên thể hiện trách nhiệm bên ngoài của doanh nghiệp, còn hai yếu tố cuối thể hiện trách nhiệm bên trong của doanh nghiệp.

Như vậy, TNXH bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của doanh nghiệp đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Trong đó, có cả trách nhiệm về bảo vệ tài nguyên, môi trường mà về thực chất, cũng là có trách nhiệm chung với lợi ích cộng đồng xã hội, bao gồm cả những hoạt động nhân đạo, từ thiện, hoạt động đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước (Hoàng Ngọc Hải, 2019). Không ít doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách hiểu TNHX của doanh nghiệp một cách đơn giản. Trần Đình Phụng và những người khác (2015) đã nhận xét rất đúng như sau:

Các công ty vẫn tin rằng, CSR là chi tiền làm từ thiện, điều đó dẫn đến việc họ cố gắng trốn tránh các TNXH khác. Hơn nữa, do thiếu sự hướng dẫn chung, những hành vi đối phó và gian lận khi thực hiện CSR vẫn xảy ra.

TNXHDN chính là cam kết đạo đức của giới kinh doanh về sự đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận với thị trường thế giới, mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình. TNXHDN góp phần nâng cao chất lượng, giá trị thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp. Việc thực hiện TNXH giúp các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí sản xuất thông qua các phương pháp sản xuất an toàn, tiết kiệm, quản lý rủi ro và giải quyết khủng hoảng tốt hơn, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển bền vững. Ngoài ra, TNXHDN góp phần nâng cao hình ảnh quốc gia, tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Trong một thế giới “phẳng” hiện nay, công nghệ thông tin ngày càng phát triển với xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa, các nền kinh tế ngày càng gắn bó mật thiết với nhau. Hoạt động giao lưu thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Trước đây, để cạnh tranh các doanh nghiệp thường dụng biện pháp đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa để cạnh tranh trên thương trường. Thế nhưng hiện nay các doanh nghiệp chú ý tới việc củng cố hình ảnh, nâng cao uy tín, phát triển thương hiệu thông qua việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh. Các doanh nghiệp muốn khẳng định được thương hiệu trên thị trường thì điều mà họ hướng tới bây giờ là việc thực hiện tốt TNXHDN. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước cũng như tư nhân cũng đã và đang phải chuyển mình mạnh mẽ để theo kịp tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Một trong những yêu cầu của tiến trình đổi mới là tính trách nhiệm đối với xã hội. TNXHDN đang là xu thế lớn mạnh trên thế giới, trở thành một yêu cầu “mềm” đối với các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập (Luật NQH Việt Nam, 2019). Vai trò và giá trị của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 tù cả hai khía cạnh. Một mặt, doanh nghiệp thể hiện tính trách nhiệm của mình đối với xã hội, cùng chung tay chia sẻ gánh nặng về tổn thất kinh tế với Chính phủ và mặt khác thể hiện tính bền vững của bản thân doanh nghiệp. Trách nhiệm này được điều chỉnh bởi lương tâm của nhà quản lý doanh nghiệp.

  1. Thực trạng thực hiện TNXHDN trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19

Từ đầu năm 2020 đến nay, cả thế giới đang tích cực chống đại dịch Covid-10 do chủng SARS-CoV-2 gây ra bắt nguồn từ thành phố Vũ Hán (Trung Quốc) hiện đã lan ra toàn cầu. Tính đến thời điểm đầu tháng 4 năm 2020 đã có hơn 1,7 triệu người nhiễm, hơn 100.000 người đã tử vong trên hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Mỹ, Châu Âu, Iran và thành phố Vũ Hán (Trung Quốc). Đại dịch Covid-19 đã buộc nhiều Chính phủ phong tỏa toàn bộ đất nước hoặc một phần nhằm ngăn chặn virus lây lan trong cộng đồng. Đại dịch Covid-19 đang giáng một đòn nặng vào nền kinh tế – xã hội toàn cầu với hậu quả cực kỳ nghiêm trọng, vượt xa các trận dịch trước đây. Trong thời đại toàn cầu hóa, nền kinh tế của các nước đều đan xen và phụ thuộc lẫn nhau, nên việc xáo trộn nền kinh tế của những quốc gia đứng đầu thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh, Italia v.v sẽ kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho phần còn lại của thế giới. Đại dịch làm ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa, kinh tế … Trong lĩnh vực y tế, các trang thiết bị y tế thiếu hụt nghiêm trọng, giá cả tăng phi mã, nhiều nhà máy xí nghiệp đã phải chuyển đổi để sản xuất các thiết bị y tế nhằm đáp ứng được nhu cầu hiện tại. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), hiện nay gần 1,4 tỷ trẻ em trên toàn thế giới (tương đương 80% học sinh trên thế giới) không được đi học do đại dịch Covid 19 (Lan Chi 2020). Trong lĩnh vực văn hóa, nhiều ca khúc, videoclip về phòng chống dịch Covid-19 ra đời nhằm tuyên truyền cho mọi người phòng chống dịch, nhiều sự kiện thể thao văn hóa bị hủy hoặc hoãn chưa xác định được thời gian quay trở lại. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế các ngành đầu tư tài chính, thương mại dịch vụ, xuất nhập khẩu, công nghệ, sản xuất công nghiệp, hàng không dân dụng, du lịch, năng lượng, giao thông vận tải đều bị ảnh hưởng cực kì nghiêm trọng.

Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid. Chính phủ với nguồn ngân sách có hạn đang phải dồn lực đối phó những tổn thất kinh tế, xã hội. Đây chính là lúc các doanh nghiệp thể hiện TNXH của mình. Hậu quả mà đại dịch để lại sẽ rất lớn khi nền kinh tế trì trệ, các hoạt động sản xuất kinh doanh hầu hết bị tạm ngừng. Tuy nhiên, bẩn thân doanh nghiệp chịu thiệt hại nặng nề. Thực tế cho thấy, đại dịch Covid-19 tác động rất nghiêm trọng đến tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Kết quả khảo sát trên quy mô hàng ngàn doanh nghiệp chỉ ra “phơi nhiễm” Covid-19 với doanh nghiệp và cả nền kinh tế đang diễn biến trầm trọng hơn nhiều so với mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh trên người. Đại dịch Covid-19 đã làm cho 82% doanh nghiệp Việt Nam giảm doanh thu, nhiều doanh nghiệp giảm đến hơn 50%. (An Linh 2020) Chỉ trong 3 tháng đầu năm 2020 Vietnam Airlines bị lỗ hơn 2.300 tỷ đồng. (Đồng Phước 2020) Trong khi dịch Covid-19 đang diễn biến khó lường, nhiều doanh nghiệp vừa căng mình duy trì hoạt động kinh doanh, vừa ra sức thực hiện TNXH, sát cánh cùng Chính phủ và người dân ứng phó với dịch bệnh. Chính bối cảnh hiện tại đang là phép thử đối TNXH của doanh nghiệp đối với người lao động, đối với xã hội và đối với nhà nước. Làm sao để người lao động không thất nghiệp? Có thu nhập để duy trì cuộc sống? Làm saao làm tròn trách nhiệm đối với những nghèo trong xã hội, trách nhiệm cùng toàn xã hội chống dịch?.

2.1. Giá trị của TNXHDN trong cuộc chiến chống đại dịch

Các doanh nghiệp trên thế giới đã chung tay góp sức với Chính phủ trong cuộc chiến chống Covid-19. Ngoài ủng hộ tiền, vật tư y tế, lương thực, thực phẩm, các doanh nghiệp đã cùng sản xuất các thiết bị y tế phục vụ cho cuộc chiến chống Covid-19 dựa trên công nghệ, kỹ thuật hiện có. Tại Mỹ, các doanh nghiệp lớn như Apple, Facebook, Tesla đã xuất kho tài trợ hàng triệu khẩu trang y tế cho các bệnh viện. Riêng Facebook, họ đang hỗ trợ các bệnh viện ở San Francisco trong việc mở rộng khâu xét nghiệm và tặng thêm 720.000 chiếc khẩu trang y tế. Các đại gia trong lĩnh vực sản xuất ô tô như Tesla, General Morors và Ford cũng đã chuyển 1 phần xưởng sản xuất ô tô để tham gia sản xuất máy trợ thở. General Electric và Ford đã hợp tác với hãng thiết bị y tế 3M để sản xuất máy trợ thở và mặt nạ phòng độc. Alphabet (công ty mẹ của Google) thì góp sức bằng cách dùng hệ thống trí tuệ nhân tạo DeepMind của họ hỗ trợ các nhà khoa học Mỹ trong việc tìm ra vắc-xin ngừa virus Corona chủng mới. Hãng chuyên về thu thập và xử lý dữ liệu Palantir (Mỹ) đã hợp tác với Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (Centers for Disease and Control Prevention – CDC) để lập những mô hình về sự bùng phát của dịch bệnh để CDC có thể đối phó hữu hiệu nhất. (Trần Quang Vinh 2020) Tại Italia hãng ô tô Lamborghini thực hiện chuyển đổi quy trình sản xuất một số bộ phận tại nhà máy của hãng để sản xuất khẩu trang y tế phẫu thuật và tấm chắn bảo hộ cho Bệnh viện trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19.

Tại Việt Nam, nhiều tập đoàn nước ngoài hay có vốn nước ngoài tích cực thực hiện TNXH của mình. Tập đoàn Toyota Việt Nam ủng hộ 10 tỷ đồng, tập đoàn Novaland đã ủng hộ gần 6 tỷ đồng nhằm góp phần chung tay phòng, chống và đẩy lùi dịch COVID-19 tại TP.HCM và một số tỉnh thành. Tập đoàn DELTA tặng tổng số tiền 600 triệu đồng Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh. Để hỗ trợ người dân ngăn ngừa dịch viêm phổi cấp do chủng mới của virus corona gây ra, Công ty CP Everpia – doanh nghiệp sở hữu Everon phát miễn phí 50.000 khẩu trang vải tại hơn 100 điểm bán phía Bắc. Công ty TASECO ủng hộ 50.000 suất ăn tới khu cách ly tập trung. Ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp ủng hộ tiền bạc, vật chất và các trang thiết bị y tế cho cuộc chiến chống Covid 19.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, nhiều cơ quan, doanh nghiệp trong nước đã chung tay ủng hộ cho cuộc chiến chống lại đại dịch Covid-19. Ngay từ những ngày đầu tháng 3/2020, các cơ sở kinh doanh tại các thành phố lớn đã tạm thời đóng cửa, hạn chế tập trung đông người, nhằm hạn chế virus lây lan trong cộng đồng. Các tổ chức, doanh nghiệp tổ chức các buổi họp online thông qua mạng internet. Nhiều doanh nghiệp quan tâm, chăm lo chu đáo vì sự an toàn của người lao động đã cho người lao động nghỉ việc nhưng vẫn hưởng nguyên lương. Khi đến cơ quan làm việc, người lao động được phát khẩu trang và nước sát khuẩn miễn phí. Nhiều cá nhân, nhiều doanh nghiệp đã tình nguyện đóng góp nguồn lực tài chính, thời gian, sức lực, kinh nghiệm và những sáng kiến thiết thực cho cuộc chiến này. Hiện nay, đã có hàng trăm tỷ đồng do các tập đoàn, công ty, ngân hàng, các tổ chức, cá nhân đóng góp cho việc phòng, chống dịch. Các ngân hàng lớn của Việt Nam đã đóng góp 120 tỉ đồng vào quỹ phòng chống đại dịch Covid-19 như: Techcombank ủng hộ 10 tỷ đồng, VPBank -10 tỷ đồng, HDBank – 10 tỷ đồng, Ngân hàng Hàng Hải – 10 tỷ đồng, Sacombank – 10 tỷ đồng, SeABank – 5 tỷ đồng, Ngân hàng Bắc Á – 5 tỷ đồng, TPBank – 5 tỷ đồng… (Mai Liên 2020) Nhiều tập đoàn, công ty ủng hộ với khoản tiền lớn, trong đó Vinamilk – 10 tỷ đồng, Bảo hiểm xã hội Việt Nam – 2 tỷ đồng, Vingroup – 5 tỷ đồng, FLC – 5 tỷ đồng, T&T Group và SHB – 10 tỷ đồng, PNJ – 2 tỷ đồng, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI – 4 tỷ đồng, Tập đoàn VNPT – 3 tỷ đồng. (Thông tin Đối Ngoại 2020).

Bên cạnh việc ủng hộ tiền mặt nhiều doanh nghiệp ủng hộ vật chất cho Chính phủ, các địa phương, cơ sở y tế. Tập đoàn TH đã trao tặng 1 triệu ly sữa tươi cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để hỗ trợ các bệnh nhân, những người đang theo dõi cách ly tập trung, các y, bác sĩ, cán bộ để tăng cường sức khỏe. Grab Việt Nam trao 100.000 khẩu trang y tế cho Bộ Y tế để gửi tặng 33 trung tâm y tế thuộc 7 tỉnh biên giới. Công ty Cổ phần Y tế Danameco trao tặng cho Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh 30.000 khẩu trang y tế, 1.000 bộ đồ chống dịch cùng 5 máy monitor theo dõi bệnh nhân. Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam tặng Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Ninh 200.000 khẩu trang chống dịch. VIETCREDIT trao tặng bệnh viện 1.200 bộ đồ bảo hộ. Hội doanh nhân trẻ việt nam ủng hộ 10.000 bộ kit phát hiện virus corona. PNJ cũng đã có những đóng góp kịp thời cho chính phủ khi đồng hành tài trợ chương trình sản xuất 10.000 bộ kit xét nghiệm virus Covid-19. Nhiều doanh nghiệp cũng đã đến từng trung tâm y tế, công an phường để trao tặng những bộ quần áo chống dịch, khẩu trang, chai nước rửa tay. Nhiều doanh nghiệp ủng hộ lương thực cho công cuộc chống dịch như Công ty TNHH sả‎n xuất, vận tải, thư‎ơng mại, xuất nhập khẩu Bích Thủ‎y của “đại gia chân đất” Trần Thị Bích Thủy ở Bắc Giang đã quyên góp 50 tấn gạo cho khu vực cách ly ở tỉnh và một số địa phương khác. Công nghệ cũng được huy động tối đa để hỗ trợ cung cấp thông tin chống dịch. Các tập đoàn viễn thông lớn như Viettel, VNPT, FPT đã tăng gấp đôi tốc độ đường truyền Internet, giúp cho mọi người có thể truy cập nhanh chóng các tin tức về cuộc chiến chống Covid-19 của Chính phủ. Việc đầu tư cho các công trình nghiên cứu khoa học chống virus SARS-CoV-2 cũng được các doanh nghiệp, tổ chức quan tâm.

Các doanh nghiệp cũng sẵn sàng đóng các khoản thuế phí, không chậm trễ hay xin lùi thời hạn để có nguồn tài chính đầu tư cho việc mua sắm trang thiết bị cho các cán bộ, chiến sỹ, nhân viên thuộc lực lượng quân đội, công an, y tế, phóng viên tác nghiệp ở những vùng khó khăn. Doanh nghiệp cũng sẵn sàng tập trung nguồn cung sản phẩm cho thị trường trong nước để ứng phó với dịch bệnh. Ở Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều doanh nghiệp đặt TNXH, sức khỏe cộng đồng làm mục tiêu hàng đầu, sẵn sàng san sẻ với cộng đồng, thắp lên niềm tin, hy vọng, sự lạc quan và tinh thần dân tộc bất diệt. TNXHDN góp phần làm yên lòng đội ngũ y, bác sĩ, các chiến sĩ quân đội, công an trên tuyến đầu chống dịch. Họ hiểu đằng sau họ là hậu phương vũng chắc với trụ cột là các doanh nghiệp đang phát huy trách nhiệm cao độ trách nhiệm xã hội. Việc doanh nghiệp phát huy tốt TNXH đã đóng góp rất lớn vào những thành công rất đỗi tự hào của đất nước trong cuộc chiến chống đại dịch.

Thứ nhất, trong cuộc chiến chống dịch, Việt Nam đã không chế được dịch với số lượng người nhiễm chưa đến 300 người và chưa có ai tử vong cho đến ngày 22 tháng 4 năm 2020. Thành tích này khiến nhiều quốc gia và WHO thán phục và đánh giá cao.

Thứ hai, tuy có nhiều tổn thất về kinh tế song Việt Nam vẫn đứng vững trên các lĩnh vực. + Dù thực hiện cách ly cộng đồng trong một thời gian nhất định nhưng các dịch vụ thiết yếu vẫn được đảm bảo, không có tình trạng tích trữ, đầu cơ hàng hóa nghiêm trọng gây xáo trộn xã hội. Hoạt động của các doanh nghiệp tuy giảm, tuy tạm đóng cửa không không diễn ra tình trạng sa thải lao động. + Giáo dục: Học sinh sinh viên không đến trường nhưng hệ thống giáo dục được duy trì bằng hình thức dạy và học online nhờ sự giúp đỡ của các công ty trong lĩnh vực viễn thông và đài truyền hình. + Xuất nhập khẩu được duy trì dù mức độ tăng trưởng tuy chậm nhưng, không bị đình trệ. + Trật tự xã hội ổn định là thành công lớn trong cuộc chiến chống dịch Covid-19. Cùng với những chia sẻ khó khăn cùng với các quốc gia khác, Việt Nam đã nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế.

2.2. Những tồn tại trong thi hành TNXHDN qua cuộc chiến chống Covid-19

Giá trị của TNXHDN đã được khẳng định qua cuộc chiến chống dịch Covid 19. Tuy nhiên, cuộc chiến này cũng làm bộc lộ một số tồn tại của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Thứ nhất, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ỏ Việt Nam chưa trở thành nhận thức thường xuyên và trở thành một yếu tố hiện diện trong các nhà quản lý doanh nghiệp dù đó là chủ doanh nghiệp hay những người đại diện chủ doanh nghiệp. Như những nhà biên tập tạp chí Journal of Management Studies phân tích, trách nhiệm xã hội là ‘những tình huống mà doanh nghiệp vượt lên sự tuân thủ và thực hiện các hành động có thể tạo ra những giá trị xã hội nhất định cho xã hội trên cả lợi ích của mình, trên cả sự đòi hỏi của pháp luật’1 . Phân tích ở khía cạnh này có thể thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa vượt lên được sự tuân thủ, thậm chí có những vi phạm, lợi dụng đại dịch covid-19 để trục lợi. Từ khi dịch bùng phát tại Trung Quốc, nhiều doanh nghiệp đã thể hiện sự thiếu TNXH, thiếu đạo đức văn hóa trong sản xuất kinh doanh. Lợi dụng sự khan hiếm của các thiết bị vật tư y tế như khẩu trang, các doanh nghiệp đã tăng giá khẩu trang lên gấp 10 lần. Một số doanh nghiệp đầu cơ găm hàng nhằm bán giá cao kiếm lời. Khi đội quản lý thị trường vào cuộc thì một số đơn vị kinh doanh đã ngưng bán khẩu trang, khiến cho người dân không mua được khẩu trang, gây hoang mang cho người dân khi dịch bệnh đang ngày càng diễn biến phức tạp. Một số doanh nghiệp còn bán hàng kém chất lượng cho người dân, nâng giá lương thực, thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu khác nhằm trục lợi.

Thứ hai, nhiều doanh nghiệp chưa vượt qua được cả việc tuân thủ các qui định của nhà nước, một yếu tố quan trọng của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Điều này thể hiện ở tình trạng doanh nghiệp nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội, chưa thực hiện tốt việc đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động khi cho người lao động nghỉ việc do giảm qui mô sản xuất. (Ngô Sỹ Trung, 2017) Yếu tố quan trọng của TNXH của doanh nghiệp là biến việc tuân thủ pháp luật thành giá trị đạo đức. Từng nào doanh nghiệp còn tìm cách né tránh, lợi dụng các khoảng trống của doanh nghiệp thì những hoạt động từ thiện, đóng góp cho cộng đồng vẫn chưa tạo được trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đúng nghĩa. Không ít doanh nghiệp trong cuộc chiến chống đại dịch thực hiện việc quảng bá hình ảnh thông qua những đóng góp.

Thứ ba, vai trò của các hiệp hội của doanh nghiệp trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chưa rõ nét qua cuộc chiến chống Covid 19. Những hạn chế ở phân tích ở trên phần lớn là do doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm xã hội song cũng do một phần ở vai trò của các hiệp hội. Các hiệp hội chú trọng nhiều đến việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, phản ánh các yêu cầu của doanh nghiệp về mặt chính sách song chưa chú trọng nhiều đến yếu tố phát triển bền vững của doanh nghiệp thông qua việc thực hiện trách nhiệm xã hội.

  1. Một số giải pháp về nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp rút ra từ cuộc chiến chống đại dịch Covid-19

Thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp chưa hiểu biết đầy đủ về TNXH, coi thực hiện TNXH chỉ là tham gia hoạt động từ thiện, đóng góp cho xã hội. Để thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, cần có những giải pháp phù hợp hơn trong thời gian tới. Những giải pháp này được phân tích và kiến nghị dựa trên thực tiễn chống Covid vì theo tôi, cuộc chiến này là phép thử đáng tin cậy cho trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Thứ nhất, cần tuyên truyền một cách rộng rãi trong cộng đồng doanh nghiệp vai trò của trách nhiệm xã hội trong phát triển bền vững của doanh nghiệp. Như đã phân tích ở trên nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa nhận thức đúng nên coi nhẹ TNXH. Trong giải pháp này, vai trò của các hiệp hội cần được phát huy tối đa. Ở một số hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật cần có sự kết hợp tuyên truyền về TNXHDN. Nhận thức của doanh nghiệp không thể có nếu điều kiện đầu tiên là thông tin và điều kiện tiếp cận thông tin về TNXHDN. Cần tuyên truyền, giáo dục cho tất cả các doanh nghiệp, trước hết là các chủ doanh nghiệp về TNXHDN để họ hiểu rằng TNXHDN không phải chỉ bó gọn trong công tác từ thiện, để việc thực hiện TNXHDN trở thành động cơ của các chủ doanh nghiệp. Việc thực hiện TNXHDN trước hết cần được xem là một hành vi đạo đức và được điều khiển bằng động cơ đạo đức. Doanh nghiệp cần được tuyên truyền để nhận thức đầy đủ về TNXHDN vì điều này ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, dù khi kết hợp với phổ biến giáo dục pháp luật thì tuyên truyền về TNXHDN cần được hướng tới khía cạnh đạo đức, khía cạnh trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội. Sự kết hợp yếu tố kinh tế, yếu tôs pháp lý và yếu tố đạo đức trong trách TNXHDN sẽ làm cho doanh nghiệp nhận thức nó đầy đủ và sâu sắc và mang lại hiệu quả tốt hơn. Nghiên cứu so sánh của Nichol Merill 2 chỉ ra sự cần thiết phải nhận diện và thực hiện các yếu tố này theo nguyên lý “đạo đức tốt thì kinh doanh tốt”.

Thứ hai, trong bối cảnh hiện tại, thể chế xã hội chưa được nhận thức đầy đủ từ phía cơ quan nhà nước, việc ban hành một số qui định pháp luật tạo nền tảng cho trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là rất cần thiết. Những qui định này hướng tới việc buộc các cơ quan nhà nước chấp thuận những bộ qui tắc đạo đức của doanh nghiệp, tôn trọng sự lựa chọn của doanh nghiệp thay vì gạt bỏ vì lý do pháp luật chưa cho qui định. Những cam kết của doanh nghiệp dựa trên trách nhiệm xã hội của mình thường vượt trên sự tuân thủ pháp luật theo công thức A+ trong đó A là sự tuân thủ và + chính là giá trị xã hội gia tăng. Trong thực tiễn hiện tại của đất nước, nhiều sự nhũng nhiễu, đòi hỏi được hối lộ của các quan chức nhà nước thường dựa trên lý do khá phổ biến: Pháp luật chưa qui định cũng như mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu hành lang pháp lý, chưa có luật hay quy định pháp lý. Sự xuất hiện nền tảng pháp lý chắc chắn sẽ thúc đẩy TNXHDN phát triển. Tuy nhiên, khi ban hành các qui định pháp luật tạo nền tảng cho TNXHDN thì cần phân biệt rõ giữa trách nhiệm này với trách nhiệm pháp lý. Thứ ba, song song với việc đẩy mạnh tuyên truyền về TNXHDN, cần đẩy mạnh việc thúc đẩy thực hiện. Một trong những giải pháp thực hiện TNXHDN là triển khai các báo cáo bền vững. Báo cáo bền vững có vai trò quan trọng trong phát huy TNXHDN. Báo cáo bền vững được xây dựng để công công khai, minh bạch và giải trình nỗ lực của doanh trong các hoạt động cụ thể nhằm phát triển bền vững. Trong các nội dung của báo cáo phát triển bền vững luôn có những thông tin liên quan đến TNXHDN. Báo cáo phát triển bền vững sẽ minh chứng khá rõ mức độ thực hiện TNXHDN. Những hoạt động quảng bá, từ thiện hay tài trợ nhỏ lẻ không phải là nội dung của báo cáo phát triển bền vũng. TNXHDN trong báo cáo phát triển bền vững liên quan đế nhũng nội dung như hiệu quả kinh tế, hài hòa xã hội và thân thiện với môi trường. Ở Việt Nam, rất ít doanh nghiệp thực hiện báo cáo phát triển bền vững. Hiện tại chỉ mới một số doanh nghiệp lớn như Vinamilk, Tập đoàn Bảo Việt (BVH), Công ty cổ phần Dược Hậu Giang (DHG v.v thực hiện báo cáo phát triển bền vững . Số lượng quá ít so vói số lượng doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam. Chính vì vậy, thúc đẩy doanh nghiệp lập báo cáo phát triển bền vũng sẽ góp phần phát triển TNXHDN.

  1. Kết luận

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tương đối mới mẻ với Việt Nam. Vai trò của TNXHDN là rất lớn xét trên nhiều phương diện. Đối với nhiều quốc gia thì TNXHDN đang trở thành một yếu tố của quản trị tốt và được thực hành khá rộng rãi. TNXHDN ở Việt Nam đang ở giai đoạn đầu tiên. Ngay ở những bước ban đầu nay, TNXHDN đã có được một phép thử khá mạnh mẽ: Cuộc chiến chống đại dịch. Phép thử này cho thấy giá trị to lớn của TNXHDN và những hạn chế trong triển khai nó ở Việt Nam. Với TNXH của mình, các doanh nghiệp sẽ là chỗ dựa của Nhà nước, của cộng đồng khi đất nước phải đối mặt những khó khăn, những thách thức. Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 sự kết hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp đã góp phần giảm tối đa những ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch, bình ổn xã hội và phát triển kinh tế đất nước. Thời điểm này chính là thời cơ tập trung thúc đẩy thực hiện TNXHDN, biến nó thành một thành tố của quản trị tốt ở đất nước ta.

1. Doh, J., and Guay, T. (2006): “Corporate Social Responsibility, Public Policy, and NGO activism in Europe and the United States: An institutional-stakeholder perspective” Journal of Management Studies, Vol 43(1), pp 47-73
2. Nichole Merill 2006 ‘Doing Good in Society: A comparative study of the communication of the ethical aspects of Corporate Social Responsibility in Germany and the US’ CCG 10th Semester Thesis, Aalborg University
3. Phạm Thị Minh Hồng 2016 ‘Vai trò của báo cáo phát triển bền vững đối với doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập’ Tạp chí tài chính số 7.

Tài liệu tham khảo:
1. Bowen HR. Social responsibilities of the businessman. University of Iowa Press, 2013.
2. Lan Chi 2020 ‘UNESCO: Gần 1,4 tỷ học sinh trên toàn thế giới đang nghỉ học vì Covid-19’ Báo Tài nguyên và
Môi trường số ra ngày 28 tháng 3 <https://baotainguyenmoitruong.vn/unesco-gan-1-4-ty-hoc-sinh-tren-toan-the-gioidang-nghi-hoc-vi-covid-19-302056.html >
3. Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức. Trách nhiệm xã hội của DN – (CSR): Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi
mới quản lý nhà nước đối với CSR ở Việt Nam, 2009.
4. Emagazine 2020 ‘Covid 19 – Doanh nghiệp chung tây chống dịch’ số ra 7 tháng 4 <https://enternews.vn/covid19-cap-nhat-danh-sach-doanh-nghiep-chung-tay-phong-chong-dich-168911.html>
5. Hoàng Ngọc Hải 2019 ‘Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế’ Tạp chí
Tài chính số ra ngày 5 tháng 8 <http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiepviet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-quoc-te-310809.html>
6. Phạm Thị Minh Hồng 2016 ‘Vai trò của báo cáo phát triển bền vững đối với doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ
hội nhập’ Tạp chí tài chính số 7
7. http://knacert.com.vn/blogs/tin-tuc/loi-ich-khi-thuc-hien-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep
8. ISO 2011 ‘Guidances on Social Responsibility of Business’ <https://asq.org/quality-press/displayitem?item=T866E>
9. Mai Liên 2020 ‘DOJI chia sẻ khó khăn với hai bệnh viện tuyến đầu chống dịch’ Hà Nội mới số ra 16 tháng 3
<http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Doanh-nghiep/961287/doji-chia-se-kho-khan-voi-hai-benh-vien-tuyen-dauchong-dich>
10. An Linh 2020 ‘VCCI: Covid-19 khiến 82% doanh nghiệp Việt giảm doanh thu’ Dân Trí số 7 tháng 4 <https://beta.
dantri.com.vn/kinh-doanh/nhung-doanh-nghiep-bi-covid-19-tan-pha-den-muc-song-do-chet-do-20200407133500275.
htm>
11. Luật NQH Việt Nam 2019 ‘Trách nhiệm xã hội cuả doanh nghiệp – Lý thuyết và thực tiễn Việt Nam hiện nay’ số
ra 13 tháng 8 <https://luatnqh.vn/trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-ly-thuyet-va-thuc-tien-o-viet-nam-hien-nay/>
12. Nguyễn Phương Mai. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành dệt may Việt Nam-Trường hợp Công
ty Cổ phần May Đáp Cầu, 2013.
13. Micheal, B. (2003): “Corporate Social Responsibility in International Development: An Overview and Critique”
Corporate Social Responsibility Environmental Management, Vol 10(3), pp 115-128
14. Trần Đình Phụng, Trần Thái Hoàng, Nguyễn Thị Tuyết Trinh 2019 ‘Nghiên cứu mối quan hệ giữa trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp với kết quả tài chính tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn TP. Hồ
Chí Minh’ Tạp chí Công thương số 24 tháng 10
15. Đồng Phước 2020 ‘Giới công nghệ Mỹ làm gì để chống Covid 19’ thanhnien.vn số 29 tháng 3 <https://
thanhnien.vn/cong-nghe/gioi-cong-nghe-my-lam-gi-de-chong-dich-covid-19-1203036.html>
16. Nguyễn Ngọc Thắng. Gắn quản trị nhân sự với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 26 (2010) 232-238.
17. Thông tin Đối Ngoại 2020 ‘Doanh nghiệp và cộng đồng “dìu nhau” vượt qua đại dịch Covid-19’ số ra 16 tháng
3 <http://tapchithongtindoingoai.vn/ kinh-te-dau-tu/doanh-nghiep-va-cong-dong-diu-nhau-vuot-qua-dai-dich-covid-19-32843>
18. Hồng Thuận 2020 ‘Chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp bị ảnh hưởng Covid-19’ Thư viện pháp luật số ra
ngày 16 tháng 4 < https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/go-roi-phap-ly-phat-sinh-do-covid-19/28156/chinh-sach-ho-trodoi-voi-doanh-nghiep-bi-anh-huong-covid-19>
19. Ngô Sỹ Trung 2017 ‘Phân tích một số ưu điểm và hạn chế trong thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp tư nhân’ Công thương số ra ngày 22 tháng 8 < http://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/phan-tich-mot-so-uudiem-va-han-che-trong-thuc-hien-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-tu-nhan-49139.htm >.
20. Trần Quang Vinh 2020 ‘Dịch COVID-19: Từ quyết sách của Chính phủ – lan tỏa tính nhân văn và trách nhiệm’
Báo ảnh Dân tộc và Miền núi số 8 tháng 4 <https://dantocmiennui.vn/xa-hoi/dich-covid-19-tu-quyet-sach-cua-chinhphu-lan-toa-tinh-nhan-van-va-trach-nhiem/285561.html>.

TS. Đào Ngọc Tuấn

TS. Giảng viên, Phó Trưởng khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Luật Hà Nội 1

Theo Tạp chí Pháp luật và Phát triển số 3 + 4/2020

(sao chép, dẫn nguồn phải được sự đồng ý bằng văn bản của Ban biên tập)

Tin cùng chuyên mục