LAW & DEVELOPMENT - ISSN: 0866-7500
LAW & DEVELOPMENT
ISSN: 0866-7500
Phapluatphattrien.vn
social  social  social  social 
    Mới Nhất    Đọc Nhiều
Quy định về nồng độ cồn: Kì vọng và những bất cập trong thực tiễn thi hành Hội nghị Đảng Đoàn – Ban Thường vụ Hội Luật Gia Việt Nam lần thứ 19, Khóa III – Mục tiêu kỳ vọng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc Tết lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước Hội thảo khoa học “Xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường chứng khoán phái sinh” Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản

Khung pháp luật của EU trong lĩnh vực an sinh xã hội và những hàm ý đối với việc hài hòa lĩnh vực này trong khuôn khổ ASEAN ở khía cạnh tư pháp quốc tế

14:44 | 27/07/2022

Tóm tắt: Cộng đồng ASEAN (Cộng đồng) cam kết tăng cường hợp tác và liên kết khu vực dựa trên trụ cột chính gồm Cộng đồng chính trị - an ninh (APSC), Cộng đồng kinh tế (AEC) và Cộng đồng văn hóa – xã hội (ASCC). Mục tiêu của Cộng đồng là hướng tới con người trong đó đảm bảo an sinh xã hội và phát triển kinh tế xã hội là mục tiêu cực kỳ quan trọng của Cộng đồng. Bài viết này nhận diện và phân tích khung pháp luật ASXH Liên minh Châu  u (EU) VỀ ASXH và di chuyển tự do không biên giới, đồng thời đánh giá thực trạng pháp luật ASXH các quốc gia khu vực ASEAN ở khía cạnh hài hoà hoá pháp luật. Trên cơ sở những phát hiện  từ các nghiên cứu này, bài viết đề xuất, kiến nghị ban đầu cho việc hài hòa hóa pháp luật về ASXH ở ASEAN ở khía cạnh tư pháp quốc tế.
Từ khoá: An sinh xã hội; Khung pháp luật An sinh xã hội; Liên minh Châu  u; Cộng đồng ASEAN; Hài hoà hoá pháp luật, Pháp luật an sinh xã hội
Abstract: Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) with its commitments to strengthen regional cooperation and connectivity through the formation of Political-Security, Economic and Cultural-Social Communities. The goal of the Community is for the people, and therefore ensuring of social security based on socio-economic development is an extremely important goal of each country. This article identifies and analyzes the European Union (EU) social security legal framework on social security and free transnational, assesses the harmonization of the current social security legislation in ASEAN countries. On the basis of the findings from these studies, the article proposes and makes initial recommendations for the harmonization of the law on social security in ASEAN in terms of international justice.
Keywords: Social security; Legal framework of Social Security; European Union; ASEAN Community; Harmonization of law, Law on social security

1. Khái quát về an sinh xã hội và khung pháp luật điều chỉnh an sinh xã hội ở Liên minh Châu  u
1.1. An sinh xã hội ở Liên minh Châu Âu

Với EU bảo đảm an sinh xã hội cho người dân là mối quan tâm quan trọng không kém gì phát triển kinh tế của EU và hài hòa hóa pháp luật của các quốc gia thành viên để đảm bảo tốt ASXH được đặc biệt chú trọng. An sinh xã hội được đảm bảo bằng việc thiết lập các cơ chế bảo vệ đối với các thành viên trong các trường hợp gặp phải rủi ro, biến cố ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của mỗi cá nhân. An sinh xã hội theo Tổ chức lao động quốc tế đề cập trong các Công ước, trong các khuyến nghị của mình bao gồm các nội dung chính là: (i) Các chế độ bảo hiểm xã hội (nhằm bảo vệ thu nhập); (ii) Bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khoẻ (nhằm bảo vệ sức khoẻ và thanh toán chi phí y tế); (iii) Các chế độ trợ giúp xã hội (hỗ trợ các điều kiện sống cơ bản) và (iv) Đảm bảo quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (tiếp cận bình đẳng các dịch vụ xã hội cơ bản). Một trong những quốc gia có ảnh hưởng lớn trong EU chính là nơi ra đời của ASXH. Cụ thể, nước Đức chính là quốc gia đầu tiên trên thế giới thực hiện một chương trình ASXH hiện đại vào năm 1889, dưới thời của Thủ tướng Đức Otto von Bismarck (1862-1890). Nội dung ban đầu của chương trình này là bảo hiểm xã hội (BHXH) hưu trí cho người lao động, trong đó quy định việc tham gia BHXH là bắt buộc trên cơ sở sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước vào quỹ BHXH. Các quy định về ASXH của Đức dần được hoàn thiện, bao gồm bảo hiểm ốm đau (1883), bảo hiểm tai nạn lao động (1884), bảo hiểm thất nghiệp (1927). Kết hợp với nhau, các loại hình bảo hiểm này tạo thành mô hình bảo vệ thu nhập toàn diện đầu tiên trên thế giới. Sau đó, mô hình ASXH này được các quốc gia châu  u khác học hỏi và thiết kế cho phù hợp với thực tiễn của quốc gia mình. Như vậy, cần nhận thấy rằng EU là nơi có ASXH phát triển và dĩ nhiên là hệ thống pháp luật về ASXH.
Cho đến nay, mỗi quốc gia EU với điều kiện kinh tế, xã hội riêng đều thiết lập hệ thống an sinh xã hội xoay quanh nội dung các chế độ bảo vệ cơ bản như đã đề cập. Sự khác nhau ở mỗi quốc gia có thể được nhận thấy ở mức độ đảm bảo, điều kiện hưởng trợ cấp cũng như các quyền lợi hưởng và đặc biệt khác nhau ở việc tổ chức tài chính ASXH. Có quốc gia thiết lập hệ thống bảo vệ với vai trò quan trọng của tài chính công bảo trợ cho các chương trình thông qua sự đóng góp từ thuế của công dân nhưng cũng có những quốc gia thiết lập trên cơ sở đóng góp tài chính trực tiếp của mỗi cá nhân vào tài khoản riêng. Cùng với sự ra đời và phát triển của EU, những cam kết kinh tế, xã hội, an sinh xã hội đã trở thành một thành tố quan trọng trong thể chế của EU.
Một trong những vấn đề đầu tiên và có lẽ là cơ bản nhất khi nghiên cứu về nhu cầu hợp tác về an sinh xã hội trong EU đó là quyền tự do di chuyển nội khối. Đây vấn là một trong những nguyên tắc chủ đạo của hội nhập ở Châu  u kể từ khi Cộng đồng kinh tế Châu  u được thành lập năm 1957. Với tự do di chuyển nội khối, công dân EU được phép tự do đi lại giữa các quốc gia trong khu vực. Điều này dẫn đến cơ hội việc làm, địa điểm làm việc không còn bị giới hạn bởi biên giới quốc gia và kéo theo cả vấn đề y tế, chăm sóc sức khoẻ. Mặt khác, sự di chuyển bao gồm không chỉ mỗi cá nhân cả gia đình và gắn với gia đình là những tiếp cận giáo dục, tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản, dịch vụ môi trường, giao thống, nhà ở một cách bình đẳng. Tuy nhiên, quyền được hưởng ASXH của cá nhân bị giới hạn bởi “nguyên tắc lãnh thổ”(territorial principle). Vì vậy, cùng với việc cho phép người dân, đặc biệt là người lao động tự do di chuyển trong EU, các quy định về cơ chế phối hợp ASXH của EU đã ra đời nhằm khắc phục “nguyên tắc lãnh thổ”, qua đó đảm bảo tốt hơn việc thụ hưởng ASXH của công dân EU. Cũng chính vì vậy, khi đề cập tới pháp luật ASXH trong EU, nội dung chủ đạo của nó chính là việc bảo vệ người dân gắn với quyền tự do di chuyển. Nội dung này được thể hiện thông qua những quy định chung hình thành khung pháp luật mà mỗi quốc gia thành viên EU phải đảm bảo tuân thủ thực hiện.
1.2. Khung pháp luật điều chỉnh an sinh xã hội ở Liên minh châu  u và vấn đề hài hoà hoá giữa các quốc gia
1.2.1. Khung pháp luật điều chỉnh an sinh xã hội ở EU

Ngay từ thời điểm mới hình thành Cộng đồng kinh tế châu  u (EEC), các quốc gia thành viên đã ghi nhận quyền thụ hưởng các chương trình ASXH đối với người lao động, người làm việc tự do và thành viên gia đình họ khi di chuyển trong cộng đồng đồng thời ban hành quy trình và thủ tục để họ thụ hưởng những quyền này. Hiện nay, các văn bản quan trọng nhất điều chỉnh vấn đề ASXH của EU bao gồm: Quy định số 883/2004 của Nghị viện châu  u và Hội đồng Châu  u ngày 29 tháng 04 năm 2004 về việc phối hợp của các hệ thống ASXH (Quy định số 883/2004); Quy định số 987/2009 của Nghị viện châu  u và Hội đồng Châu  u ngày 16 tháng 09 năm 2009 quy định về trình tự thủ tục thực hiện Quy định số 883/2004. Ngoài những quy định nền tảng này, một số vấn đề cụ thể cũng được quy định trong các Chỉ thị, Quy định hay trong các phán quyết của Toà án châu  u. Chẳng hạn như, Quy định số 2019/500 của Nghị viện Châu  u và Hội đồng Châu  u ngày 25 tháng 3 năm 2019 thiết lập các biện pháp dự phòng trong lĩnh vực điều phối ASXH sau khi Vương quốc Anh rút khỏi Liên minh; Chỉ thị 2014/50/EU của Nghị viện Châu  u và của Hội đồng ngày 16 tháng 4 năm 2014 về các yêu cầu tối thiểu để tăng cường sự di chuyển của người lao động giữa các Quốc gia Thành viên bằng cách cải thiện việc thực hiện và bảo lưu các quyền hưu trí bổ sung; Văn bản số C 251/04 của Ủy ban hành chính điều phối các hệ thống ASXH - Chi phí trung bình cho các phúc lợi hiện vật năm 2021; Bản án số C-58/21 của Toà công lý châu  u: Yêu cầu phán quyết sơ thẩm về áp dụng luật của Verwaltungsgericht Wien (Austria) ngày 01 tháng 02 năm 2021… . Phạm vi áp dụng của những quy định này bao gồm 27 nước thành viên EU và 4 nước Iceland, Liechtenstein, Na Uy, Thuỵ Sĩ.
Những quy định phối hợp ASXH này áp dụng trực tiếp với công dân cũng như người sinh sống làm việc hợp pháp ở các quốc gia trên và được đảm bảo thi hành bởi hệ thống cơ quan hành chính, cơ quan về ASXH cũng như toà án. Trong trường hợp pháp luật quốc gia không tương thích với quy định phối hợp ASXH của EU thì quy định của EU sẽ được ưu tiên áp dụng. Để tổ chức thực hiện quy định về phối hợp ASXH, một Uỷ ban Hành chính về phối hợp ASXH được thành lập bao gồm một đại diện của mỗi quốc gia thành viên, một đại diện của Uỷ ban. Uỷ ban này sẽ giải quyết các vấn đề về thủ tục hành chính, giải thích các vấn đề phát sinh từ các quy định của quy chế phối hợp ASXH, cũng như thúc đẩy hợp tác phát triển giữa quốc gia thành viên EU.
EU chỉ đưa ra những quy định về hợp tác giữa các quốc gia trong việc đảm bảo các quyền về ASXH của công dân EU cũng như một số cá nhân sinh sống, làm việc trên lãnh thổ EU. Những quy định này không thay thế cho hệ thống an sinh của mỗi quốc gia thành viên, quyền lợi được hưởng và điều kiện hưởng cụ thể theo quy định trong hệ thống pháp luật của từng quốc gia. EU đặt ra một số nguyên tắc chung, bao gồm: (i) tại một thời điểm, một cá nhân chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật một quốc gia, do vậy, cá nhân chỉ đóng góp bảo hiểm ở một quốc gia; (ii) nguyên tắc không phân biệt đối xử về quyền và nghĩa vụ giữa cá nhân thuộc phạm vi pháp luật quốc gia điều chỉnh với công dân của nước sở tại; (iii) Khi yêu cầu quyền lợi, khoảng thời gian tham gia bảo hiểm, làm việc hay sinh sống ở các quốc gia khác sẽ được tính đến (nếu có); (iv) Nếu một cá nhân được quyền hưởng trợ cấp bằng tiền từ một quốc gia, thì thông thường người đó có thể nhận được khoản trợ cấp này nếu sinh sống ở một quốc gia khác.
Quy định phối hợp ASXH của EU thừa nhận các nhóm quyền sau: (i) trợ cấp ốm đau, thai sản (cho người mẹ) và trợ cấp tương đương cho người cha; (ii) trợ cấp hưu trí, trợ cấp khi lựa chọn nghỉ hưu sớm, trợ cấp khuyết tật; (iii) trợ cấp tử tuất; (iv) trợ cấp thất nghiệp; (v) trợ cấp gia đình; (vi) trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; (vii) chăm sóc y tế cần thiết tại bất kỳ quốc gia nào trong EU nếu mang theo Thẻ Bảo hiểm Y tế châu  u. Như vậy, quyền lợi về ASXH của công dân EU về cơ bản có sự tiếp thu và tương thích với Công ước 102/1952 của Tổ chức lao động quốc tế ILO về quyền ASXH tối thiểu. Đối với việc chăm sóc y tế, quy định phối hợp về ASXH cũng cho phép một cá nhân bị ốm đau hay bị thương tích khi di chuyển trong các quốc gia thành viênEU, Iceland, Liechtenstein, Na Uy, Thuỵ Sĩ hay Vương quốc Anh được quyền tiếp nhận chăm sóc y tế cần thiết nếu người đó mang theo Thẻ Bảo Hiểm Y Tế châu  u. Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng Thẻ BHYT châu  u không đảm bảo mỗi cá nhân được chăm sóc y tế miễn phí, thẻ này cũng không thay thế cho bảo hiểm du lịch, và sẽ không áp dụng nếu như mục đích của việc di chuyển là để chữa trị. 
Bên cạnh nguyên tắc điều chỉnh và các quyền lợi ASXH cơ bản nêu trên, quy định phối hợp ASXH EU cũng hướng dẫn về việc thụ hưởng quyền ASXH trong một số trường hợp đặc biệt như: trường hợp cá nhân sinh sống ở một quốc gia nhưng làm việc ở quốc gia khác trong EU và trở về quốc gia mình sinh sống hàng ngày hoặc ít nhất một lần mỗi tuần; trường hợp cá nhân được cử làm việc ở quốc gia EU khác trong thời gian không quá 24 tháng; trường hợp cá nhân làm việc ở nhiều quốc gia trong EU.
Ngoài ra, tháng 03 năm 2021, EU cũng đưa ra Kế hoạch hành động nhằm thực hiện có hiệu quả Trụ cột châu  u về quyền xã hội, trong lĩnh vực ASXH, Kế hoạch hành động này đặt ra 10 vấn đề nguyên tắc bao gồm: (i) Trẻ em và chăm sóc trẻ em; (ii) Bảo trợ xã hội; (iii) Trợ cấp thất nghiệp; (iv) Thu nhập tối thiểu; (v) Lương hưu và thu nhập của người cao tuổi; (vi) Chăm sóc sức khoẻ; (vii) Hoà nhập của người khuyết tật; (viii) Chăm sóc dài hạn (cho người cao tuổi); (ix) Nhà ở và trợ cấp cho người vô gia cư; (x) Tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Những vấn đề này hướng đến đảm bảo ASXH cũng như hoà nhập xã hội của công dân EU, với mục tiêu tới năm 2030, giảm 15 triệu người, bao gồm 05 triệu trẻ em có nguy cơ đói nghèo, tụt hậu. Kế hoạch hành động 2021 cũng thí điểm dự án về khả năng áp dụng Thẻ ASXH châu  u vào năm 2023. Dự án này xem xét tính khả thi của giải pháp kỹ thuật số trong việc xác minh danh tính, quyền lợi ASXH của cá nhân khi di chuyển trong EU. Hệ thống trao đổi thông tin ASXH điện tử cũng được thiết lập để điều phối hoạt động giữa các cơ quan liên quan đến ASXH của các quốc gia thành viên, nhằm hướng đến đảm bảo thực hiện tốt hơn quyền ASXH của công dân, chẳng hạn như đẩy nhanh quá trình hưởng trợ cấp.
1.2.2. Vấn đề hài hoà hoá pháp luật an sinh xã hội giữa các quốc gia thành viên
Hài hoà hoá pháp luật là khái niệm phát sinh trong lĩnh vực luật so sánh/luật quốc tế, thường xuất hiện khi một vấn đề chịu sự điều chỉnh tài phán của nhiều quốc gia hay vùng lãnh thổ, hay của các bang khác nhau trong một quốc gia (inter-jurisdictional). Hài hoá hoá là khái niệm có nội hàm tương đối rộng và còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Eric Windholz đã đưa ra bốn khung phân tích khác nhau dựa trên chức năng của hài hoà hoá, trong đó, nếu xem xét hài hoà hoá như một chương trình xây dựng pháp luật, thì sẽ gồm có bốn nội dung: công nhận lẫn nhau, thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu, khung luật mẫu, và áp dụng/ tham chiếu cùng một văn bản luật. Những nội dung này thuộc các giai đoạn khác nhau của quá trình hài hoà hoá: giai đoạn đảm bảo sự tương đồng, giai đoạn đảm bảo tính nhất quán, và giai đoạn nhất thể hoá pháp luật. Kết quả của quá trình này có thể là sự phối hợp trong hoạt động hành pháp, cũng có thể được biểu hiện dưới dạng các quy định hoặc án lệ áp dụng chung.

Áp dụng khung phân tích này để làm rõ cơ chế phối hợp ASXH của EU, có thể thấy rằng việc nhất thể hoá pháp luật ASXH hay đưa ra một quy định chung về ASXH áp dụng phổ quát với tất cả các quốc gia thành viên là không có tính khả thi. Điều này cũng được khẳng định trong Báo cáo 50 năm hợp tác ASXH EU. Thay vào đó, trong từng lĩnh vực, từng nội dung cụ thể của ASXH trong trường hợp cần thiết cần có những điều chỉnh pháp luật phù hợp. Quá trình hài hoà hoá pháp luật của EU cũng đã từng đạt được những kết quả khác nhau, mức độ khác nhau. Có những vấn đề, lĩnh vực đạt được mức độ độ hài hoà hoá pháp luật giữa các quốc gia rất cao chẳng hạn như về an toàn vệ sinh lao động, các quốc gia EU đã thống nhất về danh mục bệnh nghề nghiệp cũng như cách xác định tai nạn lao động. Đây là cơ sở quan trọng để xác định mức trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho công dân EU. Tuy nhiên, có những nội dung mức độ hài hoà hoá chỉ dừng lại ở phạm vi giới hạn, và ASXH cũng không là ngoại lệ.
Hài hoà hoá pháp luật trong lĩnh vực ASXH nên được hiểu theo nghĩa rộng, là quá trình mà các luật khác nhau được điều chỉnh để dễ hiểu, dễ tiếp cận và dễ thực hiện hơn. Mục tiêu của hài hoà pháp luật là nhằm giảm thiểu sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trong việc điều chỉnh một vấn đề, kết quả của quá trình này có thể là các quy phạm pháp luật có tính tương đồng chứ không nhất thiết phải giống nhau hoàn toàn. Theo đó, quá trình hài hoà hoá pháp luật ASXH trong EU đã đưa đến kết quả thiết lập một cơ chế toàn diện nhằm điều phối hệ thống ASXH giữa các quốc gia thành viên, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển xuyên biên giới của công dân EU. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các quốc gia EU có sự miễn cưỡng vì không muốn từ bỏ quyền lập pháp về ASXH, tức là chịu sự áp dụng văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao, thống nhất. Thay vào đó, các quốc gia muốn hình thành khung pháp luật chung với những đối tượng điều chỉnh cần thiết, đảm bảo hài hoà giữa pháp luật quốc gia và khu vực vì mục tiêu chung.
2. Thực trạng an sinh xã hội và yêu cầu điều chỉnh pháp luật với việc hài hoà hoá trong khuôn khổ các quốc gia khu vực ASEAN.
2.1. Khái quát về ASEAN và nhu cầu điều chỉnh pháp luật an sinh xã hội các quốc gia khu vực ASEAN

Cộng đồng ASEAN) đã thúc đẩy hợp tác của ASEAN lên tầm cao mới, tăng cường tổ chức và hiệu quả hợp tác nội khối, tạo thể chế và địa vị pháp lý cho quan hệ hợp tác của ASEAN với bên ngoài đồng thời đòi hỏi ASEAN cần có những khung pháp lý chung trong nhiều lĩnh vực hợp tác, đặc biệt là hợp tác về ASXH.
Trong đó, các vấn đề liên quan đến ASXH, bảo đảm đời sống người dân ASEAN do ASCC chịu trách nhiệm thực hiện theo các công cụ pháp lý mang tính khu vực. ASEAN đã thông qua hai văn kiện quyết định sự ra đời và định hướng phát triển của ASCC gồm: (1) Bản kế hoạch tổng thể Cộng đồng văn hóa – xã hội năm 2009 (ASCC Blueprint 2009) và (2) Bản kế hoạch tổng thể Cộng đồng văn hóa – xã hội năm 2015 (ASCC Blueprint 2015).
ASCC Blueprint 2009 đưa ra một cách cụ thể và rõ ràng nhất mục tiêu của ASCC với 06 lĩnh vực hợp tác trọng tâm gồm: (i) Phát triển con người; (ii) Bảo trợ và phúc lợi xã hội; (iii) Các quyền và công bằng xã hội; (iv) Đảm bảo môi trường bền vững; (v) Tạo dựng bản sắc ASEAN và (vi) Thu hẹp khoảng cách phát triển. Theo đó, ASCC Blueprint 2009 quy định một phần riêng cho vấn đề ASXH, xác định bảo trợ và phúc lợi xã hội là một trong những đặc điểm chính của Bản kế hoạch tổng thể. Tuy nhiên, những hành động đề ra trong ASCC Blueprint 2009 mới chỉ dừng lại ở cấp độ quốc gia. Kế hoạch chứa đựng chủ yếu các giải pháp khuyến khích các quốc gia liên kết với nhau trong thực hiện các vấn đề ASXH.
ASCC Blueprint 2015 tái khẳng định nhưng tăng cường hơn nữa sự hợp tác trong khu vực và nâng cao năng lực thể chế trong việc thực hiện các chính sách ASXH. Theo đó, ASCC hướng tới một cộng đồng hòa nhập hơn, tạo cơ hội tiếp cận cho người dân ASEAN và bảo vệ các quyền con người, đặc biệt là quyền phụ nữ, quyền trẻ em, thanh thiếu niên, người cao tuổi, người khuyết tật, người nhập cư, nhóm dân tộc thiểu số và các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội. Và một trong những biện pháp chiến lược là thực hiện và phát huy các khuôn khổ pháp lý trong khu vực.
Bên cạnh hai văn kiện về chiến lược phát triển ASCC, nhiều tuyên bố, kế hoạch về ASXH cũng được đưa ra, gồm: Tuyên bố của Brunei Darussalam 2010; Tuyên bố Bali 2011; Khung Huy động của Thập kỷ ASEAN về Người khuyết tật (2011-2020); Tuyên bố Hà Nội 2012; Tuyên bố ASEAN về Tăng cường Bảo trợ Xã hội (2013); Tuyên bố Kuala Lumpur 2015; Khung pháp lý khu vực và Kế hoạch hành động để thực hiện Tuyên bố ASEAN về Tăng cường Bảo trợ Xã hội 2015; Kế hoạch Hành động Khu vực ASEAN về Xóa bỏ Bạo lực Đối với Trẻ em 2015; Tuyên bố chung về Thúc đẩy Hòa bình và An ninh trong ASEAN 2017.
Hiện nay, Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN 2025 đã được ban hành với sự tiếp thu Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN giai đoạn 2009-2015 và triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 đó là hoà bình, ổn định và tự cường với năng lực được nâng cao nhằm ứng phó hiệu quả với những thách thức và nắm bắt cơ hội. Kế hoạch khẳng định “Trọng tâm của ASCC là cam kết nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thông qua các hoạt động hợp tác hướng vào người dân, thân thiện với môi trường và hướng tới thúc đẩy phát triển bền vững”.
Những chương trình hành động, những công cụ pháp lý của Cộng đồng về ASXH cho thấy nhu cầu và triển vọng của hài hòa hóa pháp luật về lĩnh vực này.
Thứ nhất, xuất phát từ cấu trúc nội dung của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) trong đó có mục tiêu “Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề”. AEC hướng tới việc cho phép người lao động được tự do lưu chuyển trong ASEAN. Trong khi đó, “nguyên tắc lãnh thổ” vẫn là nguyên tắc chi phối quá trình hưởng ASXH ở các quốc gia thành viên tương tự như trường hợp ở EU trước đây. Vì vậy, nguyên tắc này chắc chắn sẽ ảnh hưởng nhất định đến quyền được hưởng ASXH của nhóm lao động di cư vốn rất lớn ở ASEAN. Theo Ben Harkins, “Có nhiều nhóm lao động di cư phải chịu sự khác biệt lớn trong việc áp dụng các quy định luật pháp”. Nếu những nhóm lao động di cư này không được đảm bảo quyền ASXH trong quá trình lao động ở quốc gia sở tại, việc tự do lưu chuyển lao động sẽ bị ảnh hưởng vì họ e ngại sẽ phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình di cư để lao động mà không được bảo vệ về quyền lợi. Để khắc phục, ông Ben Harkins kết luận: “Điều quan trọng nhất để cải thiện kết quả là đảm bảo rằng tất cả người di cư đều được hưởng các quyền lao động và an sinh cơ bản…”. Như vậy, quá trình hài hòa hoá pháp luật của các quốc gia thành viên sẽ là chìa khoá cho việc thực hiện khuyến nghị trên.
Thứ hai, từ khía cạnh thể chế, nếu như AEC đã làm rất tốt trong việc đặt ra các quy định về công nhận lẫn nhau trong thuận lợi hóa thương mại dịch vụ thì ASCC lại chưa hình thành bất cứ một cấp độ liên kết hay khung pháp lý chung nào. Do đó, việc quy định khung pháp lý chung về ASXH là vấn đề cần thiết, vừa mang tính hội nhập, vừa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân ASEAN, góp phần củng cố và phát triển ASCC trên thực tế. Nếu có khung pháp lý chung, các khía cạnh ASXH sẽ được quy định ở tất cả các quốc gia thành viên và người dân ASEAN sẽ được hưởng chế độ phúc lợi cơ bản tương đồng. Ví dụ: công dân A của Việt Nam sinh sống và làm việc tại Malaysia vẫn sẽ được hưởng chính sách bảo hiểm y tế ở Malaysia tương tự như khi người đó sống và làm việc tại Việt Nam. Điều này EU đã làm được và làm rất tốt. Thiết nghĩ ASEAN cần nhanh chóng tiến hành xây dựng một khung pháp lý ASXH chung cho khối để tạo nên sự tương đồng về chính sách ASXH giữa các thành viên, rút ngắn khoảng cách phát triển cũng như bảo đảm đời sống ấm no, ổn định cho người dân.
Thứ ba, dưới góc độ pháp luật quốc gia, chính vì thiếu đi một khung pháp lý về ASXH như EU mà cho đến nay, chính sách, pháp luật về ASXH của các quốc gia thành viên ASEAN có sự chênh lệch tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước. Không phải quốc gia nào cũng xây dựng cho mình một nền ASXH toàn diện mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, mỗi quốc gia lại ưu tiên áp dụng khía cạnh ASXH nào. Theo ILO, rất ít quốc gia trên thế giới cam kết đảm bảo mức ASXH cơ bản và phổ quát, đặc biệt là cho người nghèo và người đến từ khu vực nông thôn. Chẳng hạn, ASXH của Myanmar chủ yếu hướng tới chăm sóc sức khỏe, chế độ phúc lợi cho người lao động, trợ cấp tử tuất và phúc lợi khác. Hay trường hợp của Campuchia, ASXH của quốc gia này chú trọng vào trợ cấp ốm đau và thai sản, trợ cấp cho người lao động, chế độ tử tuất và các hỗ trợ xã hội khác. Trong đó, vấn đề trợ cấp cho người lao động không đặt ra với người lao động tự do, lao động trong gia đình, các nhà ngoại giao, nhân viên của các tổ chức quốc tế, và nhân viên vận tải hàng không và hàng hải. Ở một số quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn như Singapore, Thái Lan, Malayxia… chế độ ASXH cho người nghèo được quan tâm hơn. Cụ thể, ASXH Singapore tập trung chủ yếu vào ba khía cạnh: hưu trí, chăm sóc sức khỏe và phúc lợi xã hội. Phúc lợi xã hội của Singapore quan tâm đến vấn đề bảo đảm mức sống tối thiểu, cung cấp nhà ở, dịch vụ y tế, giảm thuế và các hình thức cứu trợ khác cho những gia đình, cá nhân có thu nhập thấp.
Thứ tư, nhu cầu đảm bảo ASXH của các quốc gia Châu Á nói chung và ASEAN nói riêng ngày càng cao. Theo Tổ chức Lao động thế giới ILO, vấn đề ASXH trên thế giới vẫn còn khá hạn chế, đặc biệt ở châu Á khi nơi đây có hơn 1 tỷ lao động (vào năm 2006) làm việc trong môi trường dễ bị tổn thương như nông dân, lao động tự do, những người lao động trong các xí nghiệp nhỏ không ổn định và không được kí hợp đồng lao động, lao động bán thời gian… nên những đối tượng này thường không được hưởng các chính sách ASXH đầy đủ. Báo cáo ASXH thế giới năm 2017 – 2019 của ILO cho thấy, chỉ có 29% dân số thế giới được bảo đảm về ASXH nói chung, trong đó khu vực châu Á chỉ đạt 38,9% tổng dân số. Theo thống kê từ năm 2010 đến ước tính năm 2035, dân số của ASEAN còn tiếp tục tăng lên, trong đó, dân số già (trên 65 tuổi) ở các quốc gia thành viênASEAN có tỉ lệ ngày càng tăng, chiếm khoảng hơn 10% dân số cả nước trong khi đó, mức đầu tư công vào ASXH tại ASEAN không lớn. Vì vậy, ASEAN cần có kế hoạch và sự thống nhất chung trong việc tăng cường các chính sách về ASXH ngay từ bây giờ để có thể giải quyết được những vấn đề phát sinh trong tương lai.
Những số liệu và phân tích trên cho thấy, hài hoà hoá pháp luật ASXH đối với ASEAN là một nhu cầu tất yếu trong bối cảnh hợp tác và phát triển hiện nay. Từ việc hài hòa hóa pháp luật quốc gia để đi tới quy phạm quốc tế và nội luật hóa quy phạm quốc tế cho tương thích với điều kiện quốc gia mình, trong tương lai các quốc gia thành viên có thể tiến tới việc nhất thể hóa chính sách ASXH để tạo nên sự thống nhất và liên kết khu vực ở mức độ cao nhất.
2.2. Các công cụ pháp lý của Cộng đồng ASEAN về an sinh xã hội nhìn từ góc độ hài hoà hoá
Cộng đồng ASEAN có một số công cụ pháp lý quan trọng về ASXH, đặc biệt là Tuyên bố ASEAN về Tăng cường Bảo trợ Xã hội (2013) và Khung pháp lý khu vực và Kế hoạch hành động để thực hiện Tuyên bố ASEAN về Tăng cường Bảo trợ Xã hội (2015).  Qua 7 năm kể từ khi Kế hoạch tổng thể của ASCC có hiệu lực (năm 2009), ASEAN đã đạt được nhiều mục tiêu mà ASCC đặt ra về an sinh và bảo trợ xã hội. ASEAN đã nỗ lực xây dựng và phát triển mạng lưới ASXH và bảo trợ xã hội, giúp người dân tránh được phần nào những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập khu vực, thế giới.
Bên cạnh việc ban hành ra các cam kết hay tuyên bố chung thì sự ra đời của Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN (ASEAN Social Security Association – ASSA) cũng là một bước tiến mới trên con đường xây dựng khung pháp lý chung trong tương lai. ASSA được hình thành dựa trên sự tương đồng về mục tiêu, chương trình và hoạt động của các tổ chức ASXH thành viên ASEAN để cung cấp một diễn đàn cho các quan chức cấp cao của quốc gia thành viên có cơ hội được gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm về ASXH, với sứ mệnh là một cơ quan đại diện cho tất cả tổ chức ASXH của các quốc gia thành viên ASEAN. Qua việc thành lập ASSA, sự hợp tác khu vực được tăng cường, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu và phát triển.
Mục đích của việc thành lập ASSA là nhằm thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng và toàn diện hơn giữa các quốc gia thành viên trong lĩnh vực ASXH. Tuy nhiên trên thực tế, không chỉ riêng ASSA mà nhiều cơ quan khác của ASEAN dường như chưa phát huy hết được năng lực thể chế của mình cũng như chưa được trao quyền thực sự. ASEAN có cơ chế ra quyết định theo nguyên tắc đồng thuận và tất cả quốc gia thành viên vẫn có ý chí tối cao trong việc đưa ra quyết định đồng ý hay không đồng ý thông qua một văn bản chung của khối. Do đó, các cơ quan đứng đầu vẫn khá thụ động trong việc điều hành các chính sách trên thực tế.
An sinh xã hội luôn là một vấn đề thường trực và được nhiều quốc gia thành viên quan tâm. Trong bối cảnh tình hình dịch bệnh và nhiều biến động KT –XH diễn biến phức tạp như hiện nay, việc bảo đảm và giữ vững được nền ASXH quốc gia đòi hỏi các quốc gia phải nỗ lực hơn trước rất nhiều. Chính phủ các quốc gia thành viênđang vừa phải cung ứng dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ, phòng ngừa dịch bệnh vừa phải giữ ổn định và phục hồi kinh tế trong đại dịch. Nếu kinh tế đi xuống thì ASXH sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn và người dân là những người đầu tiên bị ảnh hưởng. Do đó, các quốc gia thành viên càng cần phải tăng cường sự hỗ trợ lẫn nhau, tích cực trao đổi kinh nghiệm trong phòng, chống dịch nói riêng và điều chỉnh chính sách ASXH nói chung, trong tình hình này, việc đưa ra một khung pháp lý chung lại càng cần thiết hơn bao giờ hết.
Điểm chung lớn nhất giữa các quốc gia thành viên ASEAN là đều coi người lao động là đối tượng trung tâm của nền ASXH quốc gia. Đây là lực lượng đông đảo và cũng là lực lượng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Các quốc gia thành viênASEAN đều ban hành chính sách về BHXH cho người lao động, các trợ cấp về tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản cho lao động nữ, trợ cấp tiền tuất, trợ cấp lương hưu khi người lao động đến tuổi nghỉ hưu hay trợ cấp thất nghiệp khi người lao động tạm thời bị mất việc làm. Điều này thể hiện, mỗi quốc gia luôn nỗ lực trong vấn đề thiết lập lưới bảo vệ thu nhập – trung tâm của ASXH tạo cơ sở cho các chế độ bảo vệ khác.
Về tỉ lệ đóng góp, các quốc gia đều san sẻ trách nhiệm đóng góp cho cả người sử dụng lao động và người lao động. Trước đây, ở Lào hay Việt Nam, ASXH thường được hình dung là việc nhà nước sẽ bao cấp và chia đều phúc lợi cho từng cá nhân. Hiện nay, nhà nước không bao cấp về ASXH mà đặt trách nhiệm đó cho mỗi người dân, cho người lao động và người sử dụng lao động nhằm tạo ra tính chủ động, tích cực của các cá nhân được hưởng. Lý thuyết này giống với mô hình Nhà nước xã hội Bismarck. Chế độ bảo hiểm xã hội theo mô hình Bismarck áp dụng bắt buộc đối với người lao động. Tỷ lệ đóng góp được phân chia đều giữa người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở mức lương thực tế. Nhà nước trong trường hợp này chỉ đóng vai trò là người quản lí và đứng ra bảo lãnh cho Quỹ BHXH khi quỹ này bị mất khả năng thanh toán.
Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia lại bỏ ngỏ, chưa tiếp cận được tới một số đối tượng khác trong xã hội như người lao động trong khu vực phi chính thức, người khuyết tật, lao động di cư, phụ nữ và trẻ em.... So với người lao động chính thức, những đối tượng này được xem là đối tượng yếu thế hơn nhưng lại chưa được nhà nước hỗ trợ về ASXH một cách đầy đủ, đặc biệt là bảo vệ thu nhập. Mặc dù một số nước trong đó có Việt Nam quy định hình thức tham gia bảo hiểm tự nguyện nhưng vẫn chưa thực sự thu hút được nhiều người dân tham gia. Chính sách mà các quốc gia đặt ra cho những đối tượng dễ bị tổn thương thường mới dừng lại ở dạng trợ giúp xã hội, tức là nhà nước hỗ trợ một phần sinh hoạt vật chất và điều kiện sống trong cuộc sống thường nhật của họ. Trước tình hình diễn biến phức tạp như hiện nay, tại Hội nghị Ban chấp hành Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN (ASSA 37) tháng 11/2020, các quốc gia thành viên ASEAN cho biết đã thực hiện nhiều giải pháp góp phần mở rộng diện bao phủ, đảm bảo ASXH, đặc biệt đối với người lao động tại khu vực phi chính thức, nhóm đối tượng yếu thế.
Như vậy, từ góc độ chính sách có thể thấy, hầu hết các quốc gia thành viên cũng có nhiều điểm tương đồng trong định hướng phát triển ASXH thể hiện ở mục tiêu đảm bảo bao phủ toàn dân, nâng cao cơ hội tiếp cận của nhóm yếu thế, nhóm lao động phi chính thức, chú trọng bảo vệ thu nhập với vai trò trung tâm của NLĐ và NSDLĐ. Những cam kết khu vực, những chia sẻ định hướng và kinh nghiệm nội luật hoá pháp luật quốc tế là nền tảng cho việc thiết lập và nâng cao hơn nữa những giá trị chung tiến tới hài hoà trong điều chỉnh pháp luật về ASXH trong phạm vi khu vực ASEAN.
Để đảm bảo vận hành hệ thống ASXH quốc gia, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực, mỗi quốc gia đều có những cơ chế đảm bảo thực hiện. Do ASXH là vấn đề khá phức tạp, mang đậm màu sắc KT –XH  riêng của mỗi quốc gia nên hệ thống pháp luật đảm bảo thực hiện cũng có những nét riêng biệt. Hầu hết các tranh chấp, bất đồng cũng như vi phạm pháp luật về ASXH ở các quốc gia theo mô hình đóng góp tài chính, dựa nhiều vào quan hệ lao động thường quy định cơ chế giải quyết xung đột theo lao động. Chẳng hạn như Việt Nam, Lào hay Campuchia thì toà lao động có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về ASXH, các tranh chấp về bảo hiểm hay trợ giúp xã hội và các vấn đề ASXH khác chủ yếu được giải quyết thông qua con đường hành chính vì liên quan tới tài chính công. Ở phạm vi ASEAN, giải quyết những xung đột phát sinh giữa các quốc gia hầu như mới chỉ dừng lại ở đảm bảo thực hiện những cam kết, những chế tài theo thỏa thuận song phương giữa các quốc gia, các qui định của công ước, thỏa thuận quốc tế được nội luật hóa. Khác với Châu  u, khu vực ASEAN chưa có Toà án xét xử xung đột, tranh chấp trong lĩnh vực ASXH nhưng những gì các gia khu vực đã có và hướng tới làm cơ sở cho việc hài hoá hoá pháp luật ASXH ở các quốc gia thành viên trong khuôn khổ nhất định.
3. Một số kiến nghị đối với việc hài hoà hoá pháp luật an sinh xã hội trong ASEAN ở khía cạnh tư pháp
3.1. Khuyến nghị về xây dựng pháp luật nhằm hài hoà hoá pháp luật an sinh xã hội trong ASEAN

Từ kinh nghiệm của các quốc gia EU, việc hài hoà pháp luật ASXH nên được hiểu theo nghĩa rộng, là sự phối hợp giữa các quốc gia trong việc tạo điều kiện cho công dân nội khối được quyền hưởng ASXH dù họ sinh sống, làm việc ở bất kỳ quốc gia nào trong khối. Việc nhất thể hoá quy định về ASXH ở EU vẫn còn chưa hoàn toàn khả thi mặc dù Liên minh đã hội nhập sâu. Trong bối cảnh ASEAN, hài hoà hoá pháp luật ASXH, thậm chí chỉ ở mức độ tạo khung pháp lý tương đồng (Xem hình 1, khung phân tích của Windholz) là mục tiêu không dễ dàng thực hiện trong tương lai gần. Tuy nhiên, để chuẩn bị cho mục tiêu đó, trước hết, mỗi quốc gia thành viên cần đảm bảo thiết lập hệ thống các khái niệm căn bản về an sinh, xây dựng một hệ thống ASXH ở mức tối thiểu (có thể dựa theo Công ước 102/1952 ILO) và xúc tiến việc ký kết các thoả thuận công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia liên quan đến lĩnh vực ASXH.
Kinh nghiệm đầu tiên cho hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia trong quá trình thi hành là luật hoá một cách rõ ràng của các khái niệm căn bản. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chính xác chủ thể được thụ hưởng, các quyền cũng như bản chất của các chế độ ASXH ở mỗi quốc gia. Kinh nghiệm của EU cho thấy dù Liên minh này có nhiều quy định cụ thể về cách xác định đối tượng thụ hưởng các quyền và các chế độ bảo hiểm thuộc phạm vi ASXH song Toà án EU (European Court of Justice - ECJ) cũng phải thông qua các án lệ để giải thích các thuật ngữ căn bản như: “người lao động” - (employee) hay “chế độ bảo hiểm” (social security scheme). Lý do là vì chúng được nhận diện khác nhau tại mỗi quốc gia nên một số khoảng trống pháp luật,  gây khó khăn trong quá trình tương tác giữa các hệ thống pháp luật. Ngoài ra, do bị chi phối bởi đặc trưng văn hoá, xã hội, mỗi quốc gia sẽ có các chế độ hỗ trợ người lao động khác nhau, tạo nên sự đa dạng trong cách tiếp cận về chế độ ASXH.
Thứ hai, Tuyên bố ASEAN 2013 về ASXH tái khẳng định cam kết của các quốc gia thành viên về việc xây dựng một Cộng đồng có trách nhiệm về mặt xã hội và hướng tới con người bằng cách xây dựng sàn ASXH của các quốc gia thành viên trong khu vực và công nhận quyền của lao động di cư cũng như các nhóm dễ bị tổn thương khác. Mục tiêu của sàn ASXH là người lao động “tiếp cận bình đẳng với ASXH vốn là quyền con người cơ bản và dựa trên cách tiếp cận theo quyền/nhu cầu và theo vòng đời”. Trên cơ sở này, tất cả các quốc gia thành viên Cộng đồng cần cân nhắc đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật ASXH đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu về ASXH được công nhận ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới thể hiện trong sản ASXH mà  ILO đưa ra theo Khuyến nghị R.202 năm 2012 (số 202). Sàn ASXH theo Khuyến nghị R.202 gắn với nội dung gồm (i) tiếp cận chăm sóc y tế thiết yếu (ii) an sinh thu nhập cho trẻ em bao gồm dinh dưỡng, giáo dục, chăm sóc và nhu cầu sống thiết yếu (iii) an sinh thu nhập cho người trong độ tuổi lao động và (iv) an sinh thu nhập cho người già. Đây là cách tiếp cận bảo vệ theo vòng đời và khá dễ dàng cho các quốc gia tổ chức thực hiện. Dựa trên sàn ASXH, việc hài hoà hoá những quy định về ASXH trong khu vực sẽ trở nên thuận lợi và có tính khả thi hơn.
Thứ ba, trong lĩnh vực tư pháp, Toà án Châu  u có những nguyên tắc xác định về thẩm quyền xét xử với các tranh chấp vượt ra ngoài biên giới các quốc gia thành viên. Theo Quy chế Brussels I, toà có thẩm xét xử là toà án quốc gia nơi bị đơn cư trú, chỉ có một số trường hợp ngoại lệ. Quy định này áp dụng cho tất cả các vụ việc bao gồm cả những tranh chấp ASXH, không phụ thuộc vào giá trị của khiếu kiện. Thực tế cho thấy quy chế này nhận được sự tôn trọng và tuân thủ và đảm bảo thực hiện rất tốt ở các quốc gia Châu  u và có ý nghĩa đảm bảo hài hòa hoá tư pháp quốc gia trong khu vực. Đây cũng là một trong những quy định giải quyết được vấn đề xung đột trong tư pháp, đảm bảo quyền và lợi ích của các công dân, đặc biệt ý nghĩa với vấn đề an sinh khi mà nội dung chủ yếu liên quan đến quyền sống và những lợi ích thiết thân mỗi công dân. Từ kinh nghiệm đó, các quốc gia khu vực ASEAN cũng cần vận dụng những quy định này tiến tới những thoả thuận ghi nhận trong pháp luật và cam kết khu vực nhằm hạn chế xung đột pháp luật, đảm bảo hài hoà hoá pháp luật trong lĩnh vực tư pháp.
Thứ tư, các quốc gia thành viên ASEAN nên có những quy định hài hoà nhằm giảm thiểu xung đột pháp luật về an sinh xã hội giữa các quốc gia. Thực tiễn cho thấy đã có những tiền đề cho việc hài hoà hoá này thể hiện qua việc chính sách ASXH các quốc gia thành viên. Ví dụ, các quốc gia thành viên ASEAN đều coi người lao động là đối tượng trung tâm của hệ thống ASXH quốc gia, đều san sẻ trách nhiệm đóng góp cho cả người sử dụng lao động và người lao động. Dù  vẫn có những khác biệt nhất định nhưng các quốc gia hoàn toàn có khả năng điều chỉnh để đảm bảo tuân thủ những cam kết, thoả thuận chung. Rõ ràng là, quá trình hài hoà hoá pháp luật khu vực với kết quả là những cam kết, quy định chung hoàn toàn có thể đưa khu vực ASEAN đạt mục tiêu giảm thiểu xung đột, hạn chế tranh chấp trong lĩnh vực ASXH. Thêm vào đó, các quốc gia thành viên ASEAN nên có các quy định chung ràng buộc quyền và nghĩa vụ nhằm nâng cao nhận thức của các quốc gia thành viên trong việc tuân thủ các nội dung hài hoà hoá từ đó hạn chế các tranh chấp có thể phát sinh, và khi xảy ra xung đột sẽ có căn cứ pháp luật để giải quyết.
Thứ năm, án lệ được xác định là nguồn luật ở Châu  u. Toà công lý Châu  u cũng có các án lệ trong lĩnh vực an sinh xã hội để đảm bảo thống nhất áp dụng trên lãnh thổ Liên minh. Chẳng hạn như Án lệ C-215./99 Jauch và C-160/96 Molenaar xác định việc trả trợ cấp ốm đau bằng tiền có giá trị tương đương tránh việc chi trả 2 lần với một rủi ro và quyền lợi trợ cấp ốm đau, thai sản cho người cha ở các quốc gia khác nhau. Tương tự như vậy, đối với trợ cấp gia đình ( tính trên cơ sở số con của mỗi gia đình) có sự khác nhau khá nhiều ở các quốc gia do sự khác nhau chính sách dân số và lao động các quốc gia nên cần phải có sự thống nhất, hài hoà. Toà Công lý Châu  u cũng xác định trợ cấp gia đình trong một số trường hợp đặc biệt qua các Án lệ như C-245/94, C-312/94 Hoever và Zachow, Án lệ C-275/96 Kuusijarvi. Toà cho rằng cần phải liệt kê tất cả các trợ cấp gia đình mà người dân đước hưởng từ hệ thống an sinh xã hội quốc gia để đảm bảo quyền lợi và phán quyết phù hợp. Riêng về quyền lợi hưởng lương hưu, Toà công lý Châu âu cũng xác định Hội đồng Châu  u không có thẩm quyền ban hành các quy tắc làm hạn chế việc thụ hưởng tiền lương hưu của công dân trong khu vực. Trường hợp một cá nhân được hưởng lương hưu từ 2 nguồn của 2 nhiều quốc gia trở lên, Hội đồng châu  u không có quyền ghép các nguồn đó lại hay yêu cầu người thụ hưởng chỉ được nhận từ một nguồn lương hưu theo quy định của một trong những quốc gia mà người đó có lương hưu. Quy định này đã khiến cơ hội di cư lao động và được bảo vệ bởi hệ thống ASXH quốc gia của các công dân trong khu vực EU trở nên linh hoạt, hạn chế những tranh chấp. Trước đây, còn nhiều quan điểm khác nhau khi giải quyết quyền lợi hưu trí cho người sống và làm việc ở nhiều quốc gia. Những nội dung về giải quyết trợ cấp ốm đau, trợ cấp gia đình, lương hưu được pháp luật Châu  u xử lý thống nhất, làm cơ sở quan trọng cho việc giải quyết quyền lợi, tránh xung đột pháp luật thực sự là những nội dung cho ASEAN tham khảo và vận dụng.
Thứ sáu, các quốc gia thành viên cần đẩy mạnh việc ký kết các thoả thuận công nhận lẫn nhau (Mutual Recognition Arrangements – MRAs) trong các lĩnh vực liên quan đến ASXH như lao động và y tế. Tuy đây chỉ là một biện pháp thứ cấp, bổ trợ, nhưng nó lại có quan hệ chặt chẽ và thúc đẩy quá trình hài hoà hoá các tiêu chuẩn này. Việc mở rộng các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về kỹ năng và bằng cấp sẽ có lợi cho sự hiểu biết rộng trong ASEAN và việc quản lý lao động di cư. Khi đã quản lý được chặt chẽ lao động di cư trong khu vực ASEAN, giảm thiểu lao động di cư không chính ngạch, Cộng đồng sẽ có căn cứ bước đầu để áp dụng các chính sách ASXH chung cho các đối tượng này. Ban đầu, đó có thể là công nhận lẫn nhau trong các vị trí kỹ năng trung bình có nhu cầu tiềm năng cao, nhằm tăng cường khả năng huy động lao động trong dài hạn hơn. Để đạt được điều đó, các chính phủ có thể hoàn thiện Khung tham chiếu trình độ ASEAN để tăng cường và làm mốc chuẩn cho khung bằng cấp trong nước, đồng thời xây dựng những tiêu chuẩn năng lực mẫu trong khu vực đối với những ngành then chốt như lao động hay y tế.
3.2. Khuyến nghị hợp tác giữa các quốc gia thành viên nhằm hài hoà hoá pháp luật an sinh xã hội trong ASEAN
Thứ nhất, về hợp tác thể chế, các quốc gia thành viên ASEAN cần xây dựng cơ chế hợp tác giữa các cơ quan về ASXH giữa các quốc gia. Kinh nghiệm của EU cho thấy, một cơ chế tương tác pháp luật mặc dù có sự hỗ trợ của cả cơ quan lập pháp và tư pháp cấp khu vực nhưng cũng chỉ có thể vận hành nhuần nhuyễn với sự hỗ trợ và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan hành pháp của các quốc gia thành viên. Tại Châu  u, rất nhiều các cơ quan điều phối được thành lập, bao gồm Uỷ ban Hành chính cho cơ chế hợp tác giữa các hệ thống ASXH (Administrative Commission for the coordination of social security system), Uỷ ban Kỹ thuật (Technical Commission) và Ban Kiểm toán (Audit Board) để hỗ trợ các quốc gia thành viên trao đổi thông tin, hợp tác xây dựng các chiến lược lâu dài về điều chỉnh pháp luật và giải quyết những vấn đề cấp bách đặt ra trong quá trình hợp tác. Các cơ quan này đã cho thấy hiệu quả từ việc liên kết và trao đổi thông tin lẫn nhau. Từ kinh nghiệm này, ASEAN có thể xây dựng các cơ quan nhằm giúp các quốc gia thành viên trao đổi thông tin và tương tác với nhau trong các vấn đề riêng của ASXH và các vấn đề chung khác mà Cộng đồng cùng quan tâm. Các cơ quan này có thể đóng vai trò là đầu mối tư vấn và hỗ trợ các cơ quan quản lý ASXH của mỗi quốc gia thành viên trong việc tương tác với các hệ thống pháp luật của các quốc gia khác trong khối, tạo nên một sự hợp tác bền vững mà không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Thứ hai, đảm bảo hài hoà hoá pháp luật từ nội dung đến hình thức đòi hỏi các quốc gia thành viên ASEAN cần có những hợp tác về cung cấp dịch vụ ASXH, đặc biệt là dịch vụ y tế, bởi đây là dịch vụ thiết yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân di chuyển trong khu vực ASEAN. Ngoài ra, trong bối cảnh Covid-19 càng chỉ rõ sự cần thiết cơ chế hợp tác giữa các hệ thống chăm sóc y tế, giúp ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh và hỗ trợ công dân cùng đối phó với dịch bệnh. Tại EU, mức độ hợp tác về y tế là rất cao, ví dụ, một người đã được bảo hiểm tại quốc gia thành viên có thể được chăm sóc sức khỏe cần thiết về mặt y tế trong thời gian lưu trú tại quốc gia thành viên khác, nghĩa là tại EU, một công dân quốc gia thành viên chỉ cần nộp bảo hiểm y tế một lần tại một quốc gia thành viên là sẽ được đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế trong lãnh thổ của Liên minh. ASEAN mặc dù chưa thể đạt tới trình độ hợp tác này nhưng có thể sử dụng những cách tiếp cận khác trong hợp tác cung cấp dịch vụ y tế như đơn giản hoá thủ tục cung cấp dịch vụ y tế đối với cá nhân yêu cầu dịch vụ y tế đến từ một trong các quốc gia thuộc Cộng đồng; đưa ra đơn giá dịch vụ ASXH tại các quốc gia thành viên không có sự phân biệt giữa công dân và người nước ngoài đến từ các quốc gia thành viên ASEAN; xây dựng thêm các dịch vụ hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế để giúp đỡ người đến từ một trong các quốc gia thành viên ASEAN khi họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế tại quốc gia sở tại…
Thứ ba, trong thời kì cách mạng công nghiệp 4.0, trên cơ sở kinh nghiệm áp dụng các giải pháp số hoá của EU trong việc xác minh danh tính, quyền lợi ASXH của cá nhân khi di chuyển trong EU, các quốc gia thành viên cũng có thể triển khai hợp tác về định danh người thụ hưởng ASXH ở cấp độ thấp hơn. Trong khuôn khổ này, các quốc gia thành viên có thể hợp tác để cung cấp dịch vụ ASXH xuyên biên giới với những cá nhân thường xuyên di chuyển đến các quốc gia thành viên Cộng đồng. Bên cạnh đó, các quốc gia ASEAN có thể tiến hành số hoá và chia sẻ thông tin với nhau về người lao động chuẩn bị di chuyển trong khu vực ASEAN, trên cơ sở đó các cơ quan có thẩm quyền của cả hai quốc gia có thể hỗ trợ cá nhân đã định danh trong việc cung cấp thông tin và thụ hưởng ASXH tại quốc gia nơi đến.
Kết luận: Những nghiên cứu, phân tích về khung khổ pháp luật ASXH của EU đã cho thấy có khá nhiều những kinh nghiệm về việc hài hoà hoá pháp luật nhằm đảm đảm bảo quyền ASXH của con người. Ở góc độ khác, những nghiên cứu về thực trạng pháp luật ASXH tại các quốc gia khu vực ASEAN, pháp luật Cộng đồng ASEAN về ASXH cho thấy các quốc gia trong Cộng đồng vẫn còn rất nhiều sự khác biệt trong lĩnh vực pháp luật này. Điều này tiềm ẩn sự suy giảm, thâm chí triệt tiêu hiệu lực của các qui định khung của Cộng đồng về ASXH. Rõ ràng là Cộng đồng có nhu cầu rất lớn trong việc hài hòa hóa pháp luật về ASXH. Tuy nhiên, làm thế nào để có thể hài hòa hóa pháp luật về ASXH trong khuôn khổ Cộng đồng là bài toán cần những lời giải mang tính khoa học. Cộng đồng ASEAN có sự đa dạng rất lớn ở nhiều khía cạnh, nhiều lĩnh vực. Hiến chương ASEAN đã đặt mục tiêu là thống nhất trong đa dạng. Hài hóa pháp luật về ASXH chắc chắn cũng không thể nằm ngoài mục tiêu. Một số đề xuất từ bài viết này, đặc biệt là chỉ là những kết quả nghiên cứu ban đầu. Tuy nhiên, hy vọng chúng sẽ góp phần làm vào tiến trình hài hoá pháp luật về ASXH trong khuôn khổ ASEAN ở khía cạnh tư pháp quốc tế./.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Association of Southest Nations, ASEAN Ministerial Meeting on Social Welfare and Development (AMMSWD), asean.org (11/07/2021), https://asean.org/asean-socio-cultural/asean-ministerial-meeting-on-social-welfare-and-development-ammswd/#:~:text=ASEAN%20Ministerial%20Meeting%20on%20Social%20Welfare%20and%20Development%20(AMMSWD).,on%20social%20welfare%20and%20development;
2. ASEAN Social Security Association, History – A peek at our past, asean-ssa.org (10/04/2021) https://www.asean-ssa.org/History-Achievements-ASSA
3. Ben Harkins, Quyền lao động và phát triển kỹ năng - chìa khóa cải thiện kết quả di cư ở Đông Nam Á, nhận định của ILO và IOM, ilo.org (15/12/2017), https://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/Pressreleases/WCMS_614103/lang--vi/index.htm;
4. BIPO Service, An Overview of Singapore’s Social Security System, biposervice.com (2018), https://www.biposervice.com/wp-content/uploads/2018/01/An-Overview-of-Singapores-Social-Security-System.pdf;
5. Đặng Kim Chung, Sàn An sinh xã hội của Liên hiệp quốc và khả năng ứng dụng vào Việt Nam, molisa.gov.vn (28/11/2013), http://www.molisa.gov.vn/Pages/tintuc/chitiet.aspx?tintucID=21023;
6. Bùi Xuân Dự, An sinh xã hội: Mô hình Nhà nước phúc lợi hay Nhà nước xã hội?, Đổi mới và Phát triển, (17/09/2019), https://www.doimoi.org/detailsnews/1507/343/an-sinh-xa-hoi-mo-hinh-nha-nuoc-phuc-loi-hay-nha-nuoc-xa-hoi.html;
7. ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI, GIÁO TRÌNH PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN, NXB. CÔNG AN NH N D N, HÀ NỘI, Tr.18 (2016);
8. Eric Windholz, The Multiple Domains of Harmonisation: Politics, Policy, Process and Program: Multiple Domains of Harmonisation, Australian Journal of Public Administration, Volume 71, Issue 3, 325, 328 (2012);
9. EEC, Regulation (EEC) No 1408/71 of the Council of 14 June 1971 on the Application of Social Security Schemes to Employed Persons and Their Families Moving within the Community (1971) https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/ALL/?uri=CELEX%3A31971R1408;
10. EEC, Regulation (EEC) No 574/72 of the Council of 21 March 1972 Fixing the Procedure for Implementing Regulation (EEC) No 1408/71 on the Application of Social Security Schemes to Employed Persons and Their Families Moving within the Community (1972) https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/ALL/?uri=CELEX%3A31972R0574;
11. EC, Regulation (EC) No 883/2004 of the European Parliament and of the Council of 29 April 2004 on the Coordination of Social Security Systems (Text with Relevance for the EEA and for Switzerland) 2004, Art.71,72;
12. European Commission, Điều phối Liên minh châu  u về an sinh xã hội, ec.europa.eu, (05/07/2021), https://ec.europa.eu/social/main.jsp?catId=1172&langId=en ;
13. European Commission, Thẻ bảo hiểm y tế châu  u (European Health Insurance Card), ec.europa.eu, (19/06/2021), https://ec.europa.eu/social/main.jsp?catId=559&langId=en;
14. European Commission, Điều chỉnh pháp luật về ASXH trong một số trường hợp đặc biệt (Which rules apply to you), ec.europa.eu, (29/04/2021), https://ec.europa.eu/social/main.jsp?catId=851&langId=en;
15. European Commission, Thẻ bảo hiểm xã hội châu  u (European Social Security Pass),ec.europa.eu, (17/06/2021),https://ec.europa.eu/social/main.jsp?catId=1545&langId=en;
16. European Commission, Hệ thống trao đổi thông tin ASXH điện tử (Electronic Exchange of Social Security Information), ec.europa.eu, (19/06/2021), https://ec.europa.eu/social/main.jsp?catId=1544&langId=en;
17. International Labour Organization, Social Security in Asia and the Pacific, ilo.org (04/12/2020), https://www.ilo.org/asia/areas/social-security/WCMS_634605/lang--en/index.htm;
18. International Labour Organization, World Social Protection Report: Universal Social protection to achieve the Sustainable Development Goals 2017 – 2019, 9 (2017);
19. Ngọc Linh, Covid-19: Phép thử sức bền hệ thống an sinh xã hội của nhiều quốc gia, Con số và Sự kiện, (04:37pm 15/04/2021), http://consosukien.vn/covid-19-phep-thu-suc-ben-he-thong-an-sinh-xa-hoi-cua-nhieu-quoc-gia.htm;
20. Martin Boodman, The Myth of Harmonization of Laws, The American Journal of Comparative Law, Vol. 39 No.4, 699, 672 (1991);
21. Mukul G. ASHER, Fauziah ZEN, Social Protection in ASEAN: Challenges and Initiatives for Post-2015 Vision, ERIA Discussion Paper Series (02/2015), p.10, https://www.eria.org/ERIA-DP-2015-06.pdf;
22. Bùi Xuân Nhự, Vấn đề nhất thể hoá pháp luật và hài hoà hoá pháp luật trong tư pháp quốc tế, Tạp chí Luật học số 02, 41,42 (2007);
23. Nguyễn Thị Thuý Nga, Các chính sách đảm bảo việc làm bền vững trong Cộng đồng ASEAN, Cổng thông tin điện tử Công đoàn Việt Nam (08:50 04/11/2016), http://www.congdoan.vn/tin-tuc/lao-dong-nam-chau-507/cac-chinh-sach-dam-bao-viec-lam-ben-vung-trong-cong-dong-kinh-te-asean-137442.tld;
24. Paul Minderhoud, The “Other” EU Security: Social Protection, European Journal of Social Security Vol 8,4, 361,363 (2006);
25. Porto Social Summit, The European pillar of Social rights Action plan, 2021portugal.eu, (08/05/2021) https://www.2021portugal.eu/en/porto-social-summit/action-plan/;
26. Social Security Administration of USA, Social Security Programs Throughout the World: Asia and the Pacific, ssa.gov (11/04/2021), https://www.ssa.gov/policy/docs/progdesc/ssptw/2018-2019/asia/cambodia.html;
27. Social Security Administration of USA, Lịch sử an sinh xã hội – Otto Von Bismarck, ssa.gov, (07/07/2021), https://www.ssa.gov/history/ottob.html;
28. Trung tâm WTO, Bản tin Doanh nghiệp và tự do hoá thương mại Quý I và II (Số 4+5), trungtamwto.vn (12/11/2015), https://trungtamwto.vn/file/16529/Tom%20luoc%20AEC.pdf;
29. Tổ chức Lao động Quốc tế và Ngân hàng phát triển châu Á, Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lí hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn, ilo.org, tr.30, https://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/---asia/---ro-bangkok/---ilo-hanoi/documents/publication/wcms_348407.pdf;
30. Nguyễn Lê Thu, Cơ chế hợp tác pháp lý giữa các nước EU về an sinh xã hội cho lao động di trú - kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (05/06/2020);
31. YVES JORENS, 50 YEARS OF SOCIAL SECURITY COORDINATION : PAST, PRESENT, FUTURE, PUBLICATIONS OFFICE, PRAGUE, 134.
 

 

Tin cùng chuyên mục

Căn cứ Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 ngày 5/11/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì hiện nay Hội luật gia Việt Nam được cho là cơ quan được giao nhiệm ..
10:28 | 02/04/2024
Toàn cầu hóa tác động toàn diện đến nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế, chính trị và pháp lý của mỗi quốc gia trên thế giới nói riêng và của cả cộng..
10:25 | 02/04/2024
Quyền có nơi ở hợp pháp là quyền cơ bản của công dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); để đảm bảo quyền có..
10:21 | 02/04/2024
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử là một trong những nguyên tắc quan trọng, chi phối hoạt ..
10:17 | 02/04/2024
Bài viết này là một nghiên cứu tổng quan về tác động của EUDR đối với các hộ sản xuất nhỏ, người dân bản địa, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Các ..
10:14 | 02/04/2024
Bài viết đề cập đến tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp vùng của nước Cộng hoà Pháp bao gồm: cơ cấu tổ chức, trình tự thành lập các cơ quan chính..
10:10 | 02/04/2024
Bài viết này tập trung phân tích một số án lệ điển hình của Toà án Tối cao Hoa Kỳ về đất đai. Cùng với việc phân tích các án lệ này, bài viết cũng so..
10:07 | 02/04/2024
Ngày nay, một số quốc gia trên thế giới đã có những bước tiến quan trọng trong việc triển khai hoạt động công chứng điện tử. Tại Việt Nam, Dự thảo Luậ..
10:03 | 02/04/2024
Doanh nghiệp xã hội (DNXH) là một trong loại hình doanh nghiệp đặc biệt được hình thành từ những năm 60 của thế kỷ trước. Mặc dù vậy, DNXH vẫn tiếp tụ..
09:59 | 02/04/2024
Phòng vệ thương mại là biện pháp mang tính chất hai chiều khi các quốc gia cũng như khu vực cần nắm được cách thức áp dụng cũng như ứng phó để nâng ca..
09:47 | 02/04/2024
icon up