Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội theo tinh thần nghị quyết 28-NQ/TW

Đánh giá tác giả:

PGS.TS Nguyễn Hiền Phương*
Ths. Phạm Thị Hải Dịu**

Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.Thực hiện tốt bảo hiểm xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân. (BCHTW Đảng, 2018) Một trong những yếu tố cốt lõi của việc thực hiện tốt bảo hiểm xã hội chính là chính sách, pháp luật về mảng dịch vụ xã hội quan trọng này. Bài viết này phân tích một số bất cập, hạn chế của pháp luật về BHXH và những giải pháp hoàn thiện lĩnh vực pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này.

Từ khóa: Bảo hiểm xã hội, An sinh xã hội, pháp luật

1.Thực trạng pháp luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là trụ cột cơ bản, là xương sống của hệ thống an sinh xã hội (ASXH). Không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh. Với lượng đối tượng rất rộng, BHXH sẽ tác động tới hệ thống ASXH (tích cực hoặc tiêu cực), thậm chí đến toàn bộ xã hội. Xác định tầm quan trọng của BHXH, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề này. Điều này thể hiện qua những chính sách về BHXH không ngừng được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu hội nhập; hệ thống pháp luật về BHXH ngày càng đầy đủ, phù hợp với tình hình phát triển đất nước và tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Mô hình tổ chức hệ thống BHXH cũng được đổi mới hoàn thiện, thể hiện ở việc tách cơ quan BHXH ra khỏi hệ thống cơ quan quản lý nhà nước vàhình thành hệ thống thực hiện độc lập, từng bước tiếp cận được xu hướng phát triển BHXH trên thế giới.

Những năm gần đây BHXH có những bước phát triển mạnh mẽ trong nội dung và cả tổ chức thực hiện bằng những cải cáchthủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin tạo sự thuận lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí cho chủ thể tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH. Công ước 102 (năm 1952) của ILO, có quy định 9 chế độ BHXH. Theo đóViệt Nam đang thực hiện6 chế độ cơ bản bao gồm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất và thất nghiệp với 2 hình thức tham gia bắt buộc và tự nguyện. Với việc mở rộng dần nội dung chế độ BHXH và từng bước bao phủ lực lượng lao động thông qua việc mở rộng dần phạm vi áp dụng và điều kiện hưởng trong từng chế độ, BHXH hiện đã thực sự trở thành lưới đỡ quan trọng trong cuộc sống của người lao động thông qua bảo vệ thu nhập.

Việc thực hiện BHXH những năm qua ghi nhận những nỗ lực trong hoàn thiện pháp luật và thực hiện với những thành tựu đáng ghi nhận. Theo BHXH Việt Nam, ước tính, đến hết 31-12-2018, cả nước có số người tham gia BHXH bắt buộc là 14,7 triệu người, chiém khoảng 30,4% lực lượng trong độ tuổi lao động, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp cũng lên tới 12,6 triệu người chiếm 26,2% lực lượng lao động. Thực hiện BHXH cũng đã thực hiện cho hơn 3,1 triệu người hưởng hưu trí và trợ cấp BHXH hàng tháng, và thực sự có ý nghĩa vai trò quan trọng với cuộc sống người dân.(Bảo hiễm Xã hội Việt Nam, 2018) Bên cạnh những kết quả đó, hệ thống pháp luật về BHXH vẫn bộc lộ những mâu thuẫn, bất cập nhất định như:

(i) Quy định pháp luật và tổ chức thực hiện BHXH vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, chưa có sự gắn kết chặt chẽ với các tầng ASXH như việc làm, thu nhập, giảm nghèo bền vững, trợ giúp xã hội… tạo đa tầng bảo vệ thu nhập cho người dân.

(ii) Quy mô tham gia BHXH còn thấp so với lực lượng lao động trong xã hội. Với hai hình thức tham gia BHXH bắt buộc và tự nguyện, chúng ta kỳ vọng việc bao phủ toàn bộ lực lượng lao động đặc biệt là nhóm lao động khu vực phi kết cấu với vai trò của BHXH tự nguyện. Song không thể phủ nhận sự chưa thành công trong thực hiện BHXH tự nguyện thể hiện qua số lượng đối tượng tham gia còn quá khiêm tốn trong tương quan lực lượng lao động thuộc phạm vi áp dụng. Điều này thể hiện ở con số có khoảng 40 triệu lao động thuộc nhóm đối tượng nông dân và khu vực phi chính thức, không có quan hệ lao động, nhưng sau 10 năm triển khai chính sách BHXH tự nguyện, số người tham gia chỉ khoảng 300 nghìn người.Nguyên nhân cơ bản được tính đến là do thiếu phong phú đa dạng về chế độ của BHXH tự nguyện (hiện mới thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất), mức đóng cao không có sự chia sẻ hỗ trợ của NSDLĐ và đặc biệt là từ nhận thức của chính NLĐ. Nhìn chung, còn tới gần 70% lực lượng lao động chưa tiếp cận được tới hệ thống bảo vệ thu nhập là một con số cao, đòi hỏi rất lớn sự nỗ lực của hệ thống BHXH quốc gia.

(iii) Đối với BHXH bắt buộc, mắc dù phạm vi bao quát cũng mở rộng tới tận những người lao động có hợp đồng lao động từ 1 tháng trở lên song cũng bộc lộ nhiều hạn chế trong bao quát phạm vi đối tượng tham gia. Hiện đối tượng tham gia BHXH là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam và lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài còn nhiều khó khăn trong thực hiện.Nghị định số 143/2018/NĐ-CP ngày 15-10- 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật BHXH và Luật An toàn, vệ sinh lao động về BHXH bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam chính thức có hiệu lực từ ngày 1-12-2018, theo đó từ ngày 1-12-2018, người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, trừ trường hợp người lao động di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp hoặc đã đủ tuổi nghỉ hưu theo của Bộ luật Lao động. Mặc dù quy định này khá rõ, nhưng với trường hợp thực tế phát sinh đang diễn ra ở các doanh nghiệp tại gây băn khoăn, bối rối cho cơ quan có thẩm quyền trên thực tế. Điển hình là trường hợplao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo thư bổ nhiệm của tập đoàn mẹ, có giấy phép lao động, nhưng không có hợp đồng lao động, và không nhận tiền lương ở công ty tại Việt Nam (hưởng lương của tập đoàn mẹ), nhưng người lao động này vẫn nhận tiền trợ cấp tại doanh nghiệp Việt Nam, thì đối tượng lao động này có thuộc diện bắt buộc phải đóng BHXH hay không cũng là những vướng mắc. Đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phần lớn không muốn tham gia BHXH vì nhiều nguyên nhân như mức đóng cao (22%) trong khi chi phí cho việc ra nước ngoài làm việc đã rất tốn kém, nhiều trường hợp trước khi họ tham gia đi lao động nước ngoài thì cả thời gian dài họ chưa từng tham gia BHXH và thời hạn người lao động ta đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn chỉ là 2-3 năm.

(iv) Chế độ hưu trí của BHXH với vai trò là xương sống của hệ thống BHXH bộc lộ nhiều điểm chưa phù hợp:

– Quy định thời gian tối thiểu đóng BHXH 20 năm để hưởng lương hưu là quá dài trong khi quốc tế thường quy định ngắn hơn (khoảng 10 năm) đã làm nản lòng một bộ phận người lao động hoặc những người bắt đầu tham gia BHXH muộn (độ tuổi trên 45 tuổi) sẽ không muốn tham gia vì không đủ thời gian đóng BHXH theo quy định để được hưởng chế độ hưu trí. (Nguyễn Hữu Dũng, 2017)

– Các nguyên tắc công bằng về đóng – hưởng, chia sẻ trong BHXH chưa thỏa đáng, cách tính lương hưu giữa người lao động trong khu vực nhà nước và người lao động trong khu vực tư nhân chưa thật sự công bằng, hợp lý; – Quy định điều kiện hưởng lương hưu chặt chẽ trong khi điều kiện hưởng BHXH một lần khá dễ dàng và Việc người lao động rút BHXH một lần sẽ khó bảo đảm cuộc sống tuổi già và vô hình tạo gánh nặng cho xã hội về lâu dài, ảnh hưởng vấn đề an sinh xã hội; số người hưởng chế độ hưu trí tăng nhanh, nhưng số người mới tham gia BHXH lại tăng chậm, cùng với tuổi thọ của người dân tăng lên tạo áp lực cho khả năng cân đối của quỹ BHXH. (Nguyễn Mậu Quyết, 2018)

(v) Các nguyên tắc công bằng, đóng – hưởng, chia sẻ và bảo đảm bền vững tài chính chưa được thực hiện hài hòa. Điều này thể hiện rõ ở hiện trạng nguy cơ mất an toàn quỹ BHXH những năm gần đây. Mặc dù có nhiều giải pháp đặt ra như tăng mức đóng, kéo dài tuổi nghỉ hưu hay mở rộng đối tượng tham gia song dường như đây vẫn là hạn chế lớn nhất phải khắc phục đảm bảo an toàn, phát triển bền vững cho quỹ BHXH.

(vi) Tình trạng trốn đóng BHXH, nợ đọng BHXH còn khá phổ biến với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên việc khởi kiện các doanh nghiệp trốn đóng, nợ bảo hiểm rất khó thực hiện trên thực tế. Thực tế này cũng từ việc thiếu một cơ chế xử phạt vi phạm hiệu quả, thiếu cơ chế giải quyết tranh chấp về BHXH phù hợp. Tiêu biểu nhất là những vướng mắc của quy trình khởi kiện doanh nghiệp nợ BHXH là từng người lao động phải ủy quyền cho công đoàn cơ sở. Điều này khó khả thi khi cán bộ công đoàn cơ sở đang hưởng lương từ doanh nghiệp và người lao động phải bảo vệ việc làm của mình.

2. Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm xã hội

Ngày 23 tháng 5 năm 2018, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Nghị quyết khẳng định BHXH là trụ cột quan trọng của hệ thống ASXH, phấn đấu đến năm 2021 đạt khoảng 35%, năm 2025 đạt khoảng 45%, năm 2030 đạt khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tham gia BHXH.

Để phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, luật BHXH cũng cần có những sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới nhằm thực hiện các mục tiêu mà Nghị quyết đã đề ra đồng thời khẳng định vị trí trụ cột của BHXH trong hệ thống ASXH. Việc sửa đổi, bổ sung luật BHXH cần đáp ứng các yêu cầu sau:

– Xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa dạng, đa tầng. Đây cũng là một trong những nội dung cải cách củaNghị quyết số 28-NQ/TW. BHXH đa tầng thể hiện: tầng 1 do Nhà nước chịu trách nhiệm là chính sách trợ cấp hưu trí xã hội người cao tuổi không có lương hưu, hoặc bảo hiểm xã hội hằng tháng, có khó khăn trong cuộc sống; tầng 2 do Nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động tham gia là bảo hiểm xã hội cơ bản, bao gồm bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện chuyển dần sang bảo hiểm xã hội bắt buộc hướng tới bảo hiểm xã hội toàn dân; tầng 3 do người sử dụng lao động và người lao động tham gia là bảo hiểm hưu trí bổ sung, mang tính chất tự nguyện, tạo điều kiện cho người lao động thu nhập cao hơn tham gia.

– Cải cách chính sách BHXH vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài; kết hợp hài hòa giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển và phải đặt trong mối tương quan với đổi mới, phát triển các chính sách xã hội khác, nhất là chế độ tiền lương, thu nhập, an toàn vệ sinh lao động, trợ giúp xã hội để mọi công dân đều được bảo đảm an sinh xã hội.

– Mở rộng đối tượng tham gia BHXH đồng thời hoàn thiện các quy định về đóng-hưởng BHXH, đảm bảo nguyên tắc công bằng, bình đẳng, chia sẻ và phát triển bền vững.

– Luôn xác định và làm tốt vai trò của BHXH là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân phối lại thu nhập một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách Nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền vững.

– Thực hiện chính sách BHXH đảm bảo sự bình đẳng về vị trí xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển. Nghiên cứu biện pháp hiệu quả trong việc xóa bỏ nhận thức trước đây của người dân cho rằng chỉ có công chức, viên chức làm việc trong khu vực nhà nước mới được hưởng các chế độ BHXH.

– Quyền lợi của các chế độ BHXH không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và mức sống chung toàn xã hội tại từng thời điểm, đảm bảo cuộc sống của người tham gia BHXH khi gặp rủi ro, khắc phục những khó khăn bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, hoặc duy trì một phần thu nhập sau khi hết tuổi lao động.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện

Hoàn thiện quy định pháp luật về BHXH trong thời gian tới phải bám sát với quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nội dung cải cách và nhiệm vụ được xây dựng trong Nghị quyết số 28- NQ/TW hội nghị lần thứ bảy – Ban chấp hành trung ương khóa XII.

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHXH. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHXH và pháp luật có liên quan để thể chế hóa các chủ trương, cải cách chính sách BHXH theo tinh thần các Nghị quyết của Trung ương.

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về BHXH phải kết hợp với hoàn thiện pháp luật, chính sách về chế độ tiền lương, việc làm, chính sách người có công với cách mạng và các chính sách pháp luật khác có liên quan. Đặc biệt, cần gấp rút hoàn thiện chính sách và pháp luật bảo hiểm xã hội theo Nghị quyết số 28-NQ/TW. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và giám sát việc triển khai thực hiện pháp luật liên quan đến cải cách chính sách BHXH. Quốc hội sớm nghiên cứu thể chế hóa quan điểm, mục tiêu và các nội dung cải cách về BHXH trong các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; rà soát các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết có liên quan cần ban hành mới, sửa đổi, bổ sung phù hợp với Nghị quyết số 28-NQ/TW để đề xuất đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. Trong giai đoạn 2019 – 2025, chú trọng hoàn thiện chính sách BHXH có liên quan trong quá trình xem xét, sửa đổi các văn bản: Bộ luật Lao động, Nghị quyết 93/2015/QH13 về việc thực hiện chính sách hưởng BHXH một lần đối với người lao động, Luật Người cao tuổi, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Việc làm, Luật BHXH.

Thứ hai, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật BHXH theo hướng mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, có thể nghiên cứu quy định nhóm đối tượng làchủ hộ kinh doanh; người quản lý doanh nghiệp không hưởng tiền lương; người quản lý, điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương;những người có phát sinh quan hệ lao động, có thực hiện hoặc hợp tác thực hiện hoạt động kinh doanh, dịch vụ… có phát sinh thu nhập mà Nhà nước có thể quản lý được thông qua các cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh tham gia BHXH bắt buộc. Thực hiện giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH cho từng địa phương theo từng giai đoạn. Đồng thời tạo điều kiện tối đa, đơn giản thủ tục để thu hút người dân có thể tham gia loại hình BHXH tự nguyện, có chính sách hỗ trợ người nghèo, người có thu nhập thấp tham gia BHXH tự nguyện. Cần có những hướng dẫn đối với những quy định chưa rõ ràng về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam mà không có hợp đồng lao động.

Thứ ba, thiết kế gói BHXH ngắn hạn cho NLĐ cho các nhóm đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, nhóm đối tượng có thời gian đóng BHXH ngắn, nhóm đối tượng là lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài…. xây dựng các gói BHXH có mức hưởng cao tương ứng với mức đóng góp thích hợp để người dân có nhiều sự lựa chọn từ đó thu hút người dân tham gia BHXH. Cá biệt hóa các gói bảo hiểm theo đối tượng có ý nghĩa đối với thực hiện hiệu quả chế độ bảo hiểm xã hội. Hiện tại, triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện theo nhóm đang được quan tâm. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức có liên quan đánh giá kết quả 5 năm thi hành Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, trình Quốc hội xem xét sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội theo hướng mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sang các nhóm đối tượng khác.

Thứ tư, sửa đổi quy định về tỷ lệ đóng BHXH giữa người lao động và người sử dụng lao động để hài hòa quyền lợi giữa người sử dụng lao động và người lao động theo hướng giảm bớt gánh nặng tài chính trên vai người sử dụng lao động, góp phần làm giảm tình trạng doanh nghiệp trốn đóng BHXH hoặc tìm cách lách luật đóng với mức thấp làm ảnh hưởng đến quyền lợi lâu dài của người lao động.

Thứ năm, nghiên cứu giảm thời gian đóng BHXH để được hưởng hưu trí. Giảm thời gian tối thiểu đóng BHXHđể được hưởng lương hưu ở mức còn 15 năm để tạo điều kiện cho người đã có số năm tham gia BHXH thấp có cơ hội được hưởng quyền lợi BHXH và khuyến khích các đối tượng tham gia BHXH. Cách tính lương hưu nên sửa đổi theo hướng giảm tỷ lệ tích lũy với mỗi năm đóng BHXH theo Luật BHXH năm 2014 từ 2%/năm xuống 1,5%/ năm và giảm tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa từ 75% xuống còn 65% theo lộ trình tương ứng với tiền lương, thu nhập đóng BHXH được nâng cao để không làm giảm lương hưu của người lao động.Bảo đảm khả năng cân đối Quỹ hưu trí dài hạn, phù hợp với thông lệ quốc tế. Có lộ trình điều chỉnh kéo dài thời gian tham gia BHXH thực tế, bảo vệ quyền lợi của người hưởng chế độ hưu trí theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng và chia sẻ phù hợp.Hạn chế tình trạng hưởng BHXH một lần. Các quy định được sửa đổi để khuyến khích NLĐ tham gia BHXH thời gian dài hơn, từng bước tăng tuổi nghỉ hưu bình quân, tăng tỷ lệ giảm trừ tiền lương hưu đối với NLĐ muốn nhận chế độ hưu trí sớm.

Thứ sáu, đơn giản hóa thủ tục BHXH. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, đơn giản hóa các quy trình, thủ tục đăng ký, đóng, hưởng BHXH, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ BHXH theo hướng thân thiện, công khai, minh bạch,trang bị cho nhân viên BHXH kỹ năng sử dụng ngoại ngữ trong hỗ trợ người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam tham gia bảo hiểm, kỹ năng tư vấn, sự thân thiện, nhiệt tình với người dân và doanh nghiệp.Xử lý nghiêm mọi biểu hiện, hành vi gây phiền hà, khó khăn cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình tham gia, thụ hưởng BHXH. Việc đơn giản thủ tục hành chính trong lĩnh vực BHXH được đề cập nhiều trước thời điểm ban hành Luật BHXH năm 2014. Mặc dù Chính phủ và Bảo hiểm Việt Nam đã có nhiều cố gắng cải cách song vấn đề này vẫn còn tồn tại cần được cải cách tiếp tục. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, xử lý, tác nghiệp về BHXH; tạo lập cơ sở dữ liệu chung, thống nhất về BHXH, hướng tới thống nhất bộ mã số BHXH cá nhân với mã số căn cước của từng công dân.

Thứ bảy, nâng cao nhận thức về chính sách BHXH. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH để nhân dân thấy rõ những lợi ích, ý nghĩa của chính sách BHXH đối với việc ổn định đời sống nhân dân, ổn định kinh tế – xã hội và bảo đảm an sinh xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội. Đặc biệt, cần có những giải pháp hiệu quả để thu hút sự tham gia của người lao động vào việc xây dựng và thực hiện chính sách và pháp luật về bảo hiểm xã hội. Thiếu vắng sự tham gia của người lao động chịu sự tác động của chính sách, pháp luật trong quá trình xây dựng và thi hành dễ làm phát sinh những hệ lụy tiêu cực. Một số nghiên cứu đã chỉ rã những hệ lụy này. (Le Hong Hanh, 2017)

Thứ tám, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BHXH. Hoàn thiện bộ máy tổ chức thực hiện chính sách BHXH theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành và địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách BHXH, kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Tăng cường công tác phối hợp, chia sẻ, kết nối thông tin, dữ liệu giữa cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, tài chính, thuế, lao động để nâng cao hiệu quả quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và thực thi chính sách bảo hiểm xã hội. Nâng cao năng lực và hiệu quả công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về bảo hiểm xã hội. Xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội, bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và chất lượng cung ứng dịch vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội.

Thứ chín, hoàn thiện các chế tài xử lý vi phạm pháp luật về BHXH, nhất là đối với các hành vi trốn đóng, nợ đóng, trục lợi BHXH theo hướng cơ quan quản lý nhà nước về BHXH và cơ quan quản lý Quỹ BHXH có thẩm quyền xử phạt việc chậm đóng, nợ đóng đối với các doanh nghiệp; đồng thời, các doanh nghiệp và người lao động có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện cơ quan thực hiện BHXH nếu phát hiện có sai phạm trong thực hiện chính sách BHXH. Nghiên cứu bỏ quy định Công đoàn khởi kiện nợ BHXH vì không hiệu quả và không phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ mười, nghiên cứu hoạt động đầu tư quỹ BHXH: Tăng cường công tác đánh giá, dự báo tài chính, hiệu quả đầu tư các Quỹ BHXH; đa dạng hóa danh mục, cơ cấu đầu tư Quỹ BHXH theo nguyên tắc an toàn, bền vững và hiệu quả; ưu tiên đầu tư vào trái phiếu chính phủ, nhất là trái phiếu chính phủ dài hạn; từng bước mở rộng sang các lĩnh vực có khả năng sinh lời cao, có lộ trình đầu tư một phần tiền nhàn rỗi của Quỹ thông qua ủy thác đầu tư tại thị trường trong nước và quốc tế.

Nghị quyết số 28-NQ/TW hội nghị lần thứ bảy – Ban chấp hành trung ương khóa XII đã khẳng định BHXH là một trụ cột chính của hệ thống ASXHtrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước. Vì vậy để phát huy vai trò tối đa của BHXH trong hệ thống ASXH thì vấn đề xây dựng hệ thống pháp luật BHXH hoàn chỉnh, một chính sách BHXH tích hợp với các chế độ ASXH khác là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân.

Kết luận

Bảo hiểm xã hội hiện đang là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhưng lại là vấn đề khá nhạy cảm trong thực hiện. Để bảo hiểm xã hội trở thành một yếu tố thúc đẩy ASXH, cần có những bước đi mạnh mẽ và toàn diện hơn trong hoàn thiện thể chế, đặc biệt là yếu tố chính sách, pháp luật. Tuy nhiên, hoàn thiện thể chế ASXH trong bối cảnh của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam không hoàn toàn dễ thực hiện vì còn quá nhiều vấn đề cần phải xử lý, nhất là những vấn đề liên quan đến tình trạng thương mại hóa BHXH. Chính tình trạng này đang ảnh hưởng tiêu cực đến vai trò của BHXH. Trong bối cảnh đó, những giải pháp hoàn thiện pháp luật về BHXN trong bài viết này là những quan điểm, những phát hiện ban đầu và của riêng tác giả. Hy vọng bài viết sẽ khơi dậy các cuộc tranh luận về việc hoàn thiện thể chế BHXH với nhiều giải pháp toàn diện và phù hợp.

Theo Tạp chí Pháp luật và Phát triển số 1 + 2/2019

Tài liệu tham khảo
1. ILO, Analysis of theViet Nam National Social Protection Strategy (2011-2020) in the context of Social Protection
Floor objectives, 2012;
2. ILO/VASS, Employment and Social Protection in VietNam, 2011
3. GIZ/ILSSA, Development of Social Security System in Vietnam toward 2020, 2013
4. Anh Hiếu, 2017, ‘Năm 2017, BHXH Việt Nam vượt nhiều chỉ tiêu Chính phủ giao’, Báo mới số ra ngày 31 tháng
12 (truy cập ngày 4 tháng 3 2019)
5. BCHTW Đảng, 2018, ‘Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”
6. Lạc Nhạn, 2019, ‘Năm 2018, cả nước có trên 14,7 triệu người tham gia Bảo hiểm xã hội’ Đầu tư Chứng khoán
số ra 14 tháng 1 năm 2019 (truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2019)
7. Nguyễn Hữu Dũng, 2018, ‘Chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động: Thực trạng và định hướng cải
cách’, Tạp chí Cộng sản, số ra ngày 27 tháng 8 năm 2018, (truy cập ngày 3 táng 4 năm 2019)
8. ANTV, 2017, ‘Bất cập BHXH bắt buộc với người đi xuất khẩu lao động’, ANTV số ra ngày 7 tháng 8 năm 2017
(truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2019)
9. Le Hong Hanh, 2017, ‘Public Participation in the Legislative Process in Vietnam and the Concept of Public Consultation’, Australian Journal of Asian Law, 2016, Vol 17 No 2, Article 12: 1-18
10. Thanh Hoài, 2010, ‘Ghép nhiều TTHC về bảo hiểm xã hội thành 1 thủ tục đơn giản, hiệu quả hơn’ Báo điện tử
Chính phủ, <http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Ghep-nhieu-TTHC-ve-bao-hiem-xa-hoi-thanh-1-thu-tuc-don-gian-hieuqua-hon/54480.vg> (truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2019)
11. Hà My, 2018, ‘BHXH Việt Nam: Tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính’, Thời báo Tài Chính số ra
10 tháng 10 http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/tien-te-bao-hiem/2018-10-10/bhxh-viet-nam-tiep-tuc-ra-soat-dongian-hoa-thu-tuc-hanh-chinh-62947.aspx (truy cập 4 tháng 3 năm 2019)
12. Báo Dân Trí, 2018, ‘Thí điểm thực hiện gói bảo hiểm xã hội tự nguyện ngắn hạn linh hoạt’, số ra 12
tháng 10 <https://dantri.com.vn/viec-lam/thi-diem-thuc-hien-goi-bao-hiem-xa-hoi-tu-nguyen-ngan-han-linhhoat-20181012080616596.ht> (truy cập 4 tháng 3 năm 2019)
13. Ngô Sỹ Lợi, 2018, ‘Một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 28-NQ/TW về cải cách chính
sách BHXH’, Tạp chí BHXH, số ra ngày 3 tháng 8 <apchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/mot-so-giai-phap-nham-thuchien-co-hieu-qua-nghi-quyet-28-nq-tw-ve-cai-cach-chinh-sach-bhxh-19539> (truy cập ngày 4 tháng 3 năm 20119)
14. Tài liệu ILO, “Đánh giá sự tương thích của chiến lýợc an sinh xã hội việt nam (2011-2020) với sáng kiến sàn an
sinh xã hội của liên hợp quốc” – ILO – An sinh xã hội – 2012.
15. Nguyễn Mậu Quyết, 2018, ‘Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội hướng tới bao phủ toàn dân’ Tạp chí Tài
chính số ra ngày 14 tháng 8 <http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu–trao-doi/trao-doi-binh-luan/cai-cach-chinh-sachbao-hiem-xa-hoi-huong-toi-bao-phu-toan-dan-142693.html>
16. BHXH Việt Nam, 2018‘Báo cáo tổng kết nhiệm vụ năm 2018 và phương hướng, giải pháp thực hiện nhiệm vụ
năm 2019’