Nhận diện và đánh giá tổng thể các vấn đề pháp lý của việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra

Đánh giá tác giả:

Lê Hồng Hạnh*
ThS. Trần Đỗ Thành**

Bồi thường thiệt hại môi trường là quan hệ rất phức tạp ở nhiều khía cạnh pháp lý. Việc nhận diện và phân tích các khía cạnh pháp lý trong mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật, chính sách về bồi thường thiệt hại. Bài viết này tổng hợp và phân tích những vấn đề pháp lý cần phải giải quyết khi tiến hành việc bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1. Chủ thể tham gia quan hệ bồi thường thiệt hại

Tính phức tạp của nó thể hiện ở cơ cấu các chủ thể tham gia quan hệ này. Thông thường, sự ô nhiễm môi trường liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức, nhất là ô nhiễm nguồn nước và không khí. Nhiều hành vi ô nhiễm môi trường tác động đến hàng nghìn người, thậm chí hàng chục nghìn người. Ví dụ điển hình cho tính phức tạp của chủ thể tham gia vào quan hệ bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra là Vụ Formosa, vụ Công ty Vedan xả thải xuống sông Thị Vải. Nếu như Vedan xả nước thải của hoạt động sản xuất gây ô nhiễm lưu vực sông, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp và cuộc sống của hàng nghìn người dân thì việc Formosa xả nước thải xuống biển làm ô nhiễm môi trường biển khiến các loài thủy sản ở vùng biển từ tỉnh Hà Tĩnh trở vào đến Thừa Thiên – Huế chết hàng loạt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống hàng vạn ngư dân ở các tỉnh này. Phải khẳng định rằng, rất ít các vi phạm trong lĩnh vực khác có thể gây thiệt hại và từ đó dẫn đến sự hình thành các quan hệ pháp lý về bồi thường thiệt hại có sự tham gia của số lượng lớn cá nhân, tổ chức như hành vi gây ô nhiễm môi trường. Chưa tính đến những vụ vi phạm pháp luật, gây ô nhiễm môi trường cục bộ, chỉ tính riêng 10 dự án gây ô nhiễm nhất ở Việt Nam đủ để cho thấy sự tính phức tạp về mặt chủ thể của quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại. (Fobre Vietnam, 2016) Dự án gây ô nhiễm số 1 là dự án xây dựng nhà máy thép Formosa của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Hưng Nghiệp.Theo kết quả điều tra của Chính phủ, những vi phạm và sự cố trong quá trình thi công, vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy của Công ty là nguyên nhân gây ra tình trạng này. Công ty Formosa Hà Tĩnh đã nhận trách nhiệm và cam kết bồi thường thiệt hại 500 triệu USD. Ngư dân các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế đã được bồi thường thiệt hại từ số tiền 500 triệu Đô la Mỹ mà công ty Formosa đã chuyển cho Chính phủ. Formosa trên đã có những giải pháp khắc phục tình trạng gây ô nhiễm song chưa có gì đảm bảo chắc chắn là ô nhiễm trong tương lai sẽ không xảy ra trong hoạt động sản xuất thép của công ty này. Vị trí thứ hai về gây ô nhiễm được dành cho Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2. Đây là dự án nhiệt điện than lớn đầu tiên của khu vực miền Nam được xây dựng tại tỉnh Bình Thuận. Tuy mới vận hành thử từ tháng 1/2015 song nhà máy này đã phát tán bụi, ảnh hưởng rất lớn đến môi trường không khí xung quanh. Phản ứng với ô nhiễm khói bụi, vào tháng 4/2015, dân địa phương đã phong tỏa quốc lộ 1 để phản đối. Tháng 10/2015 và tháng 1/2016, tiếp tục có sự cố khiến nước từ bãi xả thải tràn ra ngoài khu dân cư, gió lốc khiến bụi phát tán ra môi trường xung quanh. Đoàn thanh tra của Tổng cục Môi trường đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với chủ đầu tư do gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, Nhiệt điện Vĩnh Tân còn có kế hoạch nhấn chìm chất thải nạo vét xuống vùng biển Bình Thuận gây nên làn sóng phản đối của nhân dân. Ô nhiễm môi trường trong hoạt động của Nhiệt điện Vĩnh Tân gây thiệt hại cho rất nhiều người dân trong khu vực xung quanh. Các cơ quan chức năng đã xác định mức độ thiệt hại của người dân để yêu cầu Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đền bù. Số lượng những chủ thể tham gia quan hệ pháp lý đền bù thiệt hại do hoạt động của Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 không phải là con số nhỏ. Xếp thứ ba trong danh sách 10 doanh nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất là công ty Vedan. Công ty Vedan đã xây dựng một hệ thống thải nước ngầm đổ ra sông Thị Vải. Chỉ sau hơn 1 năm bị phát công ty bột ngọt Vedan đã gây ra 80% – 90% ô nhiễm cho sông Thị Vải, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Như đã cam kết trước đó, Vedan chấp nhận bồi thường 100% thiệt hại theo yêu cầu cho người bị thiệt hại ở Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền gần 220 tỷ đồng. Trong số này, người dân Đồng Nai nhận gần 120 tỷ đồng; Bà Rịa-Vũng Tàu nhận hơn 53,6 tỷ đồng và Thành phố Hồ Chí Minh nhận hơn 45,7 tỷ đồng. Ngoài số tiền bồi thường cho 5100 hộ nông dân bị thiệt hại của các địa phương, Vedan cũng đã thanh toán toàn bộ chi phí kiểm tra, giám sát, phân tích mẫu, đánh giá môi trường, các hoạt động tư vấn và một số chi phí khác liên quan đến việc giải quyết vụ Vedan xả thải gây ô nhiễm môi trường, gây thiệt hại cho 3 địa phương, mỗi địa phương 500 triệu đồng. Công ty dệt Mei Sheng Textiles Việt Nam 100% vốn Đài Loan xếp thứ tư trong danh sách 10 doanh nghiệp gây ô nhiễm nhất. Tháng 5/2016, sau 6 lần bị phạt do vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường nhưng không chấp hành, cơ quan chức năng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định niêm phong toàn bộ xưởng nhuộm của nhà máy công ty Mei Sheng Textiles Việt Nam.Mặc dù không được cấp phép cho sản phẩm nhuộm nhưng công này vẫn hoạt động nhuộm và xả thải trực tiếp vào hồ Đá Đen, nguồn cung nước sinh hoạt cho khoảng 1 triệu người dân trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đồng thời, cùng ngày, 33 hộ dân đang nuôi cá trên sông Chà Và (ở xã Long Sơn, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) đã cùng nhau ký đơn kiện 14 doanh nghiệp trên địa bàn xả thải làm cá nuôi của họ chết trong năm 2015 ra tòa. Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành được thành lập năm 2003 để thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Long Thành. Hoạt động của công ty này đã gây ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến nhiều hộ gia đình, cá nhân, các hợp tác xã ở khu vực huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình hoạt động, Sonadezi Long Thành đã nhiều lần vi phạm pháp luật về môi trường, xả thải không đạt chuẩn ra môi trường. Năm 2011, cục Cảnh sát môi trường (C49) bắt quả tang Sonadezi Long Thành, doanh nghiệp về xây dựng hạ tầng khu công nghiệp đã xả nước thải không đạt chuẩn ra rạch Bà Chèo. Vi phạm này gây nhiều thiệt hại cho người dân. Đã có 168 hộ dân nộp đơn đòi Công ty CP DV Sonadezi bồi thường 11,15 tỉ đồng. Các hộ đã thống kê thiệt hại về hoa màu, thủy sản, diện tích canh tác và chăn nuôi.Đến năm 2012, kết luận của viện Môi trường và tài nguyên cho thấy, 113,6 hecta trong tổng số 682,8 hecta rạch Bà Chèo bị ô nhiễm là do nước thải từ nhà máy xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp Long Thành, thuộc công ty cổ phần Sonadezi Long Thành.

2. Hành vi vi phạm

Hành vi gây ô nhiễm môi trường rất khó xác định trong thực tiễn. Hành vi gây ô nhiễm được coi là một trong những thách thức nghiêm trọng đối với nhân loại và đối với tất cả các thực thể sống khác trên trái đất. Ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất của Việt Nam trong thời điểm hiện nay. Ô nhiễm môi trường được định nghĩa là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Luật bảo vệ Môi trường 2014, Điều 3, khoản 8). Định nghĩa của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 về ô nhiễm về cơ bản cũng tương thích với các định nghĩa phổ biến trong khoa học và pháp luật ở nhiều quốc gia, các công ước quốc tế về môi trường. Iyyanki V. Muralikrisha (2017) định nghĩa nhiễm môi trường là ‘việc làm bẩn các thành tố vật lý và sinh học của hệ sinh quyển ở mức mà các quá trình môi trường bình thường bị đảo nghịch.’ Chất gây ô nhiễm có thể là là các chất hoặc năng lượng phát sinh tự nhiên. Chúng chỉ trở thành chất gây ô nhiễm khi vượt quá mức tự nhiên. Ví dụ, khí các bon điôxit (Co2)phát sinh từ quá trình phát thải và hấp thụ của rừng. Khi rừng không còn, con người lại làm phát thải nhiều khí Co2 quá mức cho phép thì Co2 trở thành chất gây ô nhiễm. Việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên quá khả năng tự phục hồi của chúng cũng dẫn đến ô nhiễm môi trường, bao gồm cả môi đất, nước, không khí, rừng. Việc làm bẩn các thành tố vật lý và sinh học có thể do con người và có thể do tự nhiên. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng nguyên nhân do con người là chủ yếu. Nhiều dòng sông, nhiều vùng rừng nhiệt đới bị lấp, bị chặt phá dẫn đến sự thay đổi các điều kiện tồn tại của hệ thực vật và động vật và môi trường sống của con người. Nhiều giá trị văn hóa của con người cũng bị mất cùng với tình trạng ô nhiễm môi trường. Hành vi gây ô nhiễm của con người có thể do vô thức và cũng thể do hữu thức. Những người nông dân đốt rạ trên những cánh đồng, đốt rừng gây gia tăng Co2 có thể do vô thức nhưng những chủ đầu tư các dự án cho lấp sông, lập hồ, chặn dòng chảy tự nhiên, xả chất thải chưa qua xử lý vào sông hồ là hữu thức.Hành vi gây ô nhiễm trong đời sống thực tiễn là vô cùng đa dạng, khó kiểm soát và có mức độ tác hại rất khác nhau, có thể gây tác hại ngay nhưng cũng có thể lâu dài. Để phân loại và định lượng mức độ, nguy cơ gây thiệt hại từ những hành vi của con người hoàn toàn không dễ. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của bất cứ quốc gia nào cũng có những qui định về hành vi vi phạm pháp luật. Thực tiễn cho thấy rất nhiều những hành vi phạm pháp luật. Hành vi gây ô nhiễm và hành vi phạm pháp luật có điểm chung là đều gây tác hại ở mức độ nhất định đến môi trường. Tuy nhiên, hành vi phạm pháp luật về môi trường được điển hình bởi tính chất và mức độ nghiêm trọng của chúng đối với môi trường. Hành vi vất rác thải sinh hoạt của cư dân xuống hồ cạnh nơi mình sinh sống là hành vi gây ô nhiễm. Hành vi đó có thể chỉ bị cộng đồng phê phán song chưa bị pháp luật coi là hành vi vi pháp luật môi trường. Tuy nhiên, nếu cư dân thả xuống hồ thùng hóa chất không đến thì hành vi đó bị coi là vi phạm pháp luật môi trường. Có thể so sánh hành vi gây ô nhiễm và hành vi vi phạm pháp luật môi trường theo những tiêu chí sau: Các hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường được phân loại theo lĩnh vực và theo mức độ nghiêm trọng của hành vi.

Theo lĩnh vực vi phạm. Hành vi vi phạm môi trường theo lĩnh vực bao gồm:

a. Hành vi vi phạm gây ô nhiễm nguồn nước (bao gồm sông, hồ, biển, nước ngầm). Ô nhiễm nguồn nước làsự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Hành vi gây ô nhiễm nguồn nước là hành vi xả thải vào nguồn nước những là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm. Hành vi gây ô nhiễm nguồn nước không chỉ do doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thực hiện mà ngay cả người dân trong sinh hoạt vẫn gây ô nhiễm. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng doanh nghiệp là tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm nguồn nước. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đẩy ra môi trường chất thải rắn, nước thải và khí thải. Chúng đều là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước nếu trong chất thải, nước thải, khí thải chứa những chất hóa học, các yếu tố vật lý sinh học nếu tích tụ ở mức nhất định sẽ gây ô nhiễm. Trong số các chất thải gây ô nhiễm nguồn nước thì nước thải chứa đựng nguy cơ ô nhiễm cao nhất. Tiếp đó là chất thải rắn và khí thải. Khi doanh nghiệp đưa chất thải rắn vào nguồn nước thì ngay lập tức ô nhiễm chưa xảy ra ngay giống như trong trường hợp nước thải. Chất rắn cần thời gian để hòa tan vào môi trường nước. Khí thải chứa các chất nguy hại có khuếch tán trên không trung và được mưa đưa trở lại mặt đất, hòa vào nguồn nước. Khí thải cũng có thể lắng xuống mặt hồ, sông biển và gây ô nhiễm. Như nêu ở trên, nước thải từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chính là tác nhân chủ yếu của trình trạng ô nhiễm nguồn nước.

Ví dụ, trong vụ công ty Vedan làm ô nhiễm sông Thị Vải, các chuyên gia môi trường đã xác định được hệ thống XLNT chế biến tinh bột biến tính bằng công nghệ UASB, kết hợp bùn hoạt tính có công suất 1.500 m3/ngày. Nước thải sau xử lý có nồng độ các chất ô nhiễm chính như sau (theo kết quả kiểm tra năm 2008 của Tổng cục Môi trường): TSS = 38 mg/l, BOD5 = 8 mg/l, COD = 31 mg/l, N-NH3 = 0,35 mg/l, Tổng N = 1,6 mg/l, và Tổng P = 1,84 mg/l. Các chỉ số này cơ bản đạt tiêu chuẩn cho phép khi. Hệ thống XLNT chế biến tinh bột bằng hệ thống 21 hồ sinh học tự nhiên có công suất 2.500 m3/ngày. Nước thải sau xử lý có nồng độ các chất ô nhiễm chính TSS = 41 mg/l, BOD5 = 59 mg/l, COD = 113 mg/l, N-NH3 = 40,7 mg/l, Tổng N = 50,5 mg/l, và Tổng P = 2,94 mg/l. Các chỉ số này không đạt tiêu chuẩn cho phép.Hệ thống XLNT sản xuất Lysin từ mật rỉ đường bằng hệ thống sinh học hiếu khí bùn hoạt tính, kết hợp mương ôxy hóa có công suất 1.800 m3/ngày. Nước thải sau xử lý có nồng độ các chất ô nhiễm chính như sau (theo kết quả kiểm tra năm 2008 của Tổng cục Môi trường): TSS = 57 mg/l, BOD5 = 35 mg/l, COD = 80 mg/l, N-NH3 = 47,4 mg/l, Tổng N = 54,6 mg/l, và Tổng P = 3,68 mg/l. Các chỉ số này không đạt tiêu chuẩn cho phép. Việc xả Công ty Vedan xả thải nước không đủ tiêu chuẩn cho phép, dù đã qua xử lý, đã gây ô nhiễm sông Thị Vải nhiều năm dẫn đến tình trạng dòng sông gần như bị chết.

b. Hành vi vi phạm gây ô nhiễm đất việc đưa vào đất những chất hóa học và khi đạt đến giới hạn nhất định sẽ gây ô nhiễm đất. Một trong những tác nhân gây ô nhiễm đất lớn nhất là việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học và nguồn nước ô nhiễm. Ô nhiễm đất gắn chặt với ô nhiễm nước. Khi nguồn nước ô nhiễm, đất cũng ô nhiễm theo. Ngược lại khi đất bị ô nhiễm, nguồn nước cũng ô nhiễm theo. Chính vì lý do đó, trong các chỉ số đánh giá môi trường đất có cả các chỉ số liên quan đến nước. Kiểm soát ô nhiễm đất gắn với kiểm soát ô nhiễm nguồn nước trong đa số các trường hợp. Chủ thể gây ô nhiễm đất rất khó phân định về mức độ. Doanh nghiệp là chủ thể gây ô nhiễm đất trong quá trình sản xuất kinh doanh bất chấp yêu cầu bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, người dân canh tác nông nghiệp, sản xuất thủ công nghiệp cũng là chủ thể gây ô nhiễm đất cần được liệt kê. Các cơ sở sản xuất, nhất là các làng nghề đang làm cho môi trường đất bị ô nhiễm. Việc chôn lấp các chất thải rắn, việc xả nước thải trong quá trình chế biến da, gỗ, đúc đồng, đúc nhôm v.v đã làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất. TS Lê Kim Nguyệt trong Luận án tiến sỹ của mình đã chỉ ra tình trạng này. (Lê Kim Nguyệt, 2015). Mối liên hệ giữa đất và nước không chỉ đúng trong sự vận động sinh học của thế giới tự nhiên mà đúng trong cả việc gây ô nhiễm. Ô nhiễm nước dẫn đến ô nhiễm đất. Ô nhiễm đất dẫn tới ô nhiễm nước. Những phân tích về tác hại của hành vi gây ô nhiễm sông Thị Vải của công ty Vedan cũng là một minh chứng cho mối liên hệ giữa ô nhiễm đất và ô nhiễm nước. Bằng chứng là người nông dân không thể canh tác trên các diện tích ven sông Thị Vải, phía dưới điểm sản xuất của công ty Vedan do nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp là nước từ con sông này. Nước bị ô nhiễm nên đất cũng bị ô nhiễm.

c. Thế giới hiện nay đang đối mặt với nguy cơ rất lớn từ hành vi vi phạm gây ô nhiễm không khí. Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt, con người đã thải ra môi trường không khí nhiều khí độc, đặc biệt là dioxit các bon (CO2). CO2 đang là loại khí chủ yếu gây hiệu ứng nhà kính và gây ra hiện tượng ấm toàn cầu (global warming). Không chỉ CO2, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sinh hoạt của con người còn dẫn đến việc phát thải nhiều loại khí khác gây hiệu ứng nhà kính và gây tác hại đến sức khỏe con người. Nghị định thư Montreal đã liệt kê trong các phụ lục khác nhau những khí thải bị kiểm soát. Những chất này chứa đựng thành phần hủy họa ozoneDOS (Ozone Depleting Substances).

Ví dụ trong Phụ lục A, Nghị định thư đã liệt hai nhóm chất bị kiểm soát sau:

Nhóm I CFCl3 (CFC – 11) 1,0 CF2Cl2 (CFC – 12) 1,0 C2F3Cl3 (CFC – 113) 0,8 C2F4Cl2 (CFC – 114) 1,0 C2F5Cl (CFC – 115)0, 6

Nhóm II CF2BrCl (halon – 1211) 3,0 CF3Br (halon – 1301) 10,0 C2F4Br2 (halon – 2402) 6,0

Các Phụ lục B, C cũng liệt kê hàng chục loại khí thải bị kiểm soát khác nhau. Điều này cho thấy lượng khí thải chứa chất các chất gây hiệu ứng nhà kính là khá đa dạng. Tuy nhiên, CO2 vẫn là khí có nguy cơ gây hiệu ứng nhà kính cao nhất. Nghị định thư Montreal cũng liệt kê ở trong Phụ lục D một số sản phẩm có nguy cơ phát thải các chất DOS nhất. Đứng đầu trong số các sản phẩm đó là thiết bị điều hòa không khí ô tô và xe tải, các thiết bị làm lạnh công nghiệp hoặc dân dụng, sơn khí, bình dập lửa vv. Ô nhiễm không khí mang đến nhiều nguy cơ trong đó có nguy cơ toàn cầu là sự biến đổi cực đoan của thời tiết. Biến đổi khí hậu đang làm cho nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, gặp phải nhiều trở ngại về phát triển và dân sinh. Việc mực nước biển dâng gây ngập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long ở nước cho thấy tác hại lớn của biến đổi khí hậu.

d. Gây ô nhiễm môi trường rừng là hành vi xả thải vào đất rừng, nguồn nước ở rừng những các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học vượt quá khả năng chịu tải của rừng dẫn đến việc hệ sinh thái rừng bị hủy hoại, gây suy thoái rừng hoặc mất rừng. Gây ô nhiễm môi trường rừng khác với các hành vi phá rừng như khái thác gỗ trái phép, đốt rừng để canh tác trái phép, chuyển đổi đất lâm nghiệp trái phép v.v. Trên thực tế, hiện tại Việt Nam đang đối mặt gay gắt hơn với tình trạng phá rừng.

Xét theo hậu quả. Xét theo tính chất nghiêm trọng và trách nhiệm pháp lý, hành vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường bao gồm: Vi phạm hành chính; Vi phạm hình sự. Sự đa dạng của các thành tố môi trường cũng dẫn đến sự đa dạng của hành vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt theo cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Ví dụ, trong Nghị định số 155/2016/NĐ-CPngày 18 tháng 11 năm 2016 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đã qui định tới 41 nhóm hành vi vi phạm trong lĩnh bảo vệ môi trường. Trong số đó có nhiều qui định về gây ô nhiễm môi trường. Điều 13 Nghị định này qui định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường thông thường vào môi trường; Điều 14. Vi phạm các quy định về xả nước thải có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường; Điều 15. Vi phạm các quy định về thải bụi, khí thải có chứa các thông số môi trường thông thường vào môi trường; Điều 16. Vi phạm các quy định về thải bụi, khí thải có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường; Điều 19. Hành vi gây ô nhiễm đất, nước, không khí; gây ô nhiễm môi trường kéo dài, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các qui định trong về gây ô nhiễm môi trường trong các điều nêu trên rất chi tiết. Nhiều mức phạt đã được ấn định cho từng hành vi gây ô nhiễm mỗi trường. Trong Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017, qui định 11 tội về môi trường và nhiều tội khác liên quan trực tiếp đến môi trường. Tuy chưa bao hàm hết những hành vi phạm tội song BLHS năm 2015 đã qui định những hành vi tội phạm chủ yếu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Trong 12 điều của BLHS năm 2015 về tộ phạm môi trường thì có một điều trực tiếp qui định tội phạm gây ô nhiễm. Điều 235 BLHS năm 2017 qui định tội phạm hình sự đối với hành vi chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trái quy định của pháp luật từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam; Xả thải ra môi trường từ 5.000 mét khối (m3 )/ngày đến dưới 10.000 mét khối (m3 )/ ngày nước thải có các thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên;Xả nước thải ra môi trường có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 02 lần đến dưới 04 lần;Xả ra môi trường từ 5.000 mét khối (m3)/ngày đến dưới 10.000 mét khối (m3)/ngày nước thải có độ PH từ 0 đến dưới 2 hoặc từ 12,5 đến 14;Thải ra môi trường từ 300.000 mét khối (m3 )/giờ đến dưới 500.000 mét khối (m3)/giờ bụi, khí thải vượt quá quy chuẩn kỹ thuật về chất thải 10 lần trở lên;Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải rắn thông thường trái quy định của pháp luật từ 200.000 kilôgam đến dưới 500.000 kilôgam;Chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm trung bình theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ – phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép; Phát tán ra môi trường bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật hoặc vượt mức giới hạn theo quy định từ 02 lần đến dưới 04 lần. Bộ luật hình sự năm 2015 áp dụng các hình phạt khác nhau đối với các hành vi này tùy theo mức độ nguy hại cho xã hội. Phải thừa nhận rằng các hành vi gây ô nhiễm môi trường rất đa dạng và phức tạp. Sự đa dạng của hành vi vi phạm pháp luật môi trường cũng cho thấy sự khó khăn và phức tạp trong việc xử lý vấn đề bồi thường thiệt hại. Nhiều công trình nghiên cứu về luật môi trường chỉ ra những khó khăn trong việc nhận dạng những hành vi vi phạm pháp luật môi trường đều nhấn mạnh đến tính đa dạng của chúng. Trừ những vi phạm pháp luật môi trường nghiêm trọng và được xử lý bằng các chế tài hình sự, đa số các vi phạm pháp luật môi trường khác áp dụng chế tài hành chính. Tuy nhiên để xác định hành vi vi phạm hành chính, đặc biệt là tội phạm trong lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường là rất khó. Với hành vi vi phạm hành chính thì dễ phát hiện hơn vì chúng dựa trên những thông số về xả thải. Tuy nhiên, đối với tội phạm gây ô nhiễm môi trường thì vô cùng khó xác định. Lý do là vì pháp luật qui định các tội gây ô nhiễm môi trường là nhằm vào cách hành vi gây ô nhiễm rõ ràng và mức độ nguy hại cho xã hội là rất lớn. Tuy nhiên, do gắn với mức độ nguy hại cho xã hội dựa vào mức độ thiệt hại nên xác định tội phạm môi trường là rất khó. Với hệ thống pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật của Việt Nam thì việc xác định tội phạm môi trường thiên về cấu thành nội dung, tức là dựa trên mức độ thiệt hại để xác định tội danh và định lượng hình phạt. Trong lúc đó, việc xác định thiệt hại từ hành vi gây ô nhiễm là rất khó. Nhiều hành vi gây ô nhiễm không dẫn tới thiệt hại ngay lập tức và tích tụ theo thời gian. Cũng nhiều hành vi gây ô nhiễm kêt hợp với các hành vi thành nguyên nhân gây thiệt hại. Sự đa dạng của hành vi vi phạm pháp luật môi trường cũng cho thấy sự khó khăn và phức tạp trong việc xử lý vấn đề bồi thường thiệt hại. Nhiều công trình nghiên cứu về luật môi trường chỉ ra những khó khăn trong việc nhận dạng những hành vi vi phạm pháp luật môi trường đều nhấn mạnh đến tính đa dạng của chúng.

3. Thiệt hại và mức độ thiệt hại Như đã phân tích ở trên, thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra là rất khó xác định.

Pháp luật và thực tiễn bảo vệ môi trường ở Việt Nam và các nước đều cho thấy việc xác định được chính xác thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra là điều khó khăn nhất trong việc bồi thường. Hành vi vi phạm có thể xác định, quan hệ nhân quả tuy khó hơn những vẫn có thể xác định. Khó khăn nhất chính là mức độ thiệt hại. Trong vụ công ty Vedan gây ô nhiễm, có nhiều thông tin đăng tải về việc Hội Nông dân và người dân các tỉnh trên lưu vực sông Thị Vải đưa ra mức bồi thường thiệt hại do các hành vi gây ô nhiễm môi trường của Công ty Cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam. Tuy nhiên, Công ty Vedan không đồng ý, hoặc chỉ chấp nhận bồi thường một phần hậu quả. Vấn đề đặt ra là làm thế nào và dựa trên những yếu tố nào để xác định được chính xác thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra. Trong vụ Vedan, do tính chất nghiêm trọng của vụ vi phạm, nhiều chuyên gia, nhiều tổ chức khoa học đã tham gia đánh giá và xác định thiệt hại để làm cơ sở đền bù cho những cá nhân, tổ chức bị thiệt hay từ việc ô nhiễm sông Thị Vải. Các chuyên gia, các tổ chức khoa học đã xác định được hành vi gây ô nhiễm, mức độ gây ô nhiễm từ hoạt động của Công ty Vedan. Thực tế, ngay từ năm 1995, Công ty Vedan đã gây ô nhiễm sông Thị Vải và đã đền bù cho người dân 3 tỉnhĐồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và TP HCM với mức bồi thường 15 tỷ đồng. Năm 2008, nhiều hành vi gây ô nhiễm của công ty Vedan bị phát hiện, nghiêm trọng nhất là Công ty đã bơm xả trực tiếp dịch thải sau lên men bột ngọt Lysin và từ bể chứa bán âm dung tích 6.000 – 7.000 m3 và bồn chứa 15.000 m3 theo hệ thống đường ống chôn ngầm đoạn ra cẩu cảng. Tổng lượng dịch thải sau lên men được Công ty xả lén ra sông Thị Vải theo kết luận của Đoàn Thanh tra năm 2008 là 105.600 m3/tháng, tương đương 3.520 m3/ngày với nồng độ các chất ô nhiễm rất cao: pH = 4,9; Độ màu = 610.000 PtCo; BOD5 = 549.000 mg/l; COD = 705.000 mg/l; TSS = 156.700 mg/l; N-NH4+ = 11.800 mg/l; Tổng N = 22.100 mg/l; Tổng P = 705 mg/l. Lượng bùn thải từ Xưởng tinh bột là 24.000 m3/tháng (tương đương 800 m3/ngày) với nồng độ các chất ô nhiễm chính rất cao: TSS = 12.280 mg/l, BOD5 = 1.050 mg/l, COD = 12.280 mg/l, N-NH3 = 3,08 mg/l, Tổng N = 59,7 mg/l và Tổng P = 32 mg/l.Tổng lượng nước thải từ Nhà máy bột ngọt và Lysine thải xuống mương thoát nước giải nhiệt là 46.800 m3/tháng (tương đương 1.560 m3/ngày) với nồng độ các chất ô nhiễm chính như sau: TSS = 423 mg/l, BOD5 = 2.700 mg/l, COD = 5.330 mg/l, N-NH3 = 163 mg/l, Tổng N = 385 mg/l, và Tổng P = 9,5 mg/l.Với các hành vi gây ô nhiễm của mình, Công ty Vedan đã bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 267.500.000 đồng, truy thu khoản phí BVMT đối với nước thải công nghiệp trốn nộp là 127.268.067.520 đồng.(Nguyễn Văn Phước, 2010)Việc xử lý, khắc phục những hành vi phạm của công ty Vedan về mặt hành chính đã được thực hiện. Tuy xác định được hành vi gây ô nhiễm của công ty Vedan, song việc bồi thường thiệt hại không dễ dàng được thực hiện bởi hai yếu tố chính: Thứ nhất, Ai là người khởi kiện khi có hàng chục nghìn người chịu thiệt hại; Thứ hai, thiệt hại được xác định là bao nhiêu. Để xác định phạm vi, mức độ ảnh hưởng do hành vi gây ô nhiễm của Công ty Vedan đối với sông Thị Vải và khu vực phụ cận, các chuyên gia, các tổ chức khoa học đã áp dụng 4 phương pháp khác nhau gồm: (i) thống kê; (ii) mô hình hóa; (iii) sử dụng các thông tin và dữ liệu quan trắc môi trường để phân vùng ô nhiễm; (iv) Phương pháp ảnh vệ tinh. Những kết quả nghiên cứu cho phép khẳng định công ty Vedan gây ô nhiễm nặng cho sông Thị Vải, vùng ô nhiễm và mức độ ô nhiễm của từng vùng. Chất thải của các nhà máy công nghiệp này thải xuống sông và các lưu vực đã ảnh hưởng trực tiếp làm biến động môi trường của sông và các kênh rạch, làm chết các loài tôm cá, làm giảm sút nghiêm trọng sản lượng thủy hải sản khai thác, ảnh hưởng môi trường và đời sống của người dân nơi đây. Tuy nhiên, việc định lượng thiệt hại từ hành vi gây ô nhiễm sông Thị Vải mà công ty Vedan gây ra vẫn khó được xác định đầy đủ. Xác định thiệt hại và mức độ thiệt hại do ô nhiễm mô trường gây ra vẫn là vấn đề nan giải ngay cả khi Luật môi trường năm 2014 được ban hành. Trong hàng loạt các vụ gây ô nhiễm môi trường trên cả nước, việc xử lý chỉ mới dừng chủ yếu ở phạt hành chính. Hầu như chưa có án hình sự đối với với các vụ việc.

4. Nguyên nhân gây thiệt hại – Quan hệ nhân quả

Xác định hành vi ô nhiễm gây thiệt hại là bước đầu tiên, là điều kiện tiên quyết của việc xác định bồi thường thiệt hại. Nếu không có hành vi gây ô nhiễm môi trường xảy ra thì không thể nói đến bồi thường thiệt hại. Trong thực tế, có những trường hợp ô nhiễm môi trường do các yếu tố tự nhiên gây ra. Trong những trường hợp như vậy thì dẫu có thiệt hại xảy ra cũng không thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp đặt đối với bất cứ chủ thể nào. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại gắn với hành vi gây ô nhiễm bằng mối quan hệ nhận quả, tức là hành vi gây ô nhiễm phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại. Hạt nhân cơ bản của quan hệ nhân quả trong bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường là: Hành vi gây ô nhiễm phải diễn ra trước khi xảy ra thiệt hại và thiệt hại chính là hệ quả tất yếu của hành vi gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng trong lĩnh vực môi trường, việc xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm và thiệt hại xảy ra rất khó khăn. Rất dễ nhận thấy lý do của tình trạng này nếu nhận diện đầy đủ những yếu tố được liệt kê và phân tích ở phần trên. Hành vi gây ô nhiễm rất nhiều và rất đa dạng. Bất cứ ai cũng có thể gây ô nhiễm môi trường chỉ bằng một hành vi thiếu ý thức trong sinh hoạt. Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có thể gây ô nhiễm môi trường bằng hoạt động sản xuất kinh doanh bất chấp vấn đề bảo vệ môi trường. Trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, những hành vi gây ô nhiễm xảy ra cũng vô cùng đa dạng. Điều đáng lưu ý hơn là tình trạng môi trường bị ô nhiễm ngay lập tức gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Môi trường bị ô nhiễm trong rất nhiều trường hợp gây hại từ từ vì lượng các chất là tác nhân gây ô nhiễm phải tích tụ đến mức nhất định mới gây thiệt hại. Bên cạnh đó, thiệt hại dù là hệ quả của tình trạng môi trường bị ô nhiễm song nguồn gây ô nhiễm lại khác nhau. Ví dụ, sông Thị Vải ở Đồng Nai bị ô nhiễm song nguồn xả thải vào sông là thuộc về nhiều doanh nghiệp khác nhau trong số đó có công ty Vedan Việt Nam. Trong số 16 doanh nghiệp xả nước thải ra sông Thị Vải có đến 12 doanh nghiệp không có thiết bị xử lý chất nguy hại trong khí thải trước khi đưa ra môi trường. 11/16 doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định về quản lý chất thải công nghiệp, đặc biệt là chất thải nguy hại. Bên cạnh đó, theo đánh giá của chuyên gia môi trường ngoài việc thải nước, khí và chất thải của các nhà máy công nghiệp dọc hai bờ sông thải ra, còn một nguyên nhân làm ô nhiễm sông Thị Vải là do đặc điểm tự nhiên dòng chảy của sông không lưu thông, dẫn đến đoạn giữa sông bị ô nhiễm lớn.(T.Dũng, 2006).

Quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và ô nhiễm môi trường là vấn đề được tranh luận nhiều trong pháp luật và thực tiễn tư pháp ở nhiều nước cũng như nước ngoài. Pháp luật các quốc gia đều qui định mối quan hệ nhân quả giữa ô nhiễm môi trường và thiệt hại đều là điều kiện để đáp ứng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của người bị thiệt hại. Tuy nhiên, thực tiễn tư pháp luôn gặp khó khăn trọng việc chứng minh quan hệ nhân quả trên thực tế. Tạp chí Harvard Law Review (2015) đã chỉ rõ là về mặt lịch sử, quan hệ nhân quả được xác định qua việc chứng minh tác động qua lại giữa yếu tố thiệt hại và hành vi gây ô nhiễm song cách tiếp cận này gặp những khó khăn trong thực tế. Ví dụ, trong trường hợp khi cả hai nguồn gây ô nhiễm đủ gây hại một cách riêng lẽ thì không thể xác định rằng chỉ một trong hai nguồn đó gây hại. Nếu như trong trường hợp có nhiều chủ thể gây ô nhiễm thì rất khó để xác định cụ thể chủ thể nào gây thiệt hại.

Harvard Law Review (2015) chỉ rõ nếu như các chủ thể có hành vi gây ô nhiễm tương đương thì người thiệt hại sẽ chịu bất công vì không thể chứng minh được quan hệ nhân quả vì bất cứ chủ thể gây ô nhiễm nào cũng có thể chỉ sang chủ thể khác để từ chối thừa nhận quan hệ nhân quả từ hành vi của mình. Một ví dụ cho tình trạng khó khăn trong việc chứng minh quan hệ nhân quả là gây ô nhiễm không khí. Trong bối cảnh ấm lên toàn cầu, điều chắc chắn có thể khẳng định là rất nhiều chủ thể phát thải khí nhà kính (GHG). Tuy nhiên, để xác định được chủ thể nào gây ra hiện tượng ấm lên toàn cầu, quan hệ nhân quả giữa hành vi của chủ thể đó và tình trạng ấm lên toàn cầu là rất khó khăn.

Điều này đúng cả khi tòa án thừa nhận rằng việc phát thải khí đã tích tụ và tạo ra thiệt hại. Trong những trường hợp này, tòa án cân nhắc liệu hành vi của chủ thể đã góp phần “đáng kể” và tình trạng ô nhiễm. Tuy nhiên, mức độ nào để đủ cho phép gọi hành vi gây ô nhiễm đó là “đáng kể” vẫn không rõ ràng.

(Harvard Law Review, 2015) Pierre Bentata (2013) cũng chỉ ra những khó khăn hay sự thiếu chắc chắn trong việc chứng minh quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường và thiệt hại. Đây là quan điểm chung của nhiều học giả vì họ cho rằng chỉ trách nhiệm dân sự không thôi thì không đủ để xử lý các sự cố môi trường khi quan hệ nhân quả rất không rõ ràng hoặc rất tốn kém nếu muốn chứng minh được. Pierre Bentata (2013) tìm cách chứng minh sự kết hợp giữa trách nhiệm dân sự với sự hệ thống điều chỉnh trong thực tiễn tư pháp của Cộng hòa Pháp mang lại hiệu quả cho việc bồi thường thiệt hại do việc ô nhiễm môi trường gây ra. Các thẩm phán Pháp đang sử dụng lợi thế thông tin trong các qui chế để đưa ra cách tiếp cận xác suất đối với quan hệ nhân quả và bằng cách đó tăng tính hiệu quả của hệ thống trách nhiệm. Một yêu cầu bồi thường thiệt hại trong điều kiện áp dụng chế độ trách nhiệm dựa trên quan hệ nhân quả có thể bị từ chối do không chứng minh được quan hệ nhân quả vẫn có thể được tòa án đáp ứng dựa trên sự vi phạm các qui chế.

Quan hệ nhân quả dù khó xác định nhưng vẫn là một điều kiện quan trọng để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường cả trong thực tiễn pháp luật quốc tế. Tòa án Công lý Quốc tế của Liên Hợp quốc (ICJ) vào ngày 02 tháng 02 năm 2018 đã ra bản án về bồi thường thiệt hại trong vụ Costa Rica kiện Nicaragua. Vụ việc bắt nguồn từ việc ngày 18 tháng 10 năm 2010, Costa Rica khởi kiện Nicaraggua ra ICJ liên quan đến việc nạo vét sông San Juan River và hành vi vi phạm toàn vẹn lãnh thổ của Costa Rica bằng việc đào kênh nối sông San Juan River với cảng Harbour Head Lagoon. Ngày 16 tháng 12 năm 2015, ICJ đưa ra bản án kết luận Nicaragua vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Costa Rica và buộc các Bên xác định mức độ thiệt hại.Ngày 02 tháng 02 năm 2018, ICJ ra bản án buộc Nicaragua bồi thường thiệt hại môi trường do các hành vi vi phạm của mình gây ra cho Costa Rica. Trong bản án này, ICJ đã dựa trên quan hệ nhân quả để xác định thiệt hại của Costa Rica. Trong bản án này ICJ đã lập luận như sau:

Để chấp nhận yêu cầu bồi thường, Tòa án sẽ xác định từng loại thiệt hại mà Nguyên đơn yêu cầu có xảy ra không, xảy ra ở mức độ nào và liệu những thiệt hại này có phải là hậu qua của những vi phạm của Nicaragua bằng việc chứng minh có hay không quan hệ nhân quả (causal nexus) giữa hành vi vi phạm của Bị đơn và thiệt hại mà Nguyên đơn gánh chịu. (International Court of Justice, 2018)

5. Hệ thống pháp lý Hệ thống pháp lý là yếu tố quan trọng của việc bồi thường thiệt hại môi trường.

Phải khẳng định rằng những khó khăn, phức tạp trong việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường suy cho cùng cũng bắt nguồn từ yếu tố con người. Hệ thống pháp lý và sự vận hành của nó cũng phụ thuộc vào yếu tố con người. Trong thể chế của bất cứ quốc gia nào, hệ thống pháp lý đóng vai trò trung tâm. Khi khoa học pháp lý trên thế giới chưa đưa ra được một định nghĩa đầy đủ về hệ thống pháp lý thì công trình nghiên cứu này cũng chỉ góp phần làm rõ hơn nội hàm của khái niệm này mà không tìm cách định nghĩa về nó. Khái niệm hệ thống pháp lý là phạm trù khá mở và hiện tại chưa có định nghĩa nào về hệ thống pháp lý được thừa nhận rộng rãi. Trong Đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản của Quỹ Nafosted “Hệ thống pháp lý trong quản lý phát triển xã hội ở các nước ASEAN và mô hình Việt Nam cần xây dựng để hướng tới cộng đồng ASEAN” đã có những phân tích về nội hàm cơ bản của khái niệm hệ thống pháp lý. Lê Hồng Hạnh (2016) đã chỉ ra những thành tố cơ bản sau đây của hệ thống pháp lý.

Thứ nhất, trước hết phải khẳng định rằng để được coi là một hệ thống pháp lý thì điều kiện đầu tiên đây phải là một hệ thống, tức là có các thành tố và giữa các thành tố có mối liên hệ.

Thứ hai, đây là hệ thống liên quan đến pháp luật, tức là nằm trong khuôn khổ của pháp luật, xuất phát từ pháp luật và luôn gắn liền với pháp luật.

Thứ ba, đây là một hệ thống xã hội vận hành qua việc tiếp nhận nhu cầu xã hội, nhất là những nhu cầu pháp lý, xử lý chúng qua các cấu trúc và cơ chế nội tại để đưa ra những kết quả mà xã hội mong muốn khi đặt ra các qui định pháp luật.

Thứ tư, hệ thống pháp lý được coi là nền tảng của thế chếở bất cứ quốc gia nào vì nó tạo ra những khuôn khổ cơ bản nhất cho những hoạt động xã hội, kể cả hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học vv.. Trên cơ sở những phân tích về bản chất của hệ thống pháp lý, Lê Hồng Hạnh (2016) đã chỉ ra những yếu tố cụ thể của hệ thống pháp lý dựa trên những quan điểm phổ biến trên thế giới về quan niệm này.

(i) Hệ thống pháp lý bao gồm: Pháp luật được chứa đựng trong các loại văn bản được coi là nguồn hoặc trong các án lệ mà quốc gia chính thức coi đó là nguồn luật.

(ii) Hệ thống tòa án;

(iii) Các cơ quan thuộc hệ thống quyền lực hành pháp được trao nhiệm vụ thực thi pháp luật hoặc hỗ trợ thực thi pháp luật;

(iv) Luật sư;

(v) Hệ thống đào luật.

Trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại, một hệ thống pháp lý có thể mang lại hiệu quả nếu trong đó có những yếu tố cho phép hướng tới việc bảo vệ môi trường tối đa. – Trước hết pháp luật có những qui định cụ thể cho phép người bị thiệt hại yêu cầu hoặc khởi kiện để buộc người gây ô nhiễm bồi thường thiệt hại. Các qui định như vậy phải cụ thể và đặc biệt là phải có những dự liệu cho việc khó khăn trong chứng minh quan hệ nhân quả. Nếu hệ thống pháp lý của bất cứ quốc gia nào bị ràng buộc quá chặt vào yêu cầu chứng minh quan hệ nhân quả trong lĩnh vực này thì khó đảm bảo được quyền của người bị thiệt hại đòi bồi thường thiệt hại. Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống pháp luật chưa có được sự hỗ trợ của các qui chế cụ thể như ở hệ thống pháp lý của Pháp.

– Hệ thống tòa án phải luôn coi quyền của người dân được sống trong môi trường trong lành, quyền tài sản của họ là đối tượng cần được bảo vệ ở mức độ cao. Nếu tòa án không sẵn sàng thì chỉ cần một sự thiếu chắc chắn trong việc người chịu thiệt hại chứng minh quan hệ nhân quả thì tòa án sẽ bác yêu cầu mặc dù thiệt hại đã được chứng minh. Thực trạng này ở Việt Nam được chứng minh trong nghiên cứu của Đề tài này. Bên cạnh đó, các thẩm phán cần được đào tạo hoặc cập nhật kiến thức cần thiết về môi trường để dễ dàng và chính xác hơn khi được trao các vụ việc liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung.

– Các cơ quan hỗ trợ thực thi pháp luật thuộc hệ thống cơ quan hành pháp cần phải có sự hỗ trợ cần thiết cho người bị thiệt hại trong việc chứng minh thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra. Các cơ quan này cần coi việc giúp người dân chứng minh thiệt hại là một trách nhiệm, một nghĩa vụ gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ môi trường quốc gia. – Luật sư và hiệp hội luật sư cũng cần có cách tiếp cận khác trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật cho người bị thiệt hại do gây ô nhiễm gây ra. Thực tế chỉ ra rằng đa số những người chịu hại là người dân nghèo. Họ khó có những nguồn tiền lớn để thuê luật sư như những doanh nghiệp bị thiệt hại. Một cách tiếp cận nhân đạo cần được luật sư hướng tới khi bảo vệ những người bị thiệt hại trong các vụ kiện hoặc các yêu cầu liên quan đến bồi thường thiệt hại.

6. Kết luận.

Việc nhận diện những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra cho phép khẳng định rằng đây là một mảng quan hệ pháp luật rất cần được điều chỉnh một cách phù hợp nhất để bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức song lại vô cùng phức tạp. Với thực trạng thể chế hiện hành của Việt Nam thì việc đáp ứng yêu cầu chính đáng của những người bị thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi rất nhiều yếu tố cần hoàn thiện.

Theo Tạp chí Pháp luật và Phát triển số 1 + 2/2019

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. FORBRE Vietnam, 2016, Danh sách ô nhiễm, 23 tháng 6 <https://forbesvietnam.com.vn/doanh-nhan/danhsach-o-nhiem-89.html
2. Iyyanki V. Muralikrishna, Valli Manickam, 2017, ‘Environmental Management’, Science and Engineering for
Industry, p 1-4
3. Arnold W. Reitze Jr., 2001 ‘Air Polution Control Law – Compliance and Enforcement, The Environment Law
Institute, Washington
4. Lê Kim Nguyệt, 2014, ‘Pháp luật về ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề ở Việt Nam gây ra hiện
nay’, Luận án tiến sỹ luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội..
5. PGS.TS. Nguyễn Văn Phước, ThS. Nguyễn Thanh Hùng, PGS.TSKH. Bùi Tá Long, 2010, ‘Kết quả xác định vi
phạm, mức độ ảnh hưởng do hành vi gây ô nhiễm của Công ty Cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam’ số 7
6. (T.Dũng, 2006, ‘Sông Thị Vải ô nhiễm có nguyên nhân do dòng chảy’, Người Lao động, 12 tháng 5 https://nld.
com.vn/thoi-su-trong-nuoc/song-thi-vai-o-nhiem-co-nguyen-nhan-do-dong-chay-150756.htm
7. Harvard Law Review, 2015, Causation in Environmental Law : Lessons from Toxic Torts, June 9, No 2256
8. Pierre Bentata, 2013, ‘Environmental Regulation and Civil Liability under Causal Uncertainty: An EmpiricalStudy
of the French Legal System, Review of Law & Economics, vol. 9, issue 2, 239-263 <citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/
download?doi=10.1.1.480.7045>
9. International Court of Justice, 2018, “Certain activities carried ot by Nicaragua in Border Area (Costa Rica v.
Nicaragua) Compensation owned to the Republic or Nicaragua to the Republic of Costa Rica
10. Lê Hồng Hạnh, 2016, ‘Hệ thống pháp lý trong quản lý phát triển xã hội ở các nước ASEAN và mô hình Việt
Nam cần xây dựng để hướng tới cộng đồng ASEAN’, Đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản, Quỹ quốc gia phát triển
Khoa học và Công nghệ.

 

Tin cùng chuyên mục