LAW & DEVELOPMENT - ISSN: 0866-7500
LAW & DEVELOPMENT
ISSN: 0866-7500
Phapluatphattrien.vn
social  social  social  social 
    Mới Nhất    Đọc Nhiều
Luật Đấu thầu 2023: Những kỳ vọng và thách thức trong thực tiễn áp dụng Quy định về nồng độ cồn: Kì vọng và những bất cập trong thực tiễn thi hành Hội nghị Đảng Đoàn – Ban Thường vụ Hội Luật Gia Việt Nam lần thứ 19, Khóa III – Mục tiêu kỳ vọng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc Tết lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước Hội thảo khoa học “Xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường chứng khoán phái sinh”

Thỏa thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp bất cân xứng

01:28 | 15/09/2023
PGS, TS Ngô Quốc Chiến, GV Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương. Email: ngoquocchien@ftu.edu.vn

Tóm tắt: Trong một số hợp đồng đặc thù được đặc trưng bởi sự không cân bằng về thông tin và hoặc sức mạnh tài chính, điều khoản giải quyết tranh chấp thường được soạn thảo bởi một bên và bên còn lại chỉ có thể chấp nhận chứ không thể đàm phán điều khoản đó. Bên mạnh thế thường đưa vào hợp đồng một điều khoản cho phép mình lựa chọn nhiều cơ quan giải quyết tranh chấp khác nhau ở nhiều quốc gia khác nhau, trong khi sự lựa chọn của bên còn lại là rất hạn chế, thậm chí bị triệt tiêu. Loại điều khoản bất cân xứng này tiềm ẩn nhiều rủi ro và được diễn giải theo các cách khác nhau tùy thuộc cách nhìn nhận của các cơ quan tài phán trên thế giới. Bài viết sẽ phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng ở một số nước, đối sánh với Việt Nam để từ đó rút ra kết luận và khuyến nghị đối với Việt Nam.

Từ khóa: giải quyết tranh chấp, thỏa thuận bất cân xứng, tòa án, trọng tài.

Abstract: In some specific contracts, characterized by information and/or financial power imbalances, dispute resolution clauses are usually drafted by one party, and the other party can only accept them without negotiating the terms. The more powerful party often inserts a clause into the contract that allows them to choose from multiple dispute resolution bodies in various different countries, while limiting the other party's choices severely, even eliminating them altogether. This type of asymmetrical agreement carries significant risks and can be interpreted differently by financial authorities and institutions worldwide. The article will analyze the current legal situation and practical application in some countries, comparing them with Vietnam in order to draw conclusions and make recommendations for Vietnam.

Keywords: dispute resolution, asymmetrical agreement, court, arbitration.

Đặt vấn đề

Những loại quan hệ mà các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp (GQTC) thường là những quan hệ tư, đặc biệt là quan hệ thương mại. Nền tảng của các quan hệ này là tự do, tự nguyện và bình đẳng. Thông thường, hợp đồng trong tổng thể của nó (bao gồm điều khoản về cơ quan GQTC và luật áp dụng) được hình thành trên cơ sở tự do, tự nguyện. Và một khi các bên đã thể hiện sự ưng thuận của mình một cách rõ ràng thì hợp đồng được hình thành và tạo ra giá trị ràng buộc. Nói cách khác, một bên không thể lập luận rằng mình không được đàm phán hợp đồng nên điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC trong hợp đồng đó không ràng buộc mình. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng hợp đồng (mà thỏa thuận cơ quan giải quyết nằm trong số đó), là một công cụ mà các bên sử dụng nhằm thỏa mãn một một lợi ích nào đó. Lợi ích chỉ có thể đạt được trên cơ sở cân bằng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Sự tự do, tự nguyện chỉ có thể giúp các bên đạt được lợi ích mà mình theo đuổi một cách chính đáng khi các bên có đầy đủ khả năng và cơ hội để thể hiện ý chí. Sự tự do, tự nguyện có thể bị mất đi hoặc giảm sút đáng kể khi một bên mạnh hơn bên còn lại đến mức có thể áp đặt các điều khoản do mình đặt ra. Điều khoản GQTC trao quá nhiều quyền lựa chọn cho một bên, trong khi bên còn lại có rất ít, thậm chí không có sự lựa chọn, vì vậy có nguy cơ vi phạm nguyên tắc cân bằng hợp đồng và có thể bị tuyên vô hiệu.

 Vấn đề về hiệu lực của thỏa thuận GQTC bất cân xứng có thể được đặt ra ở hai giai đoạn, đó là giai đoạn bắt đầu tố tụng và giai đoạn thi hành phán quyết. Ở giai đoạn bắt đầu tố tụng, một bên khởi kiện ra cơ quan GQTC được lựa chọn, nhưng bên kia phản đối với lập luận thỏa thuận bị vô hiệu và vì vậy cơ quan đó không có thẩm quyền. Ở giai đoạn hai, bên phải thi hành không muốn thi hành phán quyết nên yêu cầu hủy hoặc không công nhận phán quyết với lý do cơ quan GQTC đã ra phán quyết đó không có thẩm quyền.

Trong bài viết này, sau khi giới thiệu khái quát về thỏa thuận GQTC bất cân xứng, chúng tôi sẽ đánh giá tính hợp pháp của thỏa thuận này theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước để từ đó đưa ra một số khuyến nghị đối với Việt Nam.

I. Khái quát về thỏa thuận giải quyết tranh chấp bất cân xứng

1. Đa dạng về nhu cầu

Điều khoản GQTC không phải là một điều khoản cơ bản trong hợp đồng, nhưng đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là các hợp đồng quốc tế (hay hợp đồng có yếu tố nước ngoài). Trong đa số các hợp đồng kinh doanh, hai phương thức GQTC mang tính tài phán chính được sử dụng, đó là trọng tài và tòa án. Thông thường, đối với phương thức GQTC bằng tòa án, các bên sẽ phải chỉ rõ tòa án của một quốc gia cụ thể nào đó sẽ có thẩm quyền GQTC. Đối với phương thức GQTC bằng trọng tài, các bên sẽ phải chỉ rõ một trung tâm trọng tài cụ thể.

Tuy nhiên, nhu cầu của các bên có thể rất đa dạng và họ có thể muốn chọn nhiều hơn một phương thức GQTC hoặc hơn một cơ quan GQTC cụ thể. Trong một số hợp đồng đặc thù có một bên mạnh thế hơn bên còn lại, ví dụ như các hợp đồng vận tải hàng hải quốc tế, hợp đồng phân phối hay hợp đồng tài chính, điều khoản GQTC thường được soạn thảo bởi một bên[1] và bên còn lại chỉ có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận (đồng nghĩa với việc không giao kết hợp đồng). Bên mạnh thế thường đưa vào hợp đồng một điều khoản về cơ quan GQTC mà sự lựa chọn của bên còn lại là rất hạn chế, thậm chí bị triệt tiêu, trong khi mình lại có thể chọn nhiều cơ quan GQTC (vừa trọng tài, vừa tòa án) ở nhiều quốc gia khác nhau.

Trong lĩnh vực hàng hải, đối với hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng tầu chợ, bên vận tải thường đưa điều khoản GQTC vào trong vận đơn (bill of lading) và áp dụng chung cho mọi bên. Sở dĩ như vậy là vì tàu chạy theo tuyến cố định và chủ hàng (shipper) trực tiếp hay thông qua người môi giới (broker) yêu cầu chủ tàu (ship owner) để mua một chỗ trên tàu để chuyên chở hàng hóa từ cảng đi đến cảng đích. Hãng tàu sẽ giao container rỗng cho chủ hàng/ người xuất khẩu đóng hàng vào container, sau đó hãng tàu bắt đầu vận chuyển container. Trong một chuyến tầu như vậy có thể sẽ có nhiều người mua chỗ trên tàu và sẽ rất bất lợi cho chủ tầu nếu áp dụng các điều kiện cho từng người mua chỗ. Thông thường, chủ tầu sẽ quy định trong mặt sau của vận đơn về cơ quan GQTC là một hoặc nhiều tòa án/trung tâm trọng tài do chủ tầu ấn định. Khi tranh chấp xảy ra, có thể sẽ có nhiều nguyên đơn và tất cả các nguyên đơn đó sẽ phải khởi kiện ở một tòa án/trung tâm trọng tài mà chủ tầu ấn định. Vì thế, chủ tầu tránh được rủi ro bị kiện ở các nơi khác.

Trong lĩnh vực tài chính, có những hợp đồng phức tạp, như hợp đồng tài trợ vốn cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, khai khoáng, sản xuất năng lượng… Những loại hợp đồng này thường có giá trị kinh tế lớn, phức tạp về nội dung, đa dạng về chủ thể và thời gian thực hiện dài. Những yếu tố này khiến cho vào thời điểm xác lập hợp đồng, nếu chỉ lựa chọn một phương thức GQTC thì có thể phương thức đó sẽ không còn phù hợp, hoặc không đáp ứng được nhu cầu của một hoặc các bên trong tương lai. Ví dụ, nếu chỉ thỏa thuận lựa chọn trọng tài nhưng tranh chấp trong tương lai lại liên quan đến thu hồi nợ khi bên vay mất khả năng thanh toán thì trọng tài lại không phải là một phương thức giải quyết tối ưu. Trong tình huống này tòa án quốc gia có ưu điểm vượt trội so với trọng tài, vì tòa án có thể áp dụng các thủ tục cấp thẩm với chi phí rẻ hơn, dễ dàng và nhanh chóng thực thi hơn so với trọng tài[2]. Thậm chí, trong một số trường hợp chỉ tòa án quốc gia mới có thẩm quyền (ví dụ trong trường hợp bên vay bị mở thủ tục phá sản). Theo các tác giả J. Barbet và P. Rosher, bằng một điều khoản đa phương thức và giành quyền lựa chọn cho riêng mình, bên cấp vốn sẽ linh hoạt hơn trong việc thực thi biện pháp bảo đảm và theo đuổi tài sản chống lại bên kia bất cứ nơi nào có thể theo một phương thức phù hợp tùy thuộc vào loại tranh chấp[3].

Ngoài ra, hiện nay có một số hiệp định song phương về đầu tư quy định trao quyền cho nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện Nhà nước tiếp nhận đầu tư hoặc trước tòa án của nước tiếp nhận đầu tư hoặc trước trọng tài đầu tư ICSID theo quy tắc tố tụng của UNCITRAL (điều khoản fork in the road)[4], trong khi Nhà nước không có quyền này[5].

Người ta gọi chung các điều khoản như vậy là điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC bất cân xứng.

Một cách khái quát, có thể định nghĩa điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC bất cân xứng là một điều khoản trao quyền lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp chỉ cho một bên, tạo ra sự bất cân xứng về quyền chọn  đối với bên còn lại.

Loại thỏa thuận này có thể xuất hiện ở tất cả các hợp đồng mà các bên được quyền lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, nhưng xuất hiện nhiều hơn ở các hợp đồng quốc tế, vì nó sẽ phát huy hiệu quả cao nhất cho một bên trong bối cảnh quốc tế.

2. Đa dạng về tên gọi

Sự bất cân xứng có thể thể hiện ở nhiều khía cạnh và vì vậy tùy thuộc vào các khía cạnh bất cân xứng đó mà loại thỏa thuận cơ quan GQTC còn có thể được gọi bằng các tên khác nhau.

Điều khoản đơn phương. Loại điều khoản này thường quy định về một phương thức GQTC cụ thể chung cho hai bên, nhưng bên cạnh đó một bên (bên áp đặt điều khoản) được sử dụng một phương thức khác. Sự bất cân xứng cũng có thể được thể hiện ở chỗ, một bên chỉ được sử dụng một phương thức GQTC, trong khi bên đưa ra điều khoản lại có thể khởi kiện ra bất kỳ tòa án nào có liên quan. Ví dụ, một điều khoản quy định: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết chung thẩm bởi hội đồng trọng tài X, theo quy tắc tố tụng của chính trung tâm này. Tuy nhiên, bên A được quyền khởi kiện ra Tòa án nước nơi bên B có trụ sở hoặc Tòa án nước bên B có tài sản hoặc bất kỳ Tòa án nào khác có thẩm quyền”.

Một biến thể khác nữa của loại điều khoản này là chỉ quy định một phương thức GQTC (tòa án hoặc trọng tài), nhưng quyền chọn một tòa án hoặc một trung tâm trọng tài cụ thể chỉ thuộc về một bên. Vì loại điều khoản này tạo ra quyền chọn cho chỉ một bên, nên người ta còn gọi nó là điều khoản tùy chọn đơn phương, hay điều khoản một bên.

Điều khoản đa tầng tùy chọn đơn phương. Một điều khoản có thể quy định nhiều phương thức GQTC khác nhau theo các tầng nấc khác nhau và được gọi là điều khoản đa tầng. Điều khoản bất cân xứng có điểm chung với điều khoản GQTC đa tầng ở chỗ cả hai loại điều khoản này cùng quy định về nhiều phương thức GQTC, nhưng khác nhau ở chỗ điều khoản đa tầng trao quyền lựa chọn ngang nhau cho các bên, trong khi điều khoản bất cân xứng chỉ trao quyền cho một bên hoặc trao quyền cho một bên nhiều hơn so với một bên còn lại. Ví dụ, một điều khoản quy định: “Khi tranh chấp xảy ra các bên phải đàm phán trên tinh thần thiện chí. Trường hợp đàm phán không thành trong vòng 30 ngày, các bên có thể khởi kiện ra Tòa án nước X hoặc Trung tâm trọng tài Y theo quy tắc tố tụng của trung tâm này”, thì đây là một loại thỏa thuận đa tầng. Tuy nhiên, nó sẽ trở thành thỏa thuận bất cân xứng nếu như quy định: “Khi tranh chấp xảy ra các bên phải đàm phán trên tinh thần thiện chí. Trường hợp đàm phán không thành trong vòng 30 ngày, các bên có thể khởi kiện ra tòa án nước X. Bên cho vay giữ quyền khởi kiện ra bất kỳ tòa án nào có thẩm quyền và/hoặc Trung tâm trọng tài Y theo quy tắc tố tụng của trung tâm này”.

Điều khoản áp đặt. Đôi khi một bên yêu cầu hoặc áp đặt điều khoản GQCT vào hợp đồng, trong khi bên kia chỉ có thể chấp nhận (hoặc không chấp nhận-đồng nghĩa với việc không giao kết hợp đồng) và không có quyền lựa chọn hoặc thậm chí không được biết về điều khoản này trước khi ký hợp đồng. Điều này tạo ra một sự mất cân bằng đáng kể trong quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình tố tụng. Ví dụ, trong một hợp đồng vận chuyển hàng hóa qua đường biển giữa một doanh nghiệp Việt Nam (bên nhận hàng) và một doanh nghiệp Trung Quốc (bên vận chuyển), Điều 26 “Điều khoản và điều kiện của các Vận đơn” quy định: “Tranh chấp sẽ được giải quyết bởi Tòa án hàng hải hoặc các Tòa án khác tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”. Trong tình huống này, Vận đơn do bên vận chuyển ký phát có điều khoản lựa chọn nhiều cơ quan GQTC khác nhau và doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết đến sự tồn tại của điều khoản này khi nhận hàng tại cảng đến[6]. Một quy định như vậy, dù bề ngoài không tạo ra sự bất cân xứng (vì mỗi bên đều có thể khởi kiện ra các tòa án mà điều khoản đó chỉ định), nhưng thực chất nó vẫn tạo ra sự bất cân xứng vì khả năng tiếp cận tòa án trong thực tế của bên bị áp đặt điều khoản thấp hơn so với bên còn lại.

Điều khoản cấm tài trợ một bên. Phí trọng tài đang ngày càng đắt đỏ, có thể lên tới nhiều triệu USD, nên có thể trở thành trở lực đối với quyền tiếp cận công lý. Bên cạnh các chi phí “truyền thống”, còn xuất hiện nhiều loại phí mới, mà đặc biệt là các chi phí để tài trợ cho tố tụng trọng tài. Các loại chi phí mới này làm tăng thêm gánh nặng tài chính của phương thức trọng tài, và để giải quyết vấn đề này, một số doanh nghiệp tìm nguồn tài trợ từ bên ngoài, thông qua cơ chế bên thứ ba tài trợ (third party funding). Hiện nay, pháp luật và thực tiễn của nhiều nước trên thế giới đã chấp nhận cơ chế này[7] và vì thế, số tiền mà bên thua kiện phải trả sẽ tăng thêm. Để ngăn chặn tình huống này, một bên có thể quy định trong điều khoản trọng tài cấm bên còn lại sử dụng phương thức tài trợ của bên thứ ba, trong khi vẫn để ngỏ quyền này đối với mình.

Điểm chung của tất cả các loại thỏa thuận này thể hiện ở chỗ, khi tranh chấp xảy ra, quyền chọn một phương thức nào đó trong số các phương thức được nêu trong thỏa thuận chỉ dành cho một bên, trong khi bên còn lại chỉ được sử dụng một phương thức.

3. Đa dạng rủi ro

Sự đa dạng về nhu cầu của các chủ thể dẫn tới sự đa dạng trong cách quy định điều khoản GQTC và tất cả những điều đó dẫn đến sự đa dạng các rủi ro.

Phá vỡ nguyên tắc bình đẳng hợp đồng. Thỏa thuận lựa chọn GQTC là một loại thỏa thuận hợp đồng, nên nó phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của một hợp đồng hay của giao dịch dân sự. Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, đó là khi tham gia các quan hệ dân sự, các bên phải bình đẳng với nhau. Chỉ có trên cơ sở bình đẳng thì các bên mới có thể tự do thể hiện ý chí trong việc xác lập quyền và thực hiện quyền để đạt được lợi ích từ việc tham gia quan hệ đó. Như vậy, các bên trong hợp đồng nói chung và các bên trong thỏa thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp nói riêng phải bình đẳng với nhau. Vậy mà, sự thực hiện quyền (khởi kiện ra một cơ quan tài phán khi tranh chấp xảy ra) của một bên lại bị phụ thuộc vào bên kia, nên các bên không còn bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ nữa và vì vậy điều khoản này có rủi ro bị tuyên vô hiệu[8].

Phá vỡ nguyên tắc cân bằng tương đối. Hợp đồng là một công cụ mà các bên sử dụng nhằm thỏa mãn một một lợi ích nào đó. Lợi ích chỉ có thể đạt được trên cơ sở cân bằng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Tất nhiên, bên cạnh nguyên tắc cân bằng này thì pháp luật hợp đồng còn có một nguyên tắc tối thượng là nguyên tắc tự do định đoạt, nghĩa là các bên được quyền tự do, tự nguyện xác định quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Song, sự tự do, tự nguyện này chỉ có thể giúp các bên đạt được lợi ích mà mình theo đuổi một cách chính đáng, khi các bên có đầy đủ khả năng và cơ hội để thể hiện ý chí. Sự tự do, tự nguyện có thể mất đi hoặc bị giảm sút đáng kể khi một bên mạnh hơn bên còn lại đến mức có thể áp đặt các điều khoản do mình đặt ra. Vì vậy, khoa học pháp lý và thực tiễn xét xử ở nhiều nước đã phát triển và áp dụng nguyên tắc cân bằng hợp đồng, theo đó khi hợp đồng bị quá bất cân xứng về quyền và nghĩa vụ thì hoặc hợp đồng đó bị vô hiệu (nếu là do chủ ý của một bên), hoặc hợp đồng đó bị điều chỉnh (nếu là do thay đổi hoàn cảnh cơ bản)[9]. Nguyên tắc cân bằng hợp đồng này được áp dụng cho toàn bộ hợp đồng cũng như cho một điều khoản cụ thể trong hợp đồng mà sự độc lập của nó là tương đối hoặc hoàn toàn so với hợp đồng[10].

Điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC trao quá nhiều quyền lựa chọn cho một bên, trong khi bên còn lại có rất ít, thậm chí không có sự lựa chọn, vì vậy có nguy cơ vi phạm nguyên tắc cân bằng hợp đồng và có thể bị tuyên vô hiệu.

Phá vỡ nguyên tắc khả đoán và an toàn pháp lý. Khi tranh chấp phát sinh từ một hợp đồng quốc tế (hay hợp đồng có yếu tố nước ngoài) thì tòa án của tất cả các quốc gia có liên quan đều có thể có thẩm quyền. Khoa học pháp lý gọi đây là hiện tượng xung đột thẩm quyền tài phán quốc tế. Ngoài ra, dựa trên khả năng lựa chọn của các bên, một tranh chấp có thể được giải quyết bởi nhiều cơ quan tài phán khác nhau như tòa án, trọng tài hay hòa giải. Mỗi phương thức GQTC đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Chính vì vậy, các chủ thể sẽ lựa chọn một cơ quan tài phán phù hợp với mình nhất thông qua một điều khoản về GQTC. Khi tranh chấp xảy ra, các bên sẽ biết cơ quan nào có thẩm quyền để giải quyết. Một cách khái quát, mục đích của điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC là đảm bảo tính khả đoán và an toàn pháp lý cho các bên. Vậy mà, điều khoản GQTC bất cân xứng lại có nguy cơ phá vỡ đi sự khả đoán và an toàn này. Nó phá vỡ đi sự khả đoán và gây ra mất an toàn pháp lý bởi vì một bên không biết bên còn lại sẽ thực hiện quyền khởi kiện của mình ra cơ quan tài phán nào khi mà điều khoản này trao quyền cho bên đó quyền khởi kiện ra “bất kỳ cơ quan tài phán nào”. Khi mục đích khả đoán và an toàn giao dịch của một bên không đạt được thì điều khoản có thể bị tuyên vô hiệu[11].

II. Pháp luật điều chỉnh thỏa thuận giải quyết tranh chấp bất cân xứng

1. Sự khuyết thiếu của pháp luật

Một nghiên cứu so sánh pháp luật cho thấy “sự khuyết thiếu của pháp luật đối với thỏa thuận giải quyết tranh chấp bất cân xứng”[12]. Thông thường, pháp luật về trọng tài của các nước có những quy định minh thị về điều kiện hiệu lực thỏa thuận trọng tài. Đối với phương thức GQTC bằng tòa án, pháp luật của các quốc gia thường không có quy định chuyên biệt về quyền chọn tòa án, mà quyền này thường được suy ra từ nguyên tắc chung về tự do hợp đồng và được làm rõ thông qua thực tiễn xét xử[13]. Hiện nay, chưa có nước nào có quy định chuyên biệt về loại thỏa thuận đa tầng bất cân xứng, mà chỉ có các quy định cho từng loại thỏa thuận (trọng tài, tòa án, hòa giải…) một cách riêng rẽ.

Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Liên quan đến phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án, BLDTTDS của Việt Nam không quy định minh thị quyền chọn lựa chọn tòa án. Quyền lựa chọn tòa án của các bên chỉ được suy ra từ Điều 470[14] và Điều 472[15] BLTTDS năm 2015. Đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, Luật trọng tài thương mại có quy định về điều kiện hiệu lực của thỏa thuận trọng tài[16], nhưng không có quy định minh thị đối với thỏa thuận bất cân xứng.

Vì vậy, khi câu hỏi về điều kiện hiệu lực của thỏa thuận GQTC bất cân xứng được đặt ra thì cơ quan được yêu cầu sẽ dựa vào các quy định chung (thường là trong BLDS) về điều kiện hiệu lực của hợp đồng (hoặc của giao dịch dân sự) và có các cách diễn giải khá khác nhau về cơ chế áp dụng tùy theo các biến thể của loại thỏa thuận này.

2. Đa dạng cơ chế áp dụng

Vì điều khoản GQTC bất cân xứng rất đa dạng  nên cơ chế áp dụng cũng rất đa dạng, tùy thuộc rất nhiều vào nội dung của từng điều khoản. Vì vậy, một loạt câu hỏi cần được đặt ra liên quan đến: Chủ thể thực hiện quyền chọn? Thời điểm thực hiện quyền chọn? Các tình huống dẫn tới thực hiện quyền chọn? Hệ quả pháp lý của việc thực hiện quyền chọn?

Chủ thể thực hiện quyền chọn. Các điều khoản GQTC bất cân xứng thường quy định bên/các bên có quyền thực hiện quyền chọn. Trong trường hợp này, chỉ bên/các bên được ghi trong điều khoản đó được thực hiện quyền chọn khi tranh chấp xảy ra. Trong trường hợp điều khoản không ghi rõ, cơ quan được yêu cầu sẽ giải thích ý định của các bên. Thực tiễn GQTC liên quan đến điều khoản này ở Pháp cho thấy tòa án Pháp thường giải thích điều khoản này tạo ra quyền chọn cho nguyên đơn. Ví dụ, tòa án Pháp đã có dịp phân xử các tranh chấp liên quan đến điều khoản lựa chọn nhiều tòa án quốc gia và đã diễn giải điều khoản này theo hướng nó trao quyền cho nguyên đơn[17]. Tương tự, một điều khoản lựa chọn nhiều trung tâm trọng tài khác nhau cũng được diễn giải theo hướng trao quyền cho nguyên đơn[18].

Thời điểm thực hiện quyền chọn. Một số điều khoản đôi khi quy định việc khởi kiện ra tòa án chỉ được thực hiện sau khi [vì bất kỳ lý do nào đó] việc khởi kiện ra trọng tài là không thể và ngược lại. Trong trường hợp như vậy, cơ quan GQTC được liệt kê sau sẽ chỉ được coi như một giải bổ sung, dự phòng cho trường hợp cơ quan GQTC thứ nhất không khả dĩ.

Cũng có điều khoản quy định, sau khi hết một khoảng thời gian kể từ khi xảy ra tranh chấp, nếu không khởi kiện ra trọng tài thì sẽ phải khởi kiện ra tòa án và ngược lại. Khi đó, việc khởi kiện ra cơ quan liệt kê sau chỉ có thể được thực hiện khi đã hết khoảng thời gian đã định.

Trong trường hợp điều khoản không quy định rõ về thời hạn, thì nếu bên được quyền chọn là nguyên đơn thì sẽ thực hiện quyền này khi bắt đầu khởi kiện. Còn nếu bên được quyền chọn là bị đơn thì sẽ chờ cho đến khi nguyên đơn khởi kiện để thực hiện/hoặc không thực hiện quyền chọn của mình. Ví dụ, nếu nguyên đơn khởi kiện ra tòa án, nhưng bị đơn lại muốn tranh chấp được giải quyết bởi trọng tài thì bị đơn sẽ thực hiện quyền chọn của mình vào thời điểm bên nguyên đơn khởi kiện ra tòa bằng cách phản đối thẩm quyền của tòa án.

Trường hợp bên có quyền chọn là bị đơn nhưng đã chấp nhận tham gia tranh tụng về nội dung trước một cơ quan tài phán cụ thể thì coi như đã từ bỏ quyền chọn các cơ quan tài phán khác. Về điểm này, pháp luật tố tụng dân sự của Pháp có quy định minh thị rằng yêu cầu phản đối thẩm quyền phải được đưa ra trước khi tòa phân xử về nội dung tranh chấp (Điều 74 BLTTDS). Như vậy, trong trường hợp một bên đã khởi kiện ra tòa án Pháp và bên có quyền chọn-bị đơn không phản đối trước khi tòa phân xử về nội dung thì bên có quyền chọn đó không thể phản đối thẩm quyền của tòa án Pháp được nữa.

Ở Pháp, việc chứng minh bên có quyền chọn đã thực hiện quyền chọn của mình hay chưa được xác định theo nhiều cách, hoặc minh thị, hoặc mặc nhiên, hoặc suy đoán[19]. Ví dụ, bên hưởng quyền là nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án thì coi như bên đó đã từ bỏ quyền lựa chọn các phương thức khác. Trường hợp bên hưởng quyền là bị đơn và đã được triệu tập nhưng vắng mặt hoặc có mặt nhưng trong bản tự bảo vệ đầu tiên (acknowledgment of service) bên này đã không phản đối thẩm quyền của cơ quan giải quyết do nguyên đơn xác định[20] .

Hoàn cảnh thực hiện quyền chọn. Ngay cả khi trong hợp đồng tồn tại một điều khoản trao quyền cho một bên lựa chọn cơ quan GQTC thì liệu điều này có luôn đồng nghĩa rằng bên này trong mọi tình huống đều có thể khởi kiện ra một trong các cơ quan GQTC được chỉ định bởi điều khoản đó không? Câu trả lời phụ thuộc vào độ rõ ràng của điều khoản. Nếu điều khoản này chỉ định minh thị một cơ quan nào đó để giải quyết một/một vài loại tranh chấp cụ thể thì hiển nhiên là bên có quyền chọn chỉ có thể khởi kiện ra cơ quan GQTC được chỉ định. Nhưng, ngay cả khi bên có quyền khởi kiện ra một trong các cơ quan GQTC được chỉ định thì liệu điều này có luôn khả dĩ? Ví dụ, bên có quyền X  khởi kiện Y ra trước tòa án nước A đòi Y thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Trong quá trình tố tụng trước tòa án nước A, Y đưa ra yêu cầu phản tố đòi bồi thường thiệt hại. Trong tình huống này liệu X có thể yêu cầu Tòa không án nước A không giải quyết yêu cầu phản tố của Y với lý do vấn đề này cần phải được phân xử bởi trọng tài ở nước B không? Một ví dụ khác, X khởi kiện ra tòa án nước A để yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu, nhưng đồng thời X lại khởi kiện ra trọng tài Y để yêu cầu thực hiện hợp đồng được không, biết rằng điều khoản về cơ quan GQTC quy định rằng các tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng được phân xử bởi tòa án còn các tranh chấp về thực hiện hợp đồng được phân xử bởi trọng tài?

Trong ví dụ thứ nhất, câu trả lời là có thể, ít nhất về mặt lý thuyết, nhưng khó thực hiện trong thực tế nếu tranh chấp thuộc loại không thể phân chia hoặc các yêu cầu của các bên là không thể tách rời, nghĩa là nếu tách rời thì sẽ có rủi ro các cơ quan GQTC được yêu cầu phân xử các yêu cầu này đưa ra các quyết định không thể dung hòa được với nhau. Về điểm này, ở châu Âu, Điều 28 Quy tắc Bruxelles I quy định rằng “trường hợp các yêu cầu có mối liên quan chặt chẽ tới nhau đến mức cần phải được xét xử đồng thời bởi một cơ quan GQTC duy nhất để tránh trường hợp các giải pháp được đưa ra sau đó sẽ không thể dung hòa nếu chúng được phân xử tách rời nhau”. Tuy nhiên, giải pháp này chỉ liên quan đến các tòa án của các nước thành viên của Bruxelles I chứ không liên quan đến trọng tài.

Ở Việt Nam, BLTTDS có quy định về nhập vụ án, nhưng quy định này chỉ liên quan đến thẩm quyền theo lãnh thổ đối với các tranh chấp được giải quyết bởi các tòa án khác nhau. Nghị quyết số 01/2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 mới đưa ra giải pháp chung cho tình huống các bên vừa lựa chọn tòa án vừa lựa chọn trọng tài, chứ chưa chi tiết để bao hàm các tình huống các bên chia nhỏ tranh chấp và ứng với từng phần tranh chấp đó sẽ lựa chọn các cơ quan GQTC khác nhau.

Ở Pháp, Điều 101 BLTTDS có quy định về nhập vụ án nhưng cũng chỉ liên quan đến thẩm quyền theo lãnh thổ của các tòa án trong phạm vi lãnh thổ Pháp mà thôi. Ngay cả khi sử dụng phương pháp quy dẫn (transpostion) để áp dụng cho các vụ việc quốc tế, thì giải pháp này cũng chỉ có thể áp dụng cho các tòa án của các quốc gia liên quan mà thôi[21]. Còn về tình huống tòa trọng tài nhường thẩm quyền cho tòa án quốc gia thì thực tiễn cho thấy các hội đồng trọng tài không làm điều này. Theo P. Mayer, các phán quyết của ICC được công bố cho thấy chưa bao giờ trọng tài nhường lại thẩm quyền cho tòa án quốc gia[22].

Trong ví dụ thứ hai, pháp luật của nhiều nước cũng chưa dự liệu tình huống này. Theo một tác giả trong cả tình huống thứ nhất và tình huống thứ hai, giải pháp đơn giản nhất và cũng có thể là logic nhất là khi bên có quyền chọn đã chọn cách khởi kiện ra một cơ quan (tòa án hoặc trọng tài) để GQTC thì phải coi là bên đó đã thực hiện quyền chọn của mình rồi đối với mọi yêu cầu chính cũng như yêu cầu phản tố cho tới khi chấm dứt tố tụng trước cơ quan đó. Điều này có nghĩa là bên đó không thể khởi kiện ra bất kỳ cơ quan nào khác mà bên đó đã chọn[23].

Hệ quả pháp lý của việc thực hiện quyền chọn. Về nguyên tắc, một khi đã thực hiện quyền chọn thì bên có quyền sẽ không thể rút lại. Ví dụ, nếu bên có quyền chọn đã thực hiện việc khởi kiện ra tòa án thì sau đó không thể rút lại để khởi kiện ra trọng tài và ngược lại. Sau đó, trong giai đoạn thi hành phán quyết, bên này cũng không thể phản đối thẩm quyền của cơ quan GQTC mà mình đã tham gia để yêu cầu hủy hoặc không công nhận và cho thi hành phán quyết của cơ quan GQTC đó. Cho phép làm điều này sẽ là trái với nguyên tắc cấm mâu thuẫn với chính mình (estoppel). Ở Pháp, Tòa Tư pháp tối cao đã có dịp khẳng định nguyên tắc này nhân vụ Golshani, trong đó nguyên đơn đã khởi kiện ra trọng tài, nhưng sau đó trong giai đoạn thi hành phán quyết trọng tài, nguyên đơn lập luận rằng thỏa thuận trọng tài không tồn tại và nếu có tồn tại thì cũng vô hiệu. Tuy nhiên, Tòa tư pháp tối cao Pháp đã không chấp nhận lập luận này và kết luận rằng “tòa cấp dưới đã xử đúng khi ông X đã khởi kiện ra Tòa trọng tài […] và đã tham gia tố tụng mà không có bất kỳ ý kiến nào trong vòng hơn 9 năm, nên theo nguyên tắc estoppel việc phản đối yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài là không thể chấp nhận”[24].

Giải pháp tương tự cũng xuất hiện ở Anh. Cụ thể nhiều tòa án Anh đã phân xử rằng một khi bên có quyền chọn đã thực hiện quyền chọn của mình để khởi kiện ra một cơ quan nào đó thì anh ta sẽ không còn quyền khởi kiện ra một cơ quan khác vì cùng một vấn đề[25].

Ở Việt Nam, giải pháp này cũng được ghi nhận theo hướng rất rộng tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, theo đó “Trong trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật này hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật này quy định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án”.

III. Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến điều khoản giải quyết tranh chấp bất cân xứng tại một số nước

Như đã phân tích ở trên, đa số các quốc gia chưa có quy định chuyên biệt về điều khoản cơ quan GQTC bất cân xứng. Thực tiễn cho thấy, tòa án của các quốc gia có những quan điểm rất khác nhau. Chúng tôi sẽ phân tích thực tiễn tại Pháp và Nga để làm rõ hơn nhận định trên.

1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến điều khoản giải quyết tranh chấp bất cân xứng tại Pháp

Trên bình diện quốc gia, pháp luật của Pháp không có quy định chuyên biệt về điệu kiện hiệu lực của thỏa thuận chọn cơ quan giải quyết tranh chấp nói chung và thỏa thuận lựa chọn cơ quan GQTC bất cân xứng nói riêng. Đối với thỏa thuận lựa chọn nhiều tòa án khác của các quốc gia thành viên EU thì vấn đề hiệu lực của điều khoản có thể được xác định dựa trên các văn kiện quốc tế của EU. Đối với thỏa thuận lựa chọn nhiều cơ quan GQTC khác nhau, gồm cả tòa án và trọng tài thì việc xem xét hiệu lực của điều khoản lựa chọn cơ quan giải quyết bất cân xứng dựa vào các quy định chung về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Tùy thuộc vào loại cơ quan GQTC (tòa án hay trọng tài) mà thỏa thuận chỉ định mà tòa án Pháp có những cơ chế kiểm soát khác nhau.

1.1. Thỏa thuận chọn nhiều tòa án

Trên bình diện châu Âu, Pháp là thành viên của Công ước năm 2007 về thẩm quyền tư pháp, công nhận và thi hành các quyết định trong lĩnh vực dân sự và thương mại[26] và Quy tắc CE số 44 của Hội đồng châu Âu ngày 22/12/2000 về thẩm quyền tư pháp, công nhận và thi hành các quyết định trong lĩnh vực dân sự và thương mại[27]. Các văn kiện quốc tế này có quy định về hiệu lực của thỏa thuận chọn tòa án, nhưng vẫn chỉ mang tính chất chung. Vì vậy, trong thực tiễn xét xử, cách diễn giải của tòa án đóng vai trò quan trọng.

Khảo sát thực tiễn xét xử của Tòa án Pháp liên quan đến điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC bất cân xứng, chúng tôi nhận thấy, các cấp tòa án của Pháp có những quan điểm rất khác nhau và Tòa tư pháp tối cao, dẫu đã thay đổi quan điểm theo hướng ít nghiêm khắc hơn với loại điều khoản này nhưng vẫn áp dụng cơ chế kiểm soát chặt để đảm bảo tính khả đoán và an toàn pháp lý. Nếu điều khoản này làm mất đi tính khả đoán (đối với một bên) thì sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu. Hai vụ việc được chúng tôi phân tích dưới đây sẽ làm rõ hơn nhận định này.

Vụ việc thứ nhất, án lệ Rothschild. Bà X dùng số tiền 1,7 triệu euro để đầu tư thông qua trung gian là Công ty tài chính Edmond de Rothschild có trụ sở tại Paris, một công ty con của Ngân hàng tư nhân Edmond de Rothschild Europe, có trụ sở tại Luxembourg. Các khoản đầu tư này không mang lại lợi nhuận mong đợi, nên bà X đã khởi kiện hai công ty ra Tòa thượng thẩm Paris (TGI de Paris). Hai công ty này đã phản đối thẩm quyền của TGI de Paris bằng cách viện dẫn điều khoản GQTC trong hợp đồng hợp. Cụ thể, điều khoản GQTC quy định: “Các quan hệ giữa Ngân hàng và Khách hàng chịu sự điều chỉnh của pháp luật Luxembourg. Các tranh chấp phát sinh giữa Khách hàng và Ngân hàng sẽ được giải quyết bởi các tòa án của Luxembourg. Tuy nhiên, Ngân hàng bảo lưu quyền khởi kiện trước tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc trước mọi tòa án khác[28] [….]”. Theo lập luận của các bị đơn, điều khoản này phù hợp với Điều 23 Quy tắc Bruxelles I mà cả Pháp và Luxembourg cùng là thành viên. Tuy nhiên, cả TGI de Paris (tòa sơ thẩm) và sau đó Tòa phúc thẩm Paris (CA de Paris) đều không chấp nhận lập luận của các bị đơn. Vụ việc sau đó được đưa lên Tòa án tư pháp tối cao Pháp (Cour de cassation). Tòa tối cao kết luận: “Trên cơ sở nhận định rằng điều khoản theo đó ngân hàng bảo lưu quyền khởi kiện ra trước tòa án nơi Bà X cư trú hoặc tước “mọi tòa án khác  trong thực tế chỉ ràng buộc bà X người mà  theo điều khoản này chỉ được quyền khởi kiện ra tòa án Luxembourg, Tòa phúc thẩm đã từ đó suy ra một cách chính xác rằng điều khoản này có bản chất tạo ra một sự phụ thuộc [của bà X] vào ngân hàng, tới mức trái với nội dung và mục đích của quyền lựa chọn tòa án theo quy định của Điều 23 Quy tắc Bruxelles I”[29]. Như vậy, Tòa tư pháp tối cao đã khẳng định rằng điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC như trên bị vô hiệu vì đã phá vỡ đi tính khả đoán và an toàn pháp lý vốn là mục đích của loại điều khoản này. Rất nhiều nhà bình luận đã phản đối quyết định trên của Tòa vì đã quá khắt khe và đã diễn giải Điều 23 Quy tắc Bruxelles I theo quan niệm của pháp luật Pháp[30], trong khi chính Tòa tối cao đã nhiều lần yêu cầu các tòa cấp dưới khi áp dụng pháp luật nước ngoài phải giải thích pháp luật nước ngoài như cách hiểu của nước ngoài.

Có lẽ, do vấp phải sự phản ứng khá dữ dội từ giới nghiên cứu mà không lâu sau đó, Tòa tư pháp tối cao đã thay đổi quan điểm, nhân hai vụ tranh chấp Danne Holding patrimoniale ngày 25/3/2015 và eBizcus ngày 7/10/2015. Vì hai vụ này tương đối giống nhau, nên chúng tôi sẽ chỉ giới thiệu và phân tích vụ eBizcus ngày 7/10/2015.

Cụ thể, theo hợp đồng ký ngày 10/10/2002 giữa Công ty eBizcuss và Apple Sales international, Công ty eBizcuss trở thành nhà phân phối các sản phẩm mang nhãn hiệu Apple. Điều khoản giải quyết tranh chấp quy định eBizcuss chỉ được khởi kiện ra tòa án Ailen, trong khi Apple Sales international có quyền khởi kiện ra tòa án Ailen hoặc một tòa án khác có thẩm quyền[31]. Cho rằng các công ty Apple Sales international Apple Inc et Apple Retail France (Apple) đã thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, công ty eBizcuss đã khởi kiện hai công ty này ra trước một tòa thương mại của Pháp để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tòa thương mại và sau đó Tòa phúc thẩm đều từ chối thẩm quyền theo nguyên tắc của Tư pháp quốc tế Pháp[32]. Vụ việc sau đó được đưa ra trước Tòa án tư pháp tối cao. Tòa tư pháp tối cao đã giữ nguyên quyết định của Tòa phúc thẩm vì “trên cơ sở nhận định rằng điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC áp đặt cho công ty eBizcuss chỉ khởi kiện ra tòa án Ailen trong khi Apple Sales international được tùy chọn khả năng khởi kiện ra một tòa án khác, tòa phúc thẩm đã suy luận chính xác rằng điều khoản này cho phép xác định được các tòa án có thẩm quyền khi tranh chấp giữa các bên phát sinh từ việc thực hiện hoặc giải thích hợp đồng, và như vậy đã đáp ứng được yêu cầu về tính khả đoán mà các điều khoản lựa chọn cơ quan giải quyết phải tuân thủ”[33].

Như vậy, trong vụ việc này, Tòa tư pháp tối cao Pháp đã có quan điểm khác. Sự khác biệt về quan điểm này không hoàn toàn đồng nghĩa với việc Tòa án Pháp đã thay đổi hẳn quan điểm. Sự thực là cách soạn thảo điều khoản GQTC trong hai vụ việc trên có sự khác nhau nhất định. Cụ thể, trong vụ Rothschild, Ngân hàng có quyền khởi kiện ra “mọi tòa án khác”, trong khi trong vụ eBizcuss, Apple Sales international có quyền khởi kiện ra tòa án Ailen hoặc một tòa án khác có thẩm quyền.

“Một tòa án khác có thẩm quyền” trong bối cảnh của điều khoản lựa chọn CQGQTC bất cân xứng chỉ một tòa án nào đó cụ thể, ví dụ tòa án Anh, tòa án Pháp. Tuy chỉ một bên được thực hành quyền khởi kiện ra tòa án đó nhưng điều khoản này vẫn đảm bảo tính khả đoán, vì bên còn lại đã biết được vào thời điểm ký hợp đồng. Trong khi đó, “mọi tòa án khác có thẩm quyền” thì có thể có nhiều, vì các tiêu chí xác định thẩm quyền của tư pháp quốc tế hiện nay được xây dựng theo hướng rất rộng, bao gồm nhưng không giới hạn ở: nơi bị đơn cư trú, nơi bị đơn có tài sản, nơi xác lập, thực hiện hành vi, nơi xảy ra vi phạm, nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi[34]…. Các tiêu chí xác định thẩm quyền càng rộng thì tính khả đoán càng thấp.

Như vậy sự kiểm soát của Tòa án Pháp đối với điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC đã bớt ngặt nghèo hơn. Dẫu vậy, quan điểm của Tòa tư pháp tối cao Pháp vẫn chưa nhận được sự đồng tình của giới nghiên cứu vì vẫn còn quá mập mờ, chưa trả lời được câu hỏi về tiêu chí xác định tính khả đoán và an toàn pháp lý[35].

Hiện nay Tòa Thương mại-Tòa Tư pháp tối cao Pháp cũng có quan điểm tương tự với Tòa dân sự-Tòa tư pháp tối cao[36] đối với điều khoản bất cân xứng. Trong một vụ việc gần nhất về thời gian mà chúng tôi tìm được, Tòa thương mại - Tòa tư pháp tối cao Pháp đã chấp nhận điều khoản trao quyền cho chỉ một bên. Cụ thể, công ty Diemme Enologia có trụ sở tại Italy đơn phương chấm dứt hợp đồng “ủy quyền bán máy sản xuất rượu” với công ty Etablissements Chambon & fils  (tiền thân là công ty Terravi có trụ sở tại Pháp). Hợp đồng có điều khoản quy định mọi khiếu kiện hay tranh chấp liên quan đến thực hiện hoặc giải thích hợp đồng, áp dụng hợp đồng, hủy bỏ hay đơn phương chấm dứt hợp đồng sẽ chỉ được giải quyết bởi duy nhất tòa án Ravenne ở Italy, nhưng công ty Diemme Enologia có quyền khởi kiện ra bất kỳ tòa án có thẩm quyền nào khác. Tranh chấp xảy ra và công ty Chambon & fils đã khởi kiện công ty Diemme Enologia ra Tòa thương mại Bordeaux. Công ty Diemme Enologia phản đối thẩm quyền của Tòa thương mại Bordeaux bằng cách viện dẫn điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC. Tòa thương mại Bordeaux, và sau đó Tòa phúc thẩm Paris, không chấp nhận yêu cầu này vì theo các cấp tòa này, điều khoản GQTC như vậy bị vô hiệu vì “[c]ó hậu quả tạo ra sự phụ thuộc [của Chambon & fils] vào Diemme Enologia, dù rằng điều khoản này vẫn đảm bảo tính khả đoán, nhưng nó đã trái với nội dung và mục đích của điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC theo quy định của Điều 23 [Quy tắc Bruxelles I]”. Tuy nhiên, bản án của Tòa phúc thẩm Paris sau đó đã bị Tòa Thương mại - Tòa án tư pháp tối cao hủy vì “cả hai bên đều đã thể hiện sự ưng thuận đối với điều khoản này, nên dù điều khoản này chỉ ràng buộc một bên, tòa phúc thẩm đã vi phạm điều luật nêu trên [Điều 23 Quy tắc Bruxelles I]”[37].

Như vậy, theo quan điểm của Tòa tối cao Pháp, điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC dù bất cân xứng cũng không mặc nhiên bị vô hiệu. Một điều khoản bất cân xứng trao cho một bên nhiều quyền chọn hơn so với bên còn lại vẫn có hiệu lực nếu thỏa mãn yêu cầu về tính khả đoán, tức là khi tranh chấp xảy ra, các bên vẫn xác định được một tòa án cụ thể có thẩm quyền. Trường hợp ngược lại, nếu điều khoản lựa chọn cơ quan GQTC bất cân xứng được soạn thảo không đủ rõ ràng tới mức không xác định được một cách chính xác một tòa án cụ thể nào đó có thẩm quyền hoặc trao cho một bên quyền lựa chọn vô hạn định bất kỳ tòa án nào thì  sẽ bị vô hiệu.

1.2. Thỏa thuận chọn đồng thời tòa án và trọng tài

Đối với thỏa thuận GQTC bất cân xứng trong đó vừa lựa chọn tòa án vừa lựa chọn trọng tài, Tòa án Pháp cũng kiểm soát tính hợp pháp của thỏa thuận này dựa trên tiêu chí về tính khả đoán. Nếu thỏa thuận dù bất cân xứng, nhưng không làm mất đi tính khả đoán, thì vẫn có hiệu lực.

Về cơ chế thực hiện quyền chọn thì pháp luật Pháp sử dụng tiêu chí first come first served để xác định cơ quan nào có thẩm quyền khi tranh chấp xảy ra. Cụ thể, khi tranh chấp xảy ra, cơ quan nào được yêu cầu trước sẽ có thẩm quyền mà không cần tính đến thẩm quyền của cơ quan còn lại. Cụ thể, trong một hợp đồng liên quan đến lắp đặt thiết bị trong một nhà máy, các bên đã thỏa thuận lựa chọn đồng thời tòa án Pháp và một trung tâm trọng tài. Tranh chấp xảy ra và nguyên đơn đã khởi kiện bị đơn ra Tòa thương mại Paris. Bị đơn đã phản đối thẩm quyền của Tòa thương mại Paris bằng cách viện dẫn điều khoản GQTC trong đó có quy định trao thẩm quyền cho trọng tài. Tuy nhiên các cấp tòa của Pháp đã không chấp nhận lập luận này. Cụ thể, theo Tòa tư pháp tối cao “Sau khi nhận định rằng điều khoản GQTC quy định rằng mỗi bên có thể lựa chọn khởi kiện ra trọng tài hoặc khởi kiện ra tòa án nơi bị đơn có trụ sở, hai khả năng này được trao cho cả hai bên và khả năng sử dụng trọng tài không có hậu quả làm mất đi tính chất lựa chọn, nên Tòa phúc thẩm đã suy luận chính xác từ đó rằng điều khoản này không buộc các bên chỉ được sử dụng trọng tài, và vì vậy tòa thương mại có thẩm quyền”[38].

2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến điều khoản giải quyết tranh chấp bất cân xứng tại Nga

Cũng giống như Pháp, Nga không có quy định chuyên biệt về thỏa thuận lựa chọn CQGQTC bất cân xứng và vì vậy khi tranh chấp liên quan đến điều khoản này xảy ra, Tòa án sẽ phân xử dựa vào các quy định chung. Vì vậy, kết quả giải quyết phụ thuộc rất nhiều vào cách diễn giải các quy định chung này. Vụ RTC kiện  Sony Ericson được phân tích dưới đây sẽ làm rõ hơn nhận định này.

Công ty cổ phần Russkaya telefonnaya companiya (Nguyên đơn, viết tắt là RTC) và Công ty TNHH Sony Ericsson Mobile Communications Rus (Bị đơn, viết gọn là Sony Ericson) ký thỏa thuận khung phân phối điện thoại di động và phụ kiện. Thỏa thuận này có điều khoản chọn cơ quan GQTC như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh từ Thỏa thuận này mà không giải quyết được bằng thương lượng giữa các bên, sẽ phải được giải quyết theo các Quy tắc hòa giải và trọng tài của Phòng thương mại quốc tế, bởi ba trọng tài viên, được chỉ định theo các Quy tắc này. Địa điểm của trọng tài là Luân Đôn, ngôn ngữ trọng tài là tiếng Anh. Điều khoản trọng tài này vẫn có hiệu lực ngay cả sau khi Thỏa thuận này chấm dứt và không giới hạn quyền của các bên được khởi kiện ra các tòa án có thẩm quyền để yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp hoặc các biện pháp bảo toàn [...]. Điều khoản trọng tài cũng không hạn chế quyền của Sony Ericsson khởi kiện ra một tòa án có thẩm quyền để phân xử về nghĩa vụ thanh toán”. Như vậy, đây là một loại điều khoản đa tầng hỗn hợp, bao hàm trong nó một điều khoản trọng tài truyền thống song phương (trao quyền cho cả hai bên) và một điều khoản tòa án tùy chọn đơn phương chỉ dành cho Sony Ericsson.

Tranh chấp xảy ra và RTC khởi kiện Sony Ericson ra Tòa trọng tài Maxcơva, nhưng bị Sony Ecrisson phản đối thẩm quyền. Theo nguyên tắc cơ bản của pháp luật trọng tài được thừa nhận rộng rãi trên thế giới cũng như ở Nga, trọng tài có thẩm quyền để xem xét chính thẩm quyền của mình (competence-competence). Vì vậy, trước khi giải quyết nội dung tranh chấp, Tòa trọng tài Matxcơva phải trả lời câu hỏi về tính hợp pháp của thỏa thuận GQTC trên. Song song với việc phản đối thẩm quyền của Tòa trọng tài Matxcơva, Sony Ecrisson yêu cầu tòa án Nga tuyên thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

Các bên tranh chấp cũng như các cấp tòa có những quan điểm rất khác nhau về vấn đề này.

Vụ việc sau đó được đưa lên Tòa Trọng tài tối cao Liên bang Nga (viết tắt theo tiếng Anh là ACR - Arbitration Courts of the Russian Federation)[39]. Trong phiên tòa, Chủ tịch ACR phụ trách báo cáo đã nhắc lại lập luận của các tòa cấp dưới, theo đó điều khoản mà các bên đang tranh cãi là một điều khoản trọng tài tùy chọn và việc sử dụng trọng tài ngay cả khi là tùy chọn, là phù hợp với Luật Trọng tài thương mại quốc tế Liên bang Nga, bởi vì bị đơn là một công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, Chủ tịch ACR cho rằng sự giải thích này là sai lầm. Ông cho rằng đây không phải là một thỏa thuận trọng tài đơn thuần, mà là một thỏa thuận lựa chọn cơ quan GQTC hỗn hợp, vừa chỉ định trọng tài vừa chỉ định tòa án và trao quyền lựa chọn nhiều hơn cho chỉ một bên. Các tòa cấp dưới đã sai sót khi không xem xét đến tính đơn phương của sự lựa chọn được trao cho một bên và ảnh hưởng bất lợi đến bên còn lại. Theo ACR, nguyên tắc công bằng tố tụng của các bên, vốn là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Liên bang Nga cũng như pháp luật quốc tế về trọng tài, cần phải được áp dụng cho cả các thỏa thuận lựa chọn các phương thức GQTC thay thế.

 Điểm lưu ý nữa trong vụ việc này là RTC đã phản đối các cấp tòa Nga vì đã nhầm lẫn hai vấn đề về thực thi điều khoản và hiệu lực của điều khoản. Trong thực tế, theo RTC, đây là một vấn đề về hiệu lực của điều khoản. Theo RTC, điều khoản này vô hiệu vì vi phạm sự công bằng của các bên trong tố tụng và sự tự do ý chí thể hiện trong thỏa thuận (thực tế là các bên đã đàm phán thỏa thuận này) chỉ là một cái cớ để che giấu sự bất cân bằng quá rõ ràng giữa các bên. Ngoài ra, cần lưu ý nguyên đơn không yêu cầu tòa tuyên vô hiệu toàn bộ điều khoản này, mà chỉ yêu cầu tuyên vô hiệu phần trao quyền đơn phương lựa chọn cho Sony Ericsson.

ACR đã chấp nhận yêu cầu của RTC. ACR cho rằng điều khoản gây tranh chấp là một điều khoản hỗn hợp không thể được xem xét như một điều khoản trọng tài riêng rẽ. Tòa kết luận rằng các điều khoản đan xen các phương thức khác nhau trao quyền tùy chọn đơn phương cho một bên là vô hiệu vì vi phạm nguyên tắc bình đẳng tố tụng và cân bằng quyền lợi giữa các bên. Tòa cho rằng “theo các nguyên tắc chung về bảo vệ và thực hiện quyền dân sự, một điều khoản GQTC không được phép trao quyền chọn cho một bên và tước đi quyền ấy của bên còn lại. Một điều khoản như vậy là vô hiệu do vi phạm nguyên tắc cân bằng lợi ích của các bên”[40]

Như vậy, giải pháp mà ACR đưa ra đối với điều khoản GQTC bất cân xứng cũng giống như giải pháp của Tòa tư pháp tối cao Pháp trong thời kỳ đầu, nhân vụ Rothschild, nhưng căn cứ thì khác. Đối với ACR, thỏa thuận như vậy bị vô hiệu vì vi phạm nguyên tắc cân bằng lợi ích, còn đối với Tòa tư pháp tối cao Pháp, thỏa thuận như vậy bị vô hiệu vì vi phạm nguyên tắc khả đoán và an toàn pháp lý. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Tòa án Pháp sau đó đã có cách diễn giải cởi mở hơn trong việc xác định tính khả đoán và an toàn pháp lý, khiến cho loại điều kiện này không dễ dàng bị tuyên vô hiệu nữa.

Kết luận và khuyến nghị

Điều khoản lựa chọn cơ quan GQCT bất cân xứng đang xuất hiện ngày càng nhiều trong thực tiễn kinh doanh quốc tế, đặc biệt trong các hợp đồng lớn, phức tạp và việc thực hiện có thể diễn ra ở nhiều nước khác nhau và kéo dài. Tuy vậy, pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, chưa có quy định chuyên biệt cho phép giải quyết vấn đề hiệu lực của loại thỏa thuận này. Thực tiễn ở nhiều nước cho thấy, hiệu lực của loại thỏa thuận này phụ thuộc rất nhiều vào cách giải thích các nguyên tắc chung của pháp luật. Nói cách khác, kết quả giải quyết tranh chấp liên quan đến điều khoản này phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm của Tòa án. Ở Việt Nam, chúng tôi chưa thấy có vụ việc điển hình nào được đưa ra phân xử trước Tòa án. Chúng tôi mới thấy có một vụ việc liên quan đến điều khoản lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp bắt buộc mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên. Trong vụ việc này, phía doanh nghiệp Việt Nam lập luận rằng điều GQTC (Điều 26 Vận đơn) là vô hiệu vì không thỏa mãn điều kiện về sự ưng thuận. Cụ thể, doanh nghiệp Việt Nam (bên nhận hàng) lập luận rằng mình chỉ biết đến điều khoản này vào thời điểm nhận hàng ở cảng đến, vì lúc đó mới nhận được vận đơn gốc. Lập luận này đã được Tòa án nhân dân TP Hải Phòng chấp nhận. Cụ thể, theo Tòa án, “Hội đồng xét thấy không có tài liệu, chứng cứ thể hiện có việc tự nguyện giao kết, thỏa thuận lựa chọn pháp luật và Tòa án giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn. Hơn nữa, ngày 26/9/2018 tàu đến cảng Đình Vũ thì cũng là ngày nguyên đơn mới nhận được 02 vận đơn gốc”.

Như vậy, theo quan điểm của Tòa án nhân dân TP Hải Phòng, thỏa thuận trên là vô hiệu, vì không thỏa mãn điều kiện tự do tự nguyện giao kết. Theo quan điểm của chúng tôi, quan điểm này chưa thực sự thuyết phục, không phản ánh được đúng tính chất của các hoạt động thương mại quốc tế và vận tải hàng hải quốc tế. Trong thực tiễn, bên nhận hàng là bên thanh toán. Thực tiễn cho thấy việc thanh toán được thực hiện thông qua phương thức tín dụng chứng từ (L/C). Và để mở L/C, bên có nghĩa vụ thanh toán được gửi bộ hồ sơ “sạch”, trong đó có vận đơn, và vì vậy đã biết (hoặc cần phải biết) sự tồn tại của điều khoản giải quyết tranh chấp trong vận đơn.

 Theo chúng tôi, việc lựa chọn nhiều cơ quan GQTC khác nhau là một nhu cầu của các chủ thể tham gia quan hệ kinh doanh cần được tôn trọng. Tất nhiên, loại thỏa thuận này chứa đựng các nguy cơ phá vỡ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng, ảnh hưởng đến quyền lợi của một bên còn lại, nên cần có cơ chế kiểm soát của Tòa án.

Chúng tôi cho rằng, Tòa án Việt Nam nên áp dụng cơ chế kiểm soát theo hướng tôn trọng ý chí của các bên. Nếu các bên đã đàm phán hoặc đã thông báo cho nhau để biết rõ về điều khoản này và các bên đã chấp nhận thì dù điều khoản này có bất cân xứng vẫn cần được tôn trọng vì đó là ý chí của các bên. Trường hợp điều khoản này do một bên áp đặt cho bên còn lại, hoặc không thông báo cho bên còn lại biết thì cũng không nên bị tuyên vô hiệu ngay. Điều khoản này chỉ nên bị tuyên vô hiệu nếu nó tạo ra sự bất cân xứng nghiêm trọng, làm mất đi hoàn toàn tính khả đoán.

Đối với doanh nghiệp, khi soạn thảo điều khoản này cần nghiên cứu thật kỹ các hệ thống pháp luật và thực tiễn xét xử của các nước có liên quan (tức là những nước có các cơ quan GQTC được lựa chọn và pháp luật của nước nơi phán quyết sau đó cần được thi hành). Hiệu lực của điều khoản này phụ thuộc rất nhiều vào nguồn luật được áp dụng.

Doanh nghiệp cần lưu ý rằng, khi tranh chấp liên quan đến hiệu lực của thỏa thuận cơ quan GQTC bất cân xứng được đưa ra phân xử trước Tòa án thì Tòa án sẽ áp dụng pháp luật của nước mình (lex fori) để xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận. Còn khi tranh chấp được đưa ra phân xử trước trọng tài, thì trọng tài sẽ áp dụng luật mà các bên lựa chọn để điều chỉnh hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Trường hợp các bên không lựa chọn luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài, thì trọng tài sẽ áp dụng luật của nước nơi có địa điểm [pháp lý] của trọng tài (lex loci arbitri)[41]. Địa điểm này cũng do các bên lựa chọn. Trong thực tế, trọng tài cũng có thể phải tính đến pháp luật của nước nơi phán quyết sau đó sẽ phải thi hành[42]. Vì vậy, bên cạnh việc thỏa thuận chọn cơ quan GQTC, các bên cần hết sức cân nhắc thỏa thuận chọn luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài và địa điểm [pháp lý] của trọng tài[43].



[1] Đối với các hợp đồng vận tải tàu chợ, điều khoản GQTC thường được đưa vào điều kiện giao dịch chung ghi ở mặt sau của vận đơn.

[2] Hiện nay, nhiều nước, trong đó có Việt Nam, vẫn chưa có quy định trao quyền cho trọng tài áp dụng thủ tục khẩn cấp, tức là một thủ tục tranh tụng nhanh chóng và đơn giản, do một trọng tài viên tiến hành trong trường hợp khẩn cấp trước khi hội đồng trọng tài tổ chức phiên họp để giải quyết nội dung tranh chấp giữa các bên.

[3] J. Barbet, P. Rosher, Les clauses de résolution de litiges optionnelles, Revue de l’arbitrage no 1, 45, 46 (2010).

[4] J. Barbet, P. Rosher, tlđd, 3, 47.

[5] Nhưng Nhà nước, khi trở thành bị đơn, có thể đưa ra yêu cầu phản tố.

[6] Bản án số 09/2020/KDTM-ST ngày 18/9/2020, Tòa án nhân dân TP Hải Phòng. Điều khoản gây tranh chấp này sẽ được chúng tôi phân tích rõ hơn trong phần sau.

[7] Ngô Quốc Chiến, Các phương thức tài trợ phi truyền thống cho tố tụng trọng tài và những vấn đề pháp lý, Tạp chí Pháp luật và Phát triển, số 5 + 6, 41, 46 (2018).

[8] Pháp luật của nhiều nước có quy định cấm các loại thỏa thuận tạo ra sự phụ thuộc của một bên vào bên còn lại. Ví dụ, tại Pháp quy định về điều kiện hợp pháp của điều kiện trong chế định về nghĩa vụ có điều kiện đã tồn tại trong BLDS năm 1804 và được giữ lại trong lần sửa đổi năm 2016, theo đó “Mọi nghĩa vụ được cam kết với điều kiện mà việc đáp ứng điều kiện đó tùy thuộc vào ý chí của bên có nghĩa vụ thì đều vô hiệu” (Điều 1304-2). Trong một khoảng thời gian dài, Tòa án Pháp đã nhiều lần dựa vào quy định này để tuyên vô hiệu các thỏa thuận bất cân xứng. Nội dung này sẽ được chúng tôi phân tích kỹ hơn trong phần sau.

[9] Pháp luật của nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã quy định nguyên tắc chung về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản (Điều 420 BLDS năm 2015). Xem: Ngô Quốc Chiến, Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi và việc sửa đổi Bộ luật dân sự 2005, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15 (295), 29, 31 (2015).

[10] Điều khoản lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp là một điều khoản độc lập với hợp đồng. Nguyên tắc này đã được thừa nhận rộng rãi ở nhiều nước. Ở Việt Nam, sự độc lập của thỏa thuận trọng tài được khẳng định bởi Điều 19 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, theo đó “Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài.”. Liên quan đến thỏa thuận lựa chọn tòa án, pháp luật Việt Nam chưa có quy định minh thị.

[11] Trong phần dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích thực tiễn xét xử ở Pháp để làm rõ hơn nhận định này.

[12] J. Barbet, P. Rosher, tlđd, 3, 53.

[13] Ví dụ, tại Pháp, quyền lựa chọn tòa án không được minh thị quy định trong luật, nhưng được ghi nhận thông qua thực tiễn xét xử. Cụ thể, theo Tòa tư pháp tối cao Pháp các thỏa thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp là hợp pháp nhưng phải thỏa mãn hai điều kiện là tranh chấp phải thuộc lĩnh vực mà các bên có quyền tự định đoạt và không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Pháp. Xem: Civ, 1ère  17 déc. 1985, pourvoi: 84-16338.

[14] Theo đó, Tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền riêng biệt nếu các bên được quyền chọn và đã chọn tòa án Việt Nam (khoản 1, điểm c). Tuy nhiên, điều luật này không quy định khi nào các bên được quyền chọn.

[15] Theo đó,  Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Các đương sự được thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và đã lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài giải quyết vụ việc đó”. Điều luật này cũng không quy định trong trường hợp nào các bên được quyền chọn Tòa án.

[16] Chương II và quy dẫn đến các điều luật khác của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng như của BLDS và được làm rõ hơn bởi Nghị quyết số 01/2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

[17] Cass. civ. 1ère, 15 octobre 1966, Bull. Civ., I, no 347.

[18] CA Paris 10 oct. 1990, D. 1990, IR, p. 274; Revue crittique de droit international privé, 1991.605, note H. Gaudemet-Tallon.

[19] J. Barbet, P. Rosher, tlđd, 3, 53.

[20] J. Barbet, P. Rosher, tlđd, 3, 54.

[21] Tòa tư pháp tối cao Pháp đã mở rộng phạm vi của điều 102 BLTTDS Pháp sang các tranh chấp quốc tế khi một trong các tòa án quốc gia được yêu cầu là tòa án nước ngoài (nhưng không áp dụng trong trường hợp tòa án Pháp có thẩm quyền riêng biệt). Xem: Cass. civ. 1ère, 22 juin 1999, Bull.civ., I, no 208.

[22] P. Mayer, Litispendance, connexité et chose jugée dans l’arbitrage international, in Liber amicorum Claude Reymond: autour de l’arbitrage, Litec, 30 (2004).

[23] J. Barbet, P. Rosher, tlđd, 3, 55.

[24] Cass. civ. 1ère, 6 juillet 2005, Bull.civ., I, no 302, Revue de l’arbitrage, 2005.993, note Ph. Pinsolle.

[25] Nhân vụ Law debenture Trust Corp plc v. Electrktrim Finance BV and others (2005) EWHC 1412 (Ch), như được trích trong J. Barbet, P. Rosher, tlđd, 3, 55.

[26] Thường được gọi tắt là Công ước Lugano năm 2007 vì được ký kết năm 2007 tại thành phố Lugano, Thụy Sĩ.

[27] Thường được gọi tắt là Quy tắc Bruxelles I vì được ký kết tại thủ đô Bruxelles của Bỉ. Sau đó Quy tắc này đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012 và thường được gọi tắt là Quy tắc Bruxelles I-bis.

[28] Chúng tôi in đậm để nhấn mạnh.

[29] Cass. civ. 1ère, 26 sept. 2012, Rothschild, n° 11-26.022, Bull.civ., I, n° 176

[30]  Vì trong phần kết luận, Tòa tối cao Pháp nhắc đến hậu quả tạo ra sự phụ thuộc của bà X vào ngân hàng (caractère potestatif ). Một sự phụ thuộc như vậy là trái với quy định cấm các thỏa thuận đặt ra các điều kiện phụ thuộc.

[31] Chúng tôi in đậm để nhấn mạnh.

[32] Cụ thể, theo các quy tắc tư pháp quốc tế của Pháp, khi được yêu cầu xét xử một vụ tranh chấp mà trong đó các bên đã lựa chọn hợp pháp một tòa án nước ngoài thì Tòa án Pháp phải từ chối thẩm quyền.

[33] Cass. civ. 1ère, 7 oct. 2015, Bull.civ., I, n° 837.

[34] Các tiêu chí này cũng được pháp luật Việt Nam sử dụng, cụ thể là Điều 469 và Điều 470 BLTTDS năm 2015.

[35] Xem chẳng hạn: Cass. civ. 1ère, 7 oct. 2015, eBizcuss, n° 14-16.898, RDC 2016, p. 282 note E. Treppoz; D. 2015, p. 2620, obs F. Jault-Seseke ; Dr. et pat. 2016, n° 256, p. 102, obs. J.-P. Mattout et A. Prüm ; Gaz. Pal. 11 nov. 2015, p. 19, C. Dupoirier et V. Bouvard ; Procédures 2015, n° 12, p. 80, obs. C. Nourissat ; Rev. dr. banc. et fi. 2016, n° 1, p. 25, note A. Vrignaud ; JCP E 2016, 1087, note M.-E. Ancel et L. Marion ; RCA 2016, Etud. 5, note N. Ciron; Banque et droit 2016, n° 166, p. 68, note G. Affaki ; JCP G 2015, 1123, obs. F. Mailhé.

[36] Tòa Tư pháp tối cao Pháp có 6 phân tòa, gồm 3 Tòa dân sự được đánh số từ 1 đến 3, 1 Tòa thương mại, 1 Tòa Lao động, 1 Tòa hình sự. Hai vụ việc được phân tích ở trên đều do Tòa dân sự số 1 giải quyết.

[37] Cass. com., 11 mai 2017, no 15-18.758.

[38] Cass. civ. 1ère, 12 juin 2013, n° 12-22.656, Bull.civ., I, n° 121.

[39] Lưu ý rằng mặc dù tên là Tòa trọng tài, nhưng đây là một Tòa án nhà nước có chức năng giải quyết giám đốc thẩm các tranh chấp liên quan đến trọng tài. Tòa này không giải quyết nội dung của tranh chấp, mà chỉ giải quyết các vấn đề về thẩm quyền của trọng tài, về các quyết định hỗ trợ của tòa án đối với trọng tài, các quyết định của tòa án về hủy hoặc không công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài. Theo một nghiên cứu, ở Nga trong thời gian gần đây, có khoảng dưới 5% các vụ tranh chấp liên quan đến các vấn đề trên được đưa ra giải quyết trước ACR. Xem: Erik Grigoryan, Les clauses alternatives de règlement des conflits dans les contrats commerciaux. Etudes de droit comparé: France, Russie et Angleterre, (luận án tiến sĩ luật học), Collège Universitaire Français de Moscou, 69 (2015), ghi chú trang 104.

[40] Vụ việc chúng tôi phân tích ở trên được trích dẫn bởi: Erik Grigoryan, tlđd,  37, 67.

[41] Ví dụ: trong vụ Sulamerica CIA Nacional De Seguros SA and others v. Enesa Engenharia SA and others de 19 janvier 2012, Tòa thương mại Anh đã quyết định rằng hiệu lực của điều khoản trọng tài phải được xác định theo pháp luật Anh, vì địa điểm trọng tài được quy định trong thỏa thuận là Luân Đôn.

[42] Vì nếu không, phán quyết trọng tài có nguy cơ bị hủy hoặc không được công nhận. Về điểm này, xem: J. LEW, The Law Applicable to the Form and Substance of the Arbitration Clause, in ICCA Congress Series, no 14, May 1998, Paris, 95.

[43] Về vấn đề nguồn luật cần được áp dụng trong tố tụng trọng tài, xem thêm: Ngô Quốc Chiến và Nguyễn Hoàng Anh, Trọng tài thương mại quốc tế và vấn đề luật áp dụng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 1 (425), 21-29 (2021).

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Quốc Chiến và Nguyễn Hoàng Anh, Trọng tài thương mại quốc tế và vấn đề luật áp dụng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 1 (425), 21-29 (2021).

2. Ngô Quốc Chiến, Các phương thức tài trợ phi truyền thống cho tố tụng trọng tài và những vấn đề pháp lý, Tạp chí Pháp luật và Phát triển, số 5 + 6, 41-47 (2018).

3. Erik Grigoryan, Les clauses alternatives de règlement des conflits dans les contrats commerciaux. Etudes de droit comparé: France, Russie et Angleterre, Collège Universitaire Français de Moscou, 2015.

4. J. Lew, The Law Applicable to the Form and Substance of the Arbitration Clause, in ICCA Congress Series, no 14, May 1998, Paris.

5. J. Barbet, P. Rosher, Les clauses de résolution de litiges optionnelles, Revue de l’arbitrage, no 1, 45 (2010).

6. P. Mayer, Litispendance, connexité et chose jugée dans l’arbitrage international, in Liber amicorum Claude Reymond: autour de l’arbitrage, Litec (2004).

7. Bản án số 09/2020/KDTM-ST ngày 18/9/2020 của Tòa án nhân dân TP Hải Phòng.

8. Civ, 1ère  17 déc. 1985, pourvoi: 84-16338.

9. CA Paris 10 oct. 1990, D. 1990.

10. Cass. Civ., 1ère, 22 juin 1999, Bull.civ., I, no 208.

11. Cass. civ. 1ère, 6 juillet 2005, Bull.civ., I, n° 302.

12. Cass. civ. 1ère, 26 sept. 2012, Bull.civ., I, n° 176.

13. Cass. civ. 1ère, 7 oct. 2015, Bull.civ., I, n° 837,

14. Cass. Com., 11 mai 2017, no de pourvoi: 15-18.758.

Cass. civ. 1ère, 12 juin 2013, Bull.civ., I, n° 121.

Tin cùng chuyên mục

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn m..
09:50 | 05/07/2024
Trong ngành y tế, trách nhiệm giải trình đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cung cấp dịch vụ chăm sóc an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân. N..
17:05 | 30/06/2024
Thực hiện pháp luật về giáo dục đại học ở các Học viện thuộc Bộ Quốc phòng là hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quy địn..
17:00 | 30/06/2024
Phát triển kinh tế xanh đã trở thành một chương trình nghị sự thiết yếu trong một thế giới đang phải vật lộn với tình trạng suy thoái môi trường ngày ..
16:57 | 30/06/2024
Trong hợp đồng mua bán, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa/ tài sản có ý nghĩa rất quan trọng. Thời điểm chuyển quyền sở hữu..
21:30 | 26/06/2024
Trịnh Ngọc Anh Phương Thạc sĩ, Học viện Ngân hàng Email: phuongtna@hvnh.edu.vn
09:27 | 03/06/2024
Nghiên cứu sinh ở Viện Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Duyệt đặng 28/5/2024. Email: loandanghcm@gmail.com; SĐT: 0978103468
09:21 | 03/06/2024
* Phạm Xuân Phong, Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương. Duyệt đăng 2/5/2024. ** Nguyễn Đăng Châu Anh, Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương *** ..
09:06 | 02/05/2024
Bài viết đề cập khái quát những vấn đề lý luận về lao động di cư – nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương – và quyền của lao động di cư trong các vă..
09:21 | 26/04/2024
icon up