Nghiên cứu lý luận

Kinh tế báo chí có bị ảnh hưởng khi báo chí mất dần vị thế "độc quyền tin tức" trong thời đại số?

Nguyễn Thị Hằng Thu/ Diễn đàn báo chí và chuyển đổi số Thứ năm, 25/07/2024 - 14:51

(PLPT) - Kinh tế báo chí - truyền thông Việt Nam hiện đang gặp nhiều vấn đề phức tạp và nghiêm trọng hơn bao giờ hết. Dù báo chí và các nhà hoạch định chính sách đã thảo luận về nhiều định hướng và giải pháp, bài toán này vẫn chưa có lời giải thỏa đáng.

Thuật ngữ "kinh tế báo chí"

Theo PGS, TS. Phạm Ngọc Linh, Phó chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, kinh tế báo chí là một ngành kinh tế khá đặc biệt. Những sản phẩm báo chí là một sản phẩm hàng hóa rất đặc biệt và nếu đặt trong cơ chế thị trường cũng phải tuân thủ đầy đủ các quy luật của thị trường. Điều này đòi hỏi các cơ quan báo chí phải cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, hoạt động kinh tế đến đối tượng khách hàng.

Theo quan niệm này, khi nói đến kinh tế báo chí, có nghĩa là nói đến loại hình kinh tế thuộc về lĩnh vực báo chí, trong đó, mỗi cơ quan báo chí được xem là một doanh nghiệp đặc biệt, có hoạt động sản xuất ra một loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt và các loại dịch vụ khác, với kế hoạch tính đến đầu vào - đầu ra của sản phẩm, thị trường tiêu thụ sản phẩm, doanh thu của sản phẩm có lỗ - lãi...

Trong một công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế báo chí, tác giả Bùi Chí Trung dựa trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị mác-xít, căn cứ vào vai trò và chức năng của báo chí, đặc điểm đặc thù của mô hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm báo chí trên thị trường, đã đưa ra định nghĩa về kinh tế báo chí: "Kinh tế báo chí là hoạt động kinh tế của các cơ quan báo chí trong quá trình sử dụng con người, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính... để đi đến hiệu quả tối đa mà các cơ quan báo chí nói riêng và công nghiệp truyền thông nói chung có thể đạt được". Trong tham luận này, tôi sử dụng định nghĩa "kinh tế báo chí" của tác giả Bùi Chí Trung.

Báo chí mất dần vị thế "độc quyền tin tức" trong thời đại số

Trước những năm 90/TK20, khi chưa phát minh ra w.w.w., báo chí (gồm: báo in, phát thanh, truyền hình) với hai chức năng bản thể là "thông tin" và "giao tiếp xã hội" đã có thể chiếm vị thế "độc quyền" cung cấp tin tức cho công chúng qua các phương tiện là tờ báo in, radio và tivi. Muốn biết tin tức, công chúng phải mua tờ báo in để đọc, nghe radio, xem tivi. Nhờ đó mà cơ quan báo chí có thể thực hiện tốt vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn tự do ngôn luận của nhân dân, mà vẫn có thể làm kinh tế hiệu quả, có được "nguồn thu phụ" từ thị phần bán tờ báo in, từ nội dung thương mại, quảng cáo, từ các loại dịch vụ giải trí,... bên cạnh "nguồn thu chính" là từ ngân sách của Nhà nước cung cấp hàng năm.

Tuy nhiên, khi Internet mở rộng toàn cầu và w.w.w. là nền tảng chính để báo điện tử và truyền thông xã hội phát triển, thì cuộc cạnh tranh thông tin giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội trở nên gay gắt. Báo chí không còn vị thế "độc quyền tin tức" như trong TK20, bởi "công chúng thời đại số" đã dần thay đổi thói quen tiếp nhận thông tin từ đọc báo in, nghe radio, xem ti vi, sang tiếp nhận thông tin chủ yếu từ báo điện tử, trang tin trực tuyến, mạng xã hội (MXH), như: TIKTOK, Facebook,... bằng cách thức giao tiếp "chạm" vào điện thoại thông minh, hoặc máy tính bảng,... Để diễn giải cho điều này, tôi muốn lấy một ví dụ.

Năm 2021, trong một nghiên cứu của chúng tôi (kết quả từ ý kiến của 1.050 người có trả lời phỏng vấn anket = 100%), cho thấy mức độ công chúng tiếp nhận thông tin từ báo chí so với MXH có sự chênh lệch đáng kể: 47,71% người đọc báo in (so với năm 1997: 98%); phát thanh (chủ yếu nghe trên ô tô): 23,71% (năm 1997: 87%); truyền hình: 69,24% (năm 1997: 97%); báo điện tử: 85,9%; MXH: 91,14%1. Rõ ràng là thị phần công chúng của báo chí đã sụt giảm đáng kể so với TK20. Quảng cáo trên báo chí cũng bị thu hẹp, bởi các doanh nghiệp đều có thể quảng cáo trên trang thông tin điện tử của mình,... Mặt khác, Nhà nước gần như đã xóa bỏ "bao cấp" về tài chính đối với hầu hết các cơ quan báo chí (tuy không xóa bỏ hoàn toàn, bởi hàng năm Nhà nước vẫn đầu tư tài chính cho các cơ quan báo chí để trang bị vật chất, máy móc tiên tiến, kỹ thuật số hiện đại,...). Chính vì vậy, vấn đề làm kinh tế để "tự chủ tài chính" của các cơ quan báo chí có thể cũng gặp không ít khó khăn, đặc biệt trong thời dịch bệnh Covid-19 vừa qua.

Cơ quan báo chí - "doanh nghiệp đa năng" trong thời đại số

Dù gọi theo cách nào, "tập đoàn báo chí", hay "cơ quan báo chí hội tụ", hay "doanh nghiệp báo chí",... thì cũng đều có thể hiểu là một cơ quan báo chí trước đây chỉ làm một loại hình báo chí, có thể là báo in, hay truyền hình, hay phát thanh,... thì bây giờ cơ quan báo chí ấy đã phát triển thành đa loại hình, có đủ báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử và các hoạt động khác, với việc thành lập trong lòng cơ quan báo chí các đơn vị mới, như: nhà xuất bản; xưởng phim; trung tâm đào tạo về báo chí - truyền thông; công ty truyền thông, công ty dịch vụ, hoặc liên kết sản xuất, tổ chức sự kiện,... với các cơ quan, đơn vị bên ngoài, tuy nhiên, cơ quan báo chí đứng tên chủ là người nắm vai trò chủ đạo, chi phối bao trùm lên toàn bộ hoạt động của các cơ quan đơn vị khác trong lòng cơ quan báo chí đó. Xu hướng sản xuất “nội dung thông tin số" là chủ đạo bên cạnh các dịch vụ khác. Ví dụ: Đài truyền hình Việt Nam (VTV) ngoài các kênh chủ của mình, báo điện tử; báo và tạp chí in; các trung tâm sản xuất phim, nhà hát truyền hình, đào tạo, quảng cáo trực tuyến,... còn liên kết sản xuất, hoặc phát sóng sản phẩm của các đơn vị, công ty truyền thông bên ngoài trên sóng VTV. Nguồn thu từ các hoạt động này rất lớn, có thể hơn nhiềulần hoạt động sản xuất tin tức thời sự. Từ nguồn thu này có thể sử dụng để đầu tư trở lại cho con người, hoặc cơ sở vật chất,.... nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm, làm tăng uy tín và "thương hiệu" của cơ quan báo chí - truyền thông (hay tập đoàn báo chí - truyền thông).

Có thể thấy, công nghệ số đã tạo nền tảng mới, kích thích báo chí phát triển và làm kinh tế hiệu quả trong một môi trường mở, một không gian vô tận, với cách thức giao tiếp trực tuyến không biên giới, tức thời và hiện đại. Việc điều tra nhu cầu tiêu dùng sản phẩm báo chí - truyền thông, hoặc thuyết phục công chúng để mở rộng thị phần bán sản phẩm qua phương thức online cũng thuận lợi, không quá tốn kém và mất nhiều thời gian như trước. Rõ ràng là trong thời đại số, kinh tế báo chí không hề sụt giảm, mà còn tăng đáng kể từ việc mở rộng nguồn thu.

Cơ chế chính sách về kinh tế báo chí truyền thông

Hoạt động kinh tế luôn phức tạp, đặc biệt đối với kinh tế báo chí. Trên cơ sở nhiệm vụ chính trị đặc thù của một cơ quan báo chí, hoạt động kinh tế của cơ quan báo chí không thể đơn thuần (đầu vào - đầu ra, lỗ - lãi) như các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xã hội khác. Đặc biệt, khi cơ quan báo chí hội tụ, có nhiều đơn vị có những hoạt động khác nhau, việc quản lý và phân phối tài chính sẽ phức tạp, rất dễ mâu thuẫn. Nếu không quản trị đúng hướng, hoạt động kinh tế rất dễ dẫn đến tình trạng "thương mại hóa", xa rời tôn chỉ, mục đích của một cơ quan báo chí. Tất nhiên, trong quá trình hoạt động kinh tế, các bộ phận hoặc các đơn vị mới hoạt động kém hiệu quả, cơ quan báo chí có thể giải tán những đơn vị này, hoặc thành lập thêm đơn vị mới để làm kinh tế khi có cơ hội.

Để hoạt động kinh tế báo chí có hiệu quả, có nguồn thu dồi dào để phục vụ tái sản xuất và nộp thuế cho Nhà nước, ngoài việc đội ngũ lãnh đạo có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn giỏi "ngang tầm nhiệm vụ", đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo, cơ sở vật chất tiên tiến, hiện đại, thì cũng rất cần có cơ chế chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền báo chí Việt Nam. Luật pháp về báo chí truyền thông có nội dung vừa khái quát, vừa cụ thể, mang tính khoa học, hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới để làm cơ sở pháp lý vững chắc cho việc quản lý hoạt động kinh tế của cơ quan báo chí truyền thông đúng hướng, đúng luật pháp và hiệu quả.

Tài liệu tham khảo

1. VnEconmy.vn, ngày 28/6/2023.

2. Bùi Chı́ Trung, (2017), Kinh tế báo chí, (Sách chuyên khảo), Nxb Chı́nh trị quốc gia - Sự thật, HN, tr.15.

3. Số liệu năm 2021 là dẫn theo: Nguyễn Thị Hằng Thu, (2021), “Giáo trình Tác phẩm báo in”, Đề tài khoa học Cấp Học viện BC&TT, HN, Phần Phụ lục 1; Số liệu năm 1997 là dẫn theo: Tạ Ngọc Tấn, (1997-1998, "Tác động của báo chí đối với việc xây dựng lối sống tích cực của thanh niên sinh viên hiện nay", Đề tài khoa học Cấp Bộ, Kỷ yếu, Phân viện BC&TT, HN, tr.95.

Cùng chuyên mục

Xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

Xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

Nghiên cứu lý luận -  2 tuần trước

(PLPT) - Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chủ thể có quyền tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm cũng như quyền lợi của họ khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Việc tuân thủ nguyên tắc này là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản theo quy định pháp luật Việt Nam.

Pháp luật một số quốc gia về khai thác, sử dụng không gian ngầm dưới mặt đất và gợi mở cho Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về khai thác, sử dụng không gian ngầm dưới mặt đất và gợi mở cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  4 tuần trước

(PLPT) - Bài viết trình bày về tầm quan trọng của việc phát triển không gian ngầm và công trình ngầm để giải quyết vấn đề thiếu đất ở các đô thị lớn, đặc biệt trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh chóng được xem là xu thế tất yếu để sử dụng tài nguyên đất một cách tối ưu.

Cân bằng lợi ích trong bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm đầu ra của trí tuệ nhân tạo - Thực tiễn pháp lý quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt  Nam

Cân bằng lợi ích trong bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm đầu ra của trí tuệ nhân tạo - Thực tiễn pháp lý quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  4 tuần trước

(PLPT) - Bài viết nghiên cứu những tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) đến luật bản quyền và sự cần thiết phải điều chỉnh khung pháp lý để cân bằng lợi ích giữa các bên

Miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường: Phân tích so sánh giữa Chỉ thị 2004/35/EC của EU và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 của Việt Nam

Miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường: Phân tích so sánh giữa Chỉ thị 2004/35/EC của EU và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 của Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  4 tuần trước

(PLPT) - Bài viết nghiên cứu và so sánh cơ chế miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường giữa Chỉ thị 2004/35/EC (ELD) của EU và Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2020 nhằm chỉ ra những hạn chế trong luật pháp Việt Nam và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường.

Phòng, chống gian lận trong kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản: Kinh nghiệm Hàn Quốc và gợi mở cho Việt Nam

Phòng, chống gian lận trong kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản: Kinh nghiệm Hàn Quốc và gợi mở cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  4 tuần trước

(PLPT) - Gian lận trong kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản là một vấn đề dai dẳng và phức tạp tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Sử dụng lẽ công bằng để điều chỉnh quan hệ dân sự ở Pháp và khuyến nghị đối với Việt Nam

Sử dụng lẽ công bằng để điều chỉnh quan hệ dân sự ở Pháp và khuyến nghị đối với Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  4 tuần trước

(PLPT) - Ở Việt Nam, lẽ công bằng đã trở thành một nguồn của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, việc áp dụng lẽ công bằng vẫn chưa hiệu quả do các quy định về áp dụng lẽ công bằng còn hẹp cả về chức năng, lĩnh vực và chủ thể áp dụng.

Nhận diện những khoảng trống pháp lý khi thể chế hóa chủ trương của Nghị quyết số 18-NQ/TW vào Luật Đất đai 2024 và khuyến nghị hoàn thiện

Nhận diện những khoảng trống pháp lý khi thể chế hóa chủ trương của Nghị quyết số 18-NQ/TW vào Luật Đất đai 2024 và khuyến nghị hoàn thiện

Nghiên cứu lý luận -  4 tuần trước

(PLPT) - Bài viết phân tích quá trình thể chế hóa chủ trương của Nghị quyết 18-NQ/TW vào Luật Đất đai 2024, ghi nhận những đổi mới đột phá như áp dụng giá đất theo thị trường, bảo vệ người dân khi thu hồi đất và hiện đại hóa quản lý.

Quyền cư trú của lao động di trú trong ASEAN: Cơ hội và thách thức trong tiến trình phát triển bền vững

Quyền cư trú của lao động di trú trong ASEAN: Cơ hội và thách thức trong tiến trình phát triển bền vững

Nghiên cứu lý luận -  4 tuần trước

(PLPT) - Quyền cư trú của lao động di trú trong ASEAN đóng vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế, ổn định xã hội trong khu vực và phát triển bền vững.