Tóm tắt:
Bài viết chỉ
ra rằng, lý luận của thuyết pháp nhân hư cấu được tiếp thu trong lý luận về tư
cách pháp nhân của công ty cổ phần tại Việt Nam chưa phù hợp với trường phái
triết học Marx – Engels - nền tảng tư tưởng chủ đạo của
Nhà nước và pháp luật tại Việt Nam. Bằng phương pháp phê phán của Marx đối với
chủ nghĩa duy tâm của đại diện tiêu biểu Hegel, bài viết làm rõ yếu tố cốt lõi
trong lý luận này là đặc sản thuộc trường phái duy tâm: “chủ nghĩa thần bí”[1] và
là quan điểm sai lầm. Hệ quả tất yếu của nó là xa rời thực tiễn, cụ thể là,
thực tiễn công ty cổ phần. Từ đó, đề xuất ý kiến khắc phục.
Từ khóa: lý thuyết
pháp nhân hư cấu, tư cách pháp nhân, công ty cổ phần, duy tâm, duy vật
The article
points out that the fiction theory of legal personality which was adopted to
form legal personality of joint-stock company in Vietnam, is fundamentally
incompatible with Marx–Engels philosophy – the foundation of the State and law
in Vietnam. By Marx’s critical method in his own work which criticized Hegel
idealism, the article highlights the peculiar feature of the idealist -
“mysticism” in the fiction theory of legal personality. Its common outcome is
unrealistic. To prove the unrealistic of the theory, this article focus on the
practical realities of the joint-stock company. Hence, this article also
proposes suggestions to improve the problems.
Keywords: fiction theory, legal personality,
joint-stock company, idealism, materialism
1. Đặt vấn đề
Tư cách pháp
lý của tổ chức (pháp nhân) là một khái niệm nền tảng của pháp luật phương Tây,[2]
trong đó, bao gồm tư cách pháp lý của công ty. Vấn đề này đã được các chuyên
gia nghiên cứu và tranh luận qua nhiều thập kỷ.[3] Nhiều học thuyết về công ty
đối vốn đã được phát triển ở Hoa Kỳ[4]
nhưng nhìn chung, lý thuyết có sức ảnh hưởng chủ yếu là lý thuyết giả tưởng về
pháp nhân (trường phái duy pháp) và lý thuyết thực tại về pháp nhân (trường
phái duy thực).[5] Lý
luận mà các lý thuyết mang lại chủ yếu là các nội dung về nguồn gốc pháp nhân
và các điều kiện, đặc điểm chung, trong đó, bao gồm năng lực pháp lý của pháp
nhân, được vận dụng chung cho tất cả các loại pháp nhân bao gồm pháp nhân công
quyền là Nhà nước và pháp nhân tư. Nguyên nhân là do việc nghiên cứu về nguyên bản pháp nhân
thực của học giả Otto von Gierke và pháp nhân hư cấu của học giả Friedrich Carl
von Savigny cũng không có sự phân biệt rõ ràng. Các ví dụ được sử dụng để lập
luận cho các đặc điểm chung của pháp nhân đến từ tất cả các loại hiệp hội, hội
đoàn, từ hội đoàn tôn giáo, hiệp hội thương mại cho đến lãnh địa
và hội đồng thành phố mà không phân biệt rõ nét giữa khối công và tư. Vậy nên,
về cơ bản, khi Việt Nam tham khảo và tiếp thu các lý luận này từ nước ngoài[6] cũng
đã đồng thời, tiếp thu các đặc điểm chung này cho tất cả các tổ chức được xem
là pháp nhân. Vì lẽ đó, khi nghiên cứu tư cách pháp nhân của công ty cổ phần
(CTCP), bài viết phải sử dụng phép so sánh bằng đối tượng tại Việt Nam tương tự
với ví dụ mà các chuyên gia đã sử dụng trong nghiên cứu gốc, cụ thể ở các phần
liên quan đến hội đồng thành phố, cơ quan nhà nước và chính Nhà nước, để làm rõ
bản chất vấn đề.
Pháp nhân là
CTCP được phân loại là pháp nhân thương mại (Điều 75 Bộ Luật Dân sự Việt Nam
2015).[7] Có
quan điểm cho rằng, pháp nhân mà Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 (BLDS 2015)
thể hiện tương đồng với pháp nhân thuộc trường phái duy thực.[8] Tuy
nhiên, bởi vì sự tiếp thu đồng thời cả hai lý thuyết nên một vài lý luận cốt
lõi của thuyết pháp nhân hư cấu vẫn tồn tại trong hệ thống lý luận về pháp nhân
hiện nay tại Việt Nam mà không có sự phân biệt với lý thuyết thực thể thực mặc
dù hai loại lý thuyết này về cơ bản có sự khác biệt rõ ràng. Qua quá trình vận
dụng, các nội dung của lý thuyết pháp nhân hư cấu thể hiện những điểm không phù
hợp với thực tế, ví dụ cụ thể là thực tiễn của CTCP, cũng như có nhiều điểm mâu
thuẫn với các luận điểm khác của pháp nhân thực được Việt Nam tiếp thu và các
quy định liên quan đến CTCP tại Luật Doanh nghiệp Việt Nam.
Vì thế nên,
bài viết góp phần rà soát lại một cách có hệ thống, ngắn gọn lý thuyết của pháp
nhân hư cấu. Trong đó, xác định các vấn đề mâu thuẫn trong lý luận lẫn thực
tiễn vận dụng đối với CTCP. Đồng thời, bằng quan điểm duy vật của Marx và
Engels, bài viết chỉ ra nguyên nhân của vấn đề bắt nguồn từ quan điểm sai lầm
được tạo thành bởi chủ nghĩa duy tâm trong thuyết pháp nhân hư cấu. Từ đó, đề
xuất ý kiến nhằm cải thiện tình trạng này.
2 . Trường phái triết học
– nền tảng tư tưởng chủ đạo tại Việt Nam
Nền tảng tư
tưởng chủ đạo của pháp luật Việt Nam là chủ nghĩa duy vật lịch sử được trình
bày bởi Marx và Engels trong tác phẩm“Hệ
tư tưởng Đức” vào năm 1845-1846.[9] Theo đó, pháp luật của chủ nghĩa duy vật lịch sử là một phần của “kiến trúc
thượng tầng”, được hình thành từ “cơ sở hạ tầng” kinh tế.[10] Bên cạnh đó, pháp luật không phải là hiện tượng
trung tính hay tự chủ mà phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị.
Pháp luật bị quy định bởi các
quan hệ sản xuất và phục vụ việc duy trì, củng cố địa vị của giai cấp trong xã
hội có giai cấp.[11] Từ
đó, Marx cho rằng, không thể hiểu được pháp luật nếu không phân tích các quan hệ sản xuất và điều kiện kinh
tế cơ bản của xã hội.[12] Hệ
quả là, các thay đổi trong cơ sở kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi trong
pháp luật.[13] Tuy
nhiên, Marx cũng thừa nhận rằng, pháp luật có thể tác động ngược lại đối với cơ
sở kinh tế, nhưng chỉ ở mức phụ thuộc và hạn chế.[14] Vì lẽ đó, việc phân tích sự
phát triển của pháp luật có nhiệm vụ phơi bày lợi ích giai cấp chứa đựng trong
đó.[15] Vậy
nên, pháp nhân của chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng phải là một phạm trù thuộc
“kiến trúc thượng tầng”, được hình thành từ “cơ sở hạ tầng” kinh tế và có khả
năng phơi bày được lợi ích nhóm chứa đựng trong đó.
Bên cạnh đó,
Marx và Engels đã chỉ ra rằng, đặc điểm phổ biến của các sản phẩm thuộc trường
phái duy tâm là “chủ nghĩa thần bí” (mysticism) và hệ quả tất yếu của nó là
quan điểm sai lầm, xa rời thực tiễn.[16] Bằng phương pháp phê phán
của Marx đối với triết lý về quyền của Hegel, bài viết làm rõ yếu tố “thần bí”
trong lý luận của thuyết pháp nhân hư cấu và chứng minh cho sự xa rời thực
tiễn, sai lầm của lý luận bằng thực tiễn CTCP.
3 . Khái quát về lý luận
tư cách pháp nhân của công ty cổ phần tại Việt Nam
Lý luận về
tư cách pháp nhân của công ty tại Việt Nam được cho là xuất phát từ lý thuyết
pháp nhân hư cấu (thuyết giả tưởng về pháp nhân). Sau đó, có sự thay đổi sang
lý thuyết pháp nhân thực.[17] Tuy
nhiên, qua các công trình nghiên cứu tại Việt Nam, có thể thấy rằng, quan điểm
lý luận về tư cách pháp nhân công ty tại Việt Nam có sự khác biệt, không thống
nhất giữa các chuyên gia. Một vài chuyên gia thể hiện rõ xu hướng theo đuổi
trường phái pháp nhân thực,[18]
trong khi các chuyên gia khác lại vẫn giữ nguyên các quan điểm lý luận của lý
thuyết pháp nhân hư cấu và thêm vào một số luận điểm của lý thuyết pháp nhân
thực[19].
Thế nên, có thể thấy rằng, các quan điểm
lý luận hình thành nên khái niệm tư cách pháp nhân của CTCP tại Việt Nam hiện
nay đang được tiếp thu từ cả hai lý thuyết và có thể được trình bày ngắn gọn
như sau:
Về nguồn gốc,
pháp nhân có thể được hình thành bởi sự sáng tạo của cá nhân, pháp nhân.[20]
Thời điểm pháp nhân được thành lập theo quy định của luật là sự thể hiện cho
việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ từ các sáng lập viên sang cho pháp nhân.[21]
Trong đó, thừa nhận việc hình thành và hoạt động dựa trên sự thỏa thuận tự
nguyện giữa các thành viên.[22] Nói
cách khác, quan điểm này thừa nhận mối quan hệ hợp đồng giữa các thành viên
trong CTCP.
Về ý chí, cơ cấu tổ chức, tài sản và việc tham gia vào các
quan hệ pháp luật, pháp nhân
được khẳng định không phải là số cộng đơn giản của nhiều người hay là sự kết
hợp rời rạc của các đồng sở hữu mà là một thể thống nhất, độc lập không phụ
thuộc vào ý chí của thành viên hay bất kì ai.[23]
Tuy nhiên,
các lý luận trong hai lý thuyết này có sự khác biệt về cơ bản một cách rõ nét
và có thể được khái quát như sau:
Đầu tiên là lý thuyết pháp nhân hư cấu. Lý thuyết này là mô hình nền tảng lý luận sớm nhất về tư
cách pháp nhân của CTCP. Nguồn gốc của nó đến từ Luật La Mã và việc xây dựng tư
cách pháp nhân của tổ chức được thực hiện thông qua mô phỏng vị trí pháp lý của
thể nhân (tư cách pháp nhân La Mã).[24] Vì tư cách pháp nhân La Mã
(bao gồm cả tư cách pháp lý của thể nhân) không thể bị phân chia và chuyển
nhượng.[25] Vậy
nên, cách duy nhất là sáng tạo ra một con người pháp lý. Từ đó, nó có tên gọi
là giả định nhân tạo hay hư cấu pháp lý.[26] Đồng thời, nguồn gốc, mục
đích, quyền và nghĩa vụ pháp lý của tổ chức đều là do con người hay pháp luật
sáng tạo ra. Theo đó, nội dung của ý chí, mục đích pháp lý, quyền và nghĩa vụ
của pháp nhân cũng bị giới hạn và được cố định theo thiết lập ban đầu của sự
sáng tạo trong pháp luật.[27] Vì thế nên, nó được đặc trưng bởi tính độc
lập tuyệt đối về ý chí, mục đích, tài sản và quyền tài sản của pháp nhân.[28]
Tiếp
theo là lý thuyết pháp nhân thực.
Lý thuyết này là mô hình của tư cách pháp nhân theo Luật Đức (tư cách pháp nhân
Đức), được xây dựng dựa trên nền tảng có sẵn của pháp luật Đức với quan điểm
“thống nhất trong đa dạng” và việc tiếp thu có điều chỉnh “sự trừu tượng hóa”
từ Luật La Mã.[29] Sự
khác biệt của tư cách pháp nhân Đức được khẳng định là không có đặc tính độc
lập tuyệt đối như pháp nhân của Luật La Mã và pháp nhân hư cấu mà thay vào đó
là đặc tính độc lập “có điều kiện và bị giới hạn” [30] (độc lập tương đối) do nhân
cách Đức (quyền và nghĩa vụ pháp lý của thể nhân) có khả năng phân chia và
chuyển giao cho tổ chức.[31]
Thêm vào đó, pháp nhân thực không phải là sự sáng tạo của pháp luật hay con
người mà là tổ chức được hình thành trong đời sống xã hội của con người và được
pháp luật thừa nhận. Điều này có nghĩa là, các tổ chức tồn tại như một hiện
tượng xã hội và pháp luật cần phải thừa nhận các tổ chức này như cái cách mà
pháp luật đã thừa nhận quyền và nghĩa vụ của thể nhân. Vì lẽ đó, nguồn gốc, ý
chí, mục đích, quyền và nghĩa vụ pháp lý của pháp nhân đều xuất phát từ con
người và phải thông qua con người chứ không phải là sự sáng tạo và hoạt động,
phát triển tự thân như pháp nhân hư cấu.[32]
Từ đó, có
thể thấy rằng, quan điểm pha trộn về tư cách pháp nhân CTCP được Việt Nam tiếp
thu vừa có sự độc lập tuyệt đối của pháp nhân hư cấu nhưng lại vừa có việc
chuyển giao quyền và nghĩa vụ của thể nhân cho pháp nhân cùng với mối quan hệ
giữa các thành viên thuộc lý luận của pháp nhân thực mặc dù hai quan điểm này
là trái ngược nhau.[33]
Như đã trình
bày bên trên, lý luận về tư cách pháp nhân CTCP tại Việt Nam được cho là có sự
chuyển đổi từ pháp nhân hư cấu sang pháp nhân thực. Lý giải cho sự thay đổi này
là do việc thừa nhận công ty hợp danh là pháp nhân. Bởi lẽ, công ty hợp danh
không phải là pháp nhân do pháp luật sáng tạo ra theo thiết lập ban đầu, mà dựa
trên hoạt động và sự tác động tới bên thứ ba của nó trên thực tế, pháp luật
buộc phải thừa nhận tư cách pháp nhân của nó.[34] Nói cách khác, công ty hợp
danh đóng vai trò là một kết quả kiểm chứng đối với lý luận về nguồn gốc của
pháp nhân. Theo đó, nó đã chứng minh cho tính đúng đắn của lý luận về nguồn gốc
pháp nhân thực và ngược lại, thể hiện sự sai lệch của lý luận về nguồn gốc pháp
nhân hư cấu. Nhận thức được sự không phù hợp của lý luận thuộc trường phái pháp
nhân hư cấu, các chuyên gia ủng hộ quan điểm của pháp nhân thực đã hoàn toàn
loại bỏ đặc tính độc lập tuyệt đối của pháp nhân, thể hiện qua việc không ghi
nhận các quan điểm phủ nhận ý chí, quyền của thành viên.[35] Thay vào đó, chỉ ghi nhận
sự độc lập của pháp nhân nhằm: (i)
phân biệt với tư cách chủ thể của các thành viên sáng lập; (ii) làm cơ sở xây dựng và giải thích quy định về tài sản pháp nhân
và trách nhiệm pháp lý của pháp nhân.[36] Điều này thể hiện sự phù
hợp với đặc tính độc lập tương đối của pháp nhân thực.
Tình
trạng này xảy ra là do sức ảnh hưởng mạnh mẽ của lý thuyết pháp nhân hư cấu.
Bởi lẽ, nó là nền tảng lý luận đầu tiên cho đặc tính độc lập của pháp nhân CTCP
và là tiền đề cho lý luận về trách nhiệm hữu hạn của pháp nhân. Ngay cả lý
thuyết pháp nhân thực cũng tiếp thu có điều chỉnh thuyết pháp nhân hư cấu để
hình thành sự thống nhất và đặc tính độc lập (có điều kiện và bị giới hạn) cho
pháp nhân Đức. Thế nên, không chỉ tại Việt Nam, ở Hoa kỳ vẫn có nhiều chuyên
gia ủng hộ quan điểm lý luận của lý thuyết pháp nhân hư cấu và cả lý thuyết
pháp nhân thực.[37] Vậy
nên, việc ghi nhận sự tồn tại song song cả hai lý thuyết là điều rất phổ biến
và dễ dàng tìm được ở nhiều tài liệu nghiên cứu khác nhau.
4 . Khái quát chung về lý
thuyết pháp nhân hư cấu
Thuyết pháp nhân hư cấu về tư cách pháp lý của tổ chức (bao
gồm CTCP) được trình bày một cách đầy đủ bởi tác giả Friedrich Carl von Savigny
trong tác phẩm “System des heutigen
Römischen Rechts” tập 2 vào năm 1840.[38] Tác giả Savigny được biết
đến là nhà lãnh đạo của trường phái triết học pháp luật lịch sử[39] và
là cha đẻ của lý thuyết “Volksgeist” (thuyết tinh thần dân tộc[40] hay
ý chí[41] dân
tộc)[42]
được trình bày trong tập 1 của tác phẩm trên. Theo Savigny, nguồn gốc của luật
pháp nằm ở “tinh thần dân tộc” mà cái “tinh thần dân tộc” này “không thể đồng
nhất với bất kỳ thực thể cụ thể nào, hoặc với các quyết định và hành động có ý
thức của những người cụ thể”[43].
Thậm chí, bản thân ông còn tự thừa nhận rằng, lý thuyết về nguồn gốc của luật
pháp này nằm ngoài khả năng kiểm chứng thực nghiệm và giống với thuyết khế ước
xã hội.[44] Từ
đó, pháp luật được gọi là “luật dân tộc” (“Volksrecht”). Thế nhưng, pháp luật
không được hình thành bởi ý chí cá nhân của các thành viên trong dân tộc, mà
theo đó, phải là “Volksgeist” – ý thức chung của dân tộc - sống và hoạt động
chung trong mỗi cá nhân, đã tạo ra pháp luật hiện hành.[45] Từ đó, hình thành quy luật
phát triển của pháp luật, mà theo đó, Savigny đã khẳng định rằng, pháp luật
phát triển hữu cơ trong đời sống dân tộc, và “sự phát triển này cũng tuân theo
cùng quy luật của sự hình thành từ sức mạnh và nhu cầu nội tại, độc lập với sự
ngẫu nhiên và ý chí cá nhân”.[46]
Điều này lý giải cho quan điểm pháp luật là chủ thể sáng tạo ra pháp nhân và
các đặc điểm của pháp nhân trong lý luận của pháp nhân hư cấu, bởi lẽ, pháp
luật của Savigny được cho là có ý chí riêng. Thế nên, có quan điểm cho rằng,
Savigny là luật gia theo trường phái duy tâm lịch sử, trong đó, lịch sử đạo đức
của một dân tộc là tiêu chí quyết định để xác định “tinh thần” của luật pháp
(spirit of the laws).[47]
Thật vậy, quan điểm về “tinh thần dân tộc” của Savigny hoàn toàn tương đồng với
định nghĩa và đặc điểm của chủ nghĩa duy tâm khách quan.[48] Trong đó, có “sự thần bí”
một cách rõ ràng, cụ thể là, pháp luật có ý chí riêng (“ý chí dân tộc”) tách
biệt ra khỏi các sự vật, hiện tượng cụ thể, con người cụ thể và có khả năng tự
phát triển.[49] Tại
đây, bằng một trong những quan điểm phê phán của Marx, có thể nhận thấy rằng,
sự tồn tại của pháp luật trong thực tiễn đời sống xã hội của con người không
được thể hiện (hay mô tả) như chính bản chất thực sự của nó mà lại được mô tả
một cách trừu tượng thành “tinh thần dân tộc” như trên.[50] Cụ thể hơn, cái gọi là tinh
thần dân tộc, nó là ý chí chung của thành viên trong cộng đồng và là thuộc tính[51] của
con người. Tuy nhiên, Savigny đã “đối tượng hóa” (objectified)[52]
thuộc tính này trở thành một chủ thể độc lập,[53] tách biệt khỏi chủ thể thực
sự ban đầu của nó là các thành viên cộng đồng và gọi nó là “tinh thần dân tộc”.
Nó có đặc tính phổ quát và có khả năng tự phát triển. Vậy nên, có thể khẳng
định rằng, “tinh thần dân tộc” của Savigny chính là một “thực thể huyền bí”
(the mystical substance).[54]
Đồng thời, qua lăng kính của Marx, có thể khẳng định rằng, pháp luật, với tư
cách là một hiện tượng thường thấy trong xã hội có giai cấp và có khả năng kiểm
chứng được, sẽ “không có ý chí riêng” hay có khả năng “phát triển từ chính nó”.[55] Thế
nên, về bản chất, thuyết pháp nhân hư cấu của Savigny là sản phẩm được hình
thành từ nền tảng của trường phái triết học duy tâm lịch sử.
Sự hình
thành pháp nhân hư cấu của Savigny chịu ảnh hưởng lớn và có nguồn gốc từ pháp
nhân của Luật La Mã.[56]
Theo Savigny và Luật La Mã, chỉ có cá nhân con người mới có năng lực pháp lý.[57] Vậy
nên, tư cách pháp nhân đồng nghĩa với nhân cách – “Persönlichkeit”, mà theo đó,
tư cách pháp nhân của các hiệp hội (bao gồm công ty) là kết quả của việc “nhân
cách hóa” (“Personificirung”) các tổ chức. Cách thức xây dựng này được chấp
nhận một cách rộng rãi. Từ đó, tư cách pháp nhân của các tổ chức xuất hiện
trong pháp luật như một giả định nhân tạo hay một hư cấu pháp lý[58] và
được gọi là “con người pháp lý” – “pháp nhân” (“juristische person”).[59]
Nguyên nhân là vì tổ chức không thể tự có được năng lực pháp lý và cũng không
thể nhận sự chuyển giao năng lực pháp lý từ các thành viên. Bởi lẽ, những thành
viên này được cho là không có “mối liên hệ nội tại với nó”.[60] Từ đó, các đặc điểm thiết
yếu của tư cách pháp nhân La Mã cũng chính là nền tảng của pháp nhân hư cấu và
có thể được kể đến như sau:[61]
Thứ
nhất, bản chất tư cách pháp nhân La Mã là
ý chí cá nhân được luật pháp công nhận, là một quyền lực ý chí không giới hạn
trong phạm vi luật tư. Từ đó, nhân cách La Mã (römische Persönlichkeit) là
tuyệt đối. Theo đó, “một ý chí bị lệ thuộc vào ý chí của người khác sẽ không
còn là ý chí nữa”[62].
Thứ
hai, tư cách pháp nhân La Mã không thể
bị phân chia. Nó không thể tách rời bất kì phần nào của bản thân mình mà không
tự hủy hoại, do đó, nó cũng không thể là một phần hay một bộ phận của một tư
cách pháp nhân khác.
Thứ ba,
tư cách pháp nhân La Mã không có khả năng chuyển nhượng.
Các đặc điểm
trên đã góp phần hình thành pháp nhân hư cấu của Savigny, theo đó, pháp nhân
được định nghĩa như sau: “pháp nhân […] không phải là một thực thể có thật
trong tự nhiên, mà là một chủ thể mang ý chí được pháp luật thừa nhận.”[63]
Ngoài các đặc trưng nêu trên thì pháp nhân của Savigny còn bao gồm những vấn đề
cụ thể như sau:
Về năng lực pháp lý, tổ chức có năng lực pháp lý độc lập do nó là một chủ thể
nhân tạo được công nhận thông qua sự “nhân cách hóa” của pháp luật. Vì lẽ đó,
nó chỉ được thừa nhận sự tồn tại cho các mục đích pháp lý nhất định.[64] Bên
cạnh đó, pháp luật quy định rõ các trường hợp cần thiết tham gia vào các giao
dịch tài sản; bao gồm cả khả năng ký kết hợp đồng, chuyển giao quyền sở hữu
v.v.[65]
Đồng thời, nó có năng lực tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn và bị đơn.[66]
Về nguồn gốc của pháp nhân, Savigny cho rằng, một số pháp nhân là một sự tồn tại tự
nhiên hoặc cần thiết, trong khi những pháp nhân khác lại là sản phẩm nhân tạo
hoặc mang tính tự nguyện. Trong đó, bao gồm các cộng đồng xã hội (pháp nhân
công quyền) và các hiệp hội, công ty, là những pháp nhân được trao các quyền
nhất định.[67] Thế
nên, thuyết pháp nhân hư cấu của Savigny cũng là một phần trong lịch sử của lý
thuyết nhượng quyền (concession theory).[68] Từ thời La Mã cổ đại đã có
các hội đoàn thuộc nhiều loại khác nhau, đặc biệt là, các hội đoàn tôn giáo và
nghề nghiệp. Tuy nhiên, tại thời điểm này, vẫn chưa xuất hiện nhu cầu cấp thiết
về việc cần phải phát triển khái niệm về pháp nhân.[69] Khi lãnh thổ nhà nước được
mở rộng, đã làm phát sinh khái niệm về pháp nhân. Bởi lẽ, nhu cầu cấp thiết tại
thời điểm đó là việc hình thành vị trí pháp lý cho các thuộc địa vì nó có các
nhu cầu về tài sản và khả năng sở hữu tài sản, kéo theo đó là việc tham gia các
quan hệ xã hội khiến nó có khả năng bị kiện ra tòa. Từ đó, khái niệm pháp nhân
được vận dụng và có một sự phát triển nhất định. Sau các thuộc địa, hội nhóm
của các thầy tư tế và thợ thủ công cũng bắt đầu được coi là pháp nhân.[70]
Về tài sản,
theo Savigny, bản chất của pháp nhân được đặc trưng bằng “năng lực sở hữu tài
sản”.[71]
Trong đó, tài sản có khả năng tự mở rộng và hoạt động tự do bằng pháp nhân.[72]
Về ý chí,
Savigny đã khẳng định rằng, các quyền về tài sản của pháp nhân không tự phát
sinh mà chỉ hình thành thông qua các hành vi pháp lý. Tuy nhiên, các hành vi
pháp lý chỉ có thể được thực hiện bởi những cá thể có nhận thức và có ý chí,
tức là con người cụ thể.[73] Ở
đây xuất hiện mâu thuẫn nội tại của một chủ thể có năng lực tài sản nhưng không
thể tự mình đáp ứng các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền đó.[74]
Savigny đã đưa ra một ví dụ để minh họa và nỗ lực thuyết phục rằng, có sự tách
biệt hoàn toàn giữa ý chí của pháp nhân với ý chí của các thành viên. Bằng ví
dụ về mối quan hệ giữa trẻ vị thành niên hay người mất năng lực hành vi với
người giám hộ, Savigny đã khẳng định rằng, tổng thể các thành viên của pháp
nhân hoàn toàn khác biệt với bản thân pháp nhân. Đồng thời, sự đại diện của
pháp nhân nằm ở quyền lực được thiết lập một cách nhân tạo cho một cộng đồng có
tổ chức, chứ không phải ở các thành viên hiện tại.[75] Nói cách khác, Savigny cho
rằng, ý chí và hành động của pháp nhân được định hình dựa trên nội dung quyền
và nghĩa vụ pháp lý được thiết lập sẵn trước đó nhằm mục đích pháp lý nhất định
chứ không dựa trên ý chí của thành viên.
Bên cạnh đó,
Savigny thể hiện rõ quan điểm không đồng tình với quan điểm ý chí đa số (đa số
phiếu) trong Luật La Mã đối với hội đoàn.[76] Theo Savigny, nguyên tắc cơ
bản là toàn thể các thành viên tạo thành một thể thống nhất thực sự. Trên cơ sở
đó, đa số chỉ là một biến thể tự nhiên cần thiết. Nếu tách rời khỏi tính toàn
thể đó, thì chỉ nên thừa nhận quan điểm của đa số trong trường hợp phần lớn các
thành viên cùng tham dự, thì ý chí của cuộc họp đó mới mang ý nghĩa quyết định
về mặt pháp lý.[77] Vì
lẽ đó, Savigny ủng hộ sự bình đẳng tuyệt đối giữa các thành viên.[78]
Tóm lại, về ý chí pháp nhân của Savigny, có ba ý chính: một là, pháp nhân có ý chí độc lập tuyệt
đối của riêng mình; hai là, nó bị
ràng buộc bởi thiết lập nhân tạo ban đầu nên không bị chi phối bởi ý chí tự do
của thành viên; ba là, trong phạm vi
ý chí pháp nhân đó, sự quyết định của các thành viên phải là một thể thống nhất
thực sự. Từ đó, thành viên có thể thay đổi liên tục mà không ảnh hưởng đến bản
chất hoặc sự thống nhất của hội đoàn.[79] Điều này cũng chính là sự
lý giải cho quan điểm của Savigny rằng: “bản thân hội đoàn là một sự tồn tại
liên tục, bất tận, bất kể sự thay đổi của các cá nhân”[80].
Về
cơ cấu tổ chức của pháp nhân,
Savigny phản đối quan điểm không xem trọng các cơ quan hoặc chỉ xem các cơ quan
như những công cụ phụ thuộc của bộ máy hành chính.[81] Savigny đưa ra dẫn chứng là
các Hội đồng thành phố ở Đức. Theo đó, các Hội đồng đóng vai trò là các cơ quan
đại diện cho công dân. Vậy nên, toàn quyền thực tế không nằm ở tất cả các thành
viên là công dân mà chỉ ở các thành viên trong Hội đồng.[82] Vì thế, các cơ quan mới là
nơi chứa đựng quyền lực thực sự. Từ đó, Savigny khẳng định rằng, quan điểm toàn
thể thành viên là chủ thể duy nhất có toàn quyền là quan điểm sai lầm.[83]
5 . Thuyết pháp nhân hư
cấu của Savigny trong tương quan với triết học Marx - Engels và thực tiễn công
ty cổ phần tại Việt Nam
Mặc dù
Savigny cho rằng, có một số pháp nhân tồn tại do nhu cầu thực tiễn và một số là
tự nhiên hay nhân tạo mà có, thế nhưng, đến cuối cùng, Savigny thường xuyên
khẳng định rằng, nguồn gốc và tất cả mọi đặc điểm thuộc về pháp nhân đều bắt
đầu từ sự sáng tạo của pháp luật (giả định hư cấu). Quan điểm này cũng đã được
Việt Nam tiếp thu. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận một điều rằng, việc xác định
nguồn gốc pháp nhân mang ý nghĩa rất quan trọng: đầu tiên, nó mang lại khả năng lý giải nhu cầu xác lập quyền sở hữu
của thành viên (một cách gián tiếp) đối với khoản đóng góp của họ trong pháp
nhân; kế đến, nó mang lại khả năng lý
giải đối với nguồn gốc của mục đích pháp lý, quyền và nghĩa vụ pháp lý của pháp
nhân; cuối cùng, nó đóng vai trò là
điểm khởi nguồn để xác định quy luật phát triển của hiện tượng xã hội là pháp
nhân. Đối với pháp nhân hư cấu, nguồn gốc pháp nhân mà Savigny sử dụng để mô tả
chi tiết đến từ hội đoàn tôn giáo. Theo đó, nguồn gốc pháp nhân của hội đoàn
tôn giáo được trình bày rằng, do nhu cầu sở hữu tài sản dẫn đến hình thành các
quỹ do nhà thờ lập ra được hiến cúng từ các tín đồ và sử dụng nhằm mục đích
phụng sự thần linh.[84] Qua
đó, lập luận này trở thành căn cứ hình thành quyền sở hữu tài sản độc lập một
cách tuyệt đối cho pháp nhân và không thừa nhận quyền sở hữu (dù là gián tiếp)
của thành viên. Bởi lẽ, bản thân người hiến cúng không có nhu cầu xác lập quyền
cũng như chi phối đối với quỹ và cũng không có mục đích, động cơ lợi nhuận để
cần thiết phải xác lập quyền đối với phần tài sản mà họ đóng góp. Từ đó, tài
sản pháp nhân không phải chịu sự giám sát, chi phối bởi cá nhân như CTCP mà chỉ
bị quản lý, chi phối bởi ý chí của linh mục. Khác với CTCP, khi các cá nhân
cùng nhau đầu tư kinh doanh dưới một hình thức chung là pháp nhân CTCP hiện đại
vì mục đích lợi nhuận, họ có nhu cầu xác lập quyền sở hữu dù là gián tiếp với
khoản đầu tư của họ trong pháp nhân. Thậm chí, họ còn có nhu cầu giám sát và
chi phối việc sử dụng khoản đầu tư đó. Vậy nên, có thể nói rằng, lập luận về
nguồn gốc pháp nhân này không phù hợp với pháp nhân là CTCP.
Nguyên nhân
sâu xa của vấn đề này đến từ việc quan điểm của các nhà duy tâm, cụ thể trong trường
hợp này là Savigny, thường không thừa nhận nguồn gốc hình thành nên “nhu cầu
thực tiễn” hay động lực sáng tạo của con người. Theo quan điểm của Marx và
Engels, “động lực thúc đẩy con người hoạt động trong tiến trình lịch sử là nhu
cầu và lợi ích, trước hết là nhu cầu vật chất”.[85] Theo đó, nhu cầu thực tiễn
và động lực sáng tạo của con người được tạo thành bởi hai khía cạnh: thứ nhất là, điều kiện vật chất khách
quan, độc lập với ý thức của con người (biện chứng khách quan); thứ hai là, sự phản ánh của các điều
kiện vật chất đó vào bộ não của con người (biện chứng chủ quan).[86]
Điều đó có nghĩa là, Savigny không thừa nhận tầm quan trọng của điều kiện vật
chất khách quan và sự phản ánh của nó lên não bộ con người trong việc hình
thành nhu cầu, sự sáng tạo của con người mà chỉ thừa nhận, “nhu cầu” và sự sáng
tạo này là sản phẩm của ý thức người, xuất phát từ con người, mà từ đó, tạo nên
thế giới vật chất. Điều đó dẫn đến việc lý luận về pháp nhân này không có khả
năng biến đổi linh hoạt với thực tiễn đa dạng. Vì nếu nó gắn liền với nhu cầu
thực tiễn khách quan hình thành nên tổ chức được thừa nhận là pháp nhân, thì
pháp nhân cũng sẽ có khả năng biến đổi linh hoạt bởi chính nhu cầu, động lực
thực tiễn đó. Ví dụ như, nhu cầu xác lập hoặc không xác lập quyền sở hữu (một
cách gián tiếp) đối với phần tài sản đã đóng góp vào pháp nhân của thành viên.
Bên cạnh đó, nếu được gắn liền với điều kiện hình thành khách quan, nó còn mang
lại khả năng lý giải cho: (i) mục
đích pháp lý, quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau của các loại pháp nhân khác
nhau và (ii) sự biến đổi của mục
đích, quyền và nghĩa vụ pháp lý linh hoạt theo điều kiện, nhu cầu của thực tiễn
qua các thời kỳ phát triển.
Ngoài ra, đối với CTCP (“stock companies”), theo quan điểm
của Marx, nó được hình thành vì “sự mở rộng to lớn về quy mô sản xuất và doanh
nghiệp, điều mà các tư bản cá thể không thể nào thực hiện được”[87].
Nói cách khác, sự hình thành CTCP xuất phát từ nhu cầu vật chất của các tư bản
cá thể, mà theo đó, là nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Từ đó, có
thể thấy rằng, mục đích – nội dung của ý chí, quyền và nghĩa vụ pháp lý của
pháp nhân được cho là do pháp luật sáng tạo ra là quan điểm duy tâm vì nó không
gắn sự hình thành các yếu tố này với các điều kiện của thực tiễn xã hội. Việc
thừa nhận sự sáng tạo của pháp luật đối với các đặc điểm của pháp nhân khiến
cho pháp nhân có khả năng tồn tại liên tục, bất tận ngay từ nguồn gốc hình
thành chứ không cần phải chờ đến các luận điểm tiếp theo về sự độc lập tuyệt
đối của ý chí, tổ chức và tài sản pháp nhân.[88] Có thể thấy rằng, đây là
một quan điểm sai lầm. Bởi lẽ nếu sự tồn tại của pháp nhân (bao gồm các đặc
điểm của nó) được gắn với nhu cầu thực tiễn và các điều kiện khách quan hình
thành nên nó, thì nó sẽ tiêu vong khi điều kiện đó không còn. Chẳng hạn, Nhà
nước của chủ nghĩa cộng sản không phải là phạm trù bất tử. Nhà nước sẽ tiêu
vong khi điều kiện hình thành nhà nước không còn.[89] Vậy nên, rõ ràng rằng, lý
luận về pháp nhân hư cấu mâu thuẫn với Nhà nước và các cơ quan nhà nước tại
Việt Nam. Mặc dù BLDS 2015 không xem Nhà nước là pháp nhân nhưng trong danh
sách pháp nhân phi thương mại vẫn có cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân
dân, tổ chức chính trị (Điều 76 Luật này). Tương tự như vậy, CTCP là một mô
hình của tư bản xã hội.[90]
Chính xác hơn, Marx nhìn nhận, đây là một mô hình thể hiện bước quá độ
(“transitional phase”), chuyển hóa từ tư bản cá thể thành tư bản xã hội.[91] Vì
vậy, sự phát triển của nó có hai khả năng: một
là, tiêu vong; hai là, chuyển hóa
thành một loại hình mới khi xã hội đạt đến trình độ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Dù là khả năng nào, nó cũng không thể tồn tại như nguyên bản của nó hiện nay.
Thế nên, tổ chức là pháp nhân thương mại như CTCP hoàn toàn không có khả năng
bất tử. Nói cách khác, việc thừa nhận lý luận về nguồn gốc tư cách pháp nhân
theo quan điểm của Savigny là đi ngược lại với định hướng tiến lên xã hội chủ
nghĩa của Việt Nam vì nó phủ nhận sự tiêu vong hoặc chuyển đổi theo điều kiện
kinh tế của tất cả các tổ chức được thừa nhận là pháp nhân. Từ đó, có thể thấy
rằng, lý luận về nguồn gốc của thuyết pháp nhân hư cấu không phù hợp với quan
điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử và thực tiễn khách quan. Thêm vào đó, lý luận này về pháp nhân cũng không mang lại khả năng
giải quyết các vấn đề liên quan đến nguồn gốc (điều kiện) hình thành pháp nhân,
ví dụ như, khởi nguồn của CTCP để giải quyết các mối quan hệ giữa thành viên và
công ty. Đồng thời, không thể quan sát được quy luật phát triển của pháp nhân
vì nó không có điểm khởi nguồn từ đời sống thực tiễn và vì vậy, cũng không có
điểm kết thúc. Bằng quan điểm của chủ nghĩa Marx-Engels, có thể khẳng định
rằng, những hiện tượng xã hội thường thấy như pháp nhân phải là sản phẩm của sự
giao tiếp trước đó (the preceeding intercourse) của cá nhân con người.[92] Vậy
nên, pháp nhân không phải là tổ chức được hình thành tự nhiên hoặc chỉ đơn
thuần là sự sáng tạo của con người hay pháp luật mà chỉ có thể tồn tại tổ chức
là pháp nhân do nhu cầu thực tiễn của con người tạo thành. Trong đó, nhu cầu
của con người được hình thành từ sự tác động của điều kiện vật chất thuộc thế
giới khách quan.
Liên quan đến ý chí của pháp nhân, như đã trình bày bên trên, theo Savigny và Luật La Mã, ý
chí pháp nhân là một loại ý chí độc lập tuyệt đối, tách biệt khỏi ý chí của
thành viên, mà theo đó, phủ nhận ý chí của thành viên. Bản thân Savigny cũng
thừa nhận việc các quyền về tài sản của pháp nhân không thể tự phát sinh mà chỉ
có thể hình thành thông qua các hành vi pháp lý, được thực hiện bởi những cá
thể có nhận thức và có ý chí, là con người cụ thể.[93] Vậy, tại sao Savigny lại
phủ nhận ý chí của các thành viên? Vấn đề này được Savigny giải thích rằng, bản
chất các tập đoàn (“corporationen”) là chủ thể của quyền, mà theo đó, quyền này
sẽ không nằm ở các thành viên riêng lẻ (hoặc thậm chí ở các thành viên cộng
lại), mà nằm ở cái “toàn thể lý tưởng” (“Idealen Ganzen”).[94] Thoạt nhìn, nó có vẻ hợp lý
vì quyền của pháp nhân được phân biệt rõ ràng với thành viên. Tuy nhiên, vấn đề
nằm ở chỗ, sự phân biệt này ở pháp nhân hư cấu bị “tuyệt đối hóa”. Theo đó, tập
hợp các cá nhân riêng lẻ được cho là tách biệt và khác hoàn toàn với cái gọi là
“toàn thể” hay “cộng đồng”[95] và
giữa các thành viên với toàn thể không có bất kì mối quan hệ nào với nhau. Từ
đó, tạo thành ý chí và quyền lực độc lập tuyệt đối của pháp nhân.
Quan điểm
này hoàn toàn không phù hợp với nền tảng triết học Marx - Engels. Nguyên nhân
là vì nó chính là sự thể hiện rõ nét của “chủ nghĩa thần bí”. Cụ thể, ý chí
pháp nhân – ý chí “toàn thể”, về bản chất, chính là ý chí chung của các thành
viên, mà theo đó, ý chí hay chính xác hơn là ý thức từ lâu đã được chủ nghĩa
Marx – Lenin khẳng định rằng:
Ý thức chỉ là thuộc tính của vật chất, nhưng không phải mọi
dạng vật chất, mà là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất
là bộ óc người. […] [Ý] thức không thể tách rời bộ óc. Tất cả những quan niệm
tách rời hoặc đồng nhất ý thức với óc người đều dẫn đến quan điểm duy tâm, thần
bí hoặc duy vật tầm thường.[96]
Vậy nên, cái ý chí chung này vốn dĩ chỉ đơn
thuần là “thuộc tính” của các thành viên. Thế nhưng, các nhà duy tâm lại “đối
tượng hóa” cái ý chí chung này trở thành cái gọi là ý chí “toàn thể” và tách
biệt nó ra khỏi chủ thể thực sự của nó - chính là các thành viên. Từ đó, ý chí
“toàn thể” được biến thành chủ thể thực sự và được cho là độc lập tuyệt đối –
đặc tính vốn chỉ có ở chủ thể thực sự của nó là các thành viên. Hệ quả khi ý
chí “toàn thể” trở thành chủ thể là nó biến chủ thể thực sự ban đầu – các thành
viên, thành một yếu tố cấu thành của ý chí “toàn thể”. Đồng thời, nó cần có cái
chứa đựng nó (a bearer) và đó chính là “pháp nhân”.[97] Tại đây, có thể thấy rằng,
ý chí độc lập tuyệt đối của pháp nhân chính là một “thực thể huyền bí”. Ngay cả
bản thân Savigny cũng gọi pháp nhân là “thực thể lý tưởng” (“Ideale Wesen”).[98]
Điều này chứng thực cho quan điểm, pháp nhân trong khái niệm của Savigny là vật
chứa cho “thực thể huyền bí”. Đây cũng là câu trả lời cho câu hỏi vì sao ý chí
của pháp nhân có nguồn gốc xuất phát từ ý chí của thành viên nhưng cuối cùng
lại phủ nhận ý chí của các thành viên. Theo ngôn ngữ của Marx, thì đây là sự
biểu hiện của việc “không có một cây cầu nào” từ ý chí pháp nhân (một loại ý
chí phổ quát) sang ý chí cụ thể của thành viên.[99] Marx đã khẳng định rằng,
đây là đặc điểm của “bản sắc bị chia cắt” và gọi nó là “sự tha hóa trong thống
nhất” của triết học Hegel (đại biểu trường phái duy tâm).[100] Từ đó, có thể thấy rằng,
khi tiếp thu thuyết pháp nhân hư cấu, Việt Nam đã vô tình tiếp thu quan điểm
pháp nhân là tập hợp thống nhất không phải là các thành viên riêng lẻ cộng lại
và tách biệt với các thành viên, mà không nhận ra rằng, đằng sau đó là sự ẩn
tàng của chủ nghĩa duy tâm để tạo thành ý chí độc lập tuyệt đối cho pháp nhân
nhằm phủ nhận ý chí của thành viên để đạt được sự độc lập tuyệt đối cho pháp
nhân về quyền tài sản.
Qua đó, có
thể thấy rằng, cái ý chí “toàn thể” này được tạo thành giống như “tinh thần dân
tộc” của Savigny. Vậy nên, hoàn toàn có thể khẳng định rằng, lý thuyết về pháp
nhân hư cấu là sản phẩm của triết học duy tâm lịch sử và Savigny là một nhà duy
tâm lịch sử. Savigny đã xây dựng pháp nhân thành một thực thể siêu hình (a
metaphysical construct) và điển hình là Nhà nước.[101] Vậy nên, nếu nhà nước của
chủ nghĩa duy tâm là sự che đậy cho ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị (giai
cấp tư sản)[102],
trá hình thành ý chí phổ quát của toàn thể công dân thì pháp nhân của chủ nghĩa
duy tâm chính là sự che đậy cho ý chí, lợi ích nhóm, được trá hình thành ý chí
độc lập của pháp nhân – ý chí “toàn thể”. Vấn đề này đối với Nhà nước, từ lâu,
đã được các nhà duy vật chứng minh là sai lầm. Nó hoàn toàn mâu thuẫn với nội
dung cốt lõi – bản chất nhà nước của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Nhà nước của trường phái duy vật không phải là nhà nước của “ý chí phổ
quát”, mà là Nhà nước có giai cấp, có tính đảng. Vậy nên, cùng với sự không phù
hợp của lý luận về nguồn gốc pháp nhân bên trên, có thể khẳng định rằng, lý
luận về tư cách pháp nhân của thuyết pháp nhân hư cấu không phù hợp để trở
thành lý luận chủ đạo của pháp nhân phi thương mại như Nhà nước[103] và
các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Bên cạnh đó, đối với CTCP, trong các công trình nghiên cứu về CTCP của các
quốc gia và tổ chức quốc tế, đều thừa nhận sự tồn tại của khái niệm gọi là cổ
đông kiểm soát và các vấn đề liên quan đến xung đột lợi ích giữa các nhóm cổ
đông. Sự thừa nhận cái ý chí độc lập này của pháp nhân sẽ phủ nhận cái gọi là
cổ đông kiểm soát và xung đột lợi ích bên trong CTCP. Vậy nên, Savigny đã nỗ
lực trong việc triệt tiêu lợi ích nhóm bằng cách thể hiện sự không đồng tình
với phương thức đa số biểu quyết của Luật La Mã. Thế nhưng, việc làm này là
không thực tế vì phương án đa số biểu quyết từ lâu đã được các quốc gia công
nhận rộng rãi bởi nhiều yếu tố khách quan, đặc biệt là CTCP với số lượng lớn cổ
đông. Thậm chí, phương thức này còn được áp dụng trong cơ quan nhà nước.[104]
Lập luận về
ý chí độc lập của pháp nhân là luận điểm cốt lõi trong tư cách pháp nhân của
Savigny. Vì đối với các quan điểm duy tâm, ý thức là cái có trước, quyết định
vật chất.[105]
Vậy nên, Savigny mới nỗ lực để khẳng định ý chí pháp nhân và ý chí thành viên
tách biệt nhau. Qua đó, các quyền về tài sản của pháp nhân được thực hiện bởi ý
chí độc lập của pháp nhân chứ không phải ý chí của thành viên. Tuy nhiên, theo
lập trường duy vật, đây là quan điểm sai lầm.[106] Vì thế nên, cần phải mô tả
về pháp nhân như đúng bản chất thật của nó. Pháp nhân, với tư cách là một hiện
tượng thường thấy trong đời sống thực tiễn của con người, sẽ không có ý chí
riêng hay có khả năng tự phát triển.[107] Thế nên, cũng sẽ không có
cái gọi là ý chí “toàn thể” – ý chí độc lập của pháp nhân mà chỉ tồn tại ý chí
chung của các thành viên - ý chí đa số của các thành viên. Nói cách khác, việc
quan sát và mô tả sự tồn tại của pháp nhân phải xuất phát từ chủ thể thực sự
của nó là các thành viên. Theo đó, quan điểm này phù hợp với quan điểm của chủ
nghĩa cộng sản về việc mô tả sự tồn tại của các hiện tượng xã hội. Cụ thể là,
chủ nghĩa cộng sản đã tạo dựng một “nền tảng đích thực để khiến cho bất cứ điều
gì cũng không thể tồn tại độc lập với các cá nhân”.[108] Từ đó, các quyền về tài
sản của pháp nhân hoàn toàn bị chi phối bởi ý chí của (đa số) thành viên. Thế
nên, quan điểm pháp nhân có quyền sử dụng, định đoạt, chiếm hữu bởi ý chí riêng
của nó không phụ thuộc vào ý chí thành viên, hiện đang được tiếp thu tại Việt
Nam, là quan điểm duy tâm và sai lầm. Vì việc thực hiện các quyền về tài sản
của pháp nhân như quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, phải chịu sự chi phối
bởi ý chí của (đa số) các thành viên chứ không phải bởi ý chí riêng của pháp
nhân. Từ đó, lập luận phủ nhận tư cách chủ sở hữu của thành viên cũng là quan
điểm sai lầm. Chẳng hạn như, đối với CTCP, Marx gọi các cổ đông là “nhà tư
bản-tiền tệ đơn thuần”[109] và
tài sản của CTCP là “tài sản của những người sản xuất liên kết với nhau” [110] (tiền đề cho tài sản xã hội). Thế nên, lập luận cho sự độc
lập về mặt tài sản của pháp nhân chỉ nên dừng lại ở chỗ là: (i) cơ sở cho sự bảo vệ của Nhà nước đối
với các mối quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động của pháp nhân (bảo đảm khả
năng thực hiện nghĩa vụ tài sản), thông qua các quy định ràng buộc như quy định
về việc thừa nhận pháp nhân (đăng ký thành lập) và quy định giám sát; (ii) tiền đề của trách nhiệm hữu hạn.
Ngoài ra, như đã trình bày bên trên, thuyết pháp nhân hư cấu
của Savigny chỉ thừa nhận quyền của pháp nhân, không thừa nhận mối quan hệ giữa
quyền, ý chí của pháp nhân với các thành viên riêng lẻ.[111] Nguyên nhân là do việc
hình thành pháp nhân theo luật La Mã và Savigny là một sự mô phỏng của cá nhân
con người, theo đó, thành viên không có mối quan hệ liên kết bên trong với pháp
nhân. Vậy nên, nó không giải quyết mối quan hệ giữa các thành viên với nhau và
giữa thành viên với pháp nhân. Từ đó, phủ nhận mối quan hệ giữa các thành viên
là mối quan hệ hợp đồng vì pháp nhân không được bắt đầu dựa trên hành vi của
các thành viên mà là dựa trên sự thừa nhận của pháp luật.[112] Nhận định này có nghĩa là,
tồn tại sự khác biệt rõ nét trong con đường hình thành nên việc thực hiện quyền
(phương thức tồn tại) của pháp nhân. Với nguồn gốc, ý chí và các quyền tài sản
của pháp nhân như đã trình bày bên trên, con đường thực hiện quyền do pháp nhân
hư cấu tạo ra phải bắt đầu sự sáng tạo của pháp luật bao gồm mục đích pháp lý,
quyền và nghĩa vụ pháp lý được thiết lập sẵn trong luật. Các yếu tố này định
hình ràng buộc nội dung của ý chí pháp nhân và được khẳng định là khác biệt với
“ý chí tổng thể các thành viên của pháp nhân”. Từ đó, quyền của pháp nhân được
thực hiện bởi ý chí của pháp nhân, độc lập, tách biệt với ý chí tổng thể của
các thành viên. Các thành viên chỉ là người thực hiện quyền thay cho pháp nhân
vì nó không thể tự mình thực hiện được. Vậy nên, có thể thấy rằng, con đường
thực hiện quyền của pháp nhân hư cấu là đi từ trên xuống – từ pháp luật đến đời
sống hiện thực. Ngược lại, con đường thực hiện quyền bằng mối quan hệ hợp đồng
giữa các thành viên là con đường đi từ việc tự do thỏa thuận, tự do định đoạt
trong khuôn khổ pháp luật của các thành viên đến đạt được ý chí thống nhất để
thực hiện quyền. Nói cách khác, quyền của pháp nhân được thực hiện bằng ý chí
thống nhất của các thành viên dựa trên cơ sở tự do thỏa thuận trong khuôn khổ
pháp luật. Đây là con đường đi từ dưới lên – từ các thành viên đến đời sống
hiện thực. Vấn đề này đã được Marx đề cập từ lâu và là vấn đề của triết học duy
tâm Đức. Bằng phép ẩn dụ, Marx chỉ ra rằng, sản phẩm của trường phái duy tâm đi
theo con đường “từ trên trời xuống đất” và của triết học duy vật là “từ đất lên
trời”.[113]
Theo đó, con đường đúng đắn cho việc mô tả sự tồn tại của sự vật, hiện tượng
“không xuất phát từ những gì con người nói, sáng tạo, được tưởng tượng, được
quan niệm, để đạt đến con người bằng xương bằng thịt” mà phải “xuất phát từ
những con người thực tế, năng động, và trên cơ sở quá trình sống thực tế của
họ”.[114]
Vậy nên, nguồn gốc của việc phủ nhận mối quan hệ giữa các thành viên – mối quan
hệ hợp đồng là vấn đề của quan điểm duy tâm. Qua đó, khẳng định con đường đường
đúng đắn cho việc thực hiện quyền của pháp nhân là phải đi từ các thành viên –
đi từ dưới lên.
Thêm vào đó,
một trong những quan điểm về tài sản pháp nhân của Savigny là, “các tổ chức
phải hoàn toàn tránh mọi thay đổi đáng kể về tài sản của mình”.[115]
Quan điểm này không phù hợp để áp dụng cho CTCP vì CTCP là loại tổ chức không
thể tránh khỏi việc thay đổi thường xuyên về mặt tài sản cũng như mua bán, sáp
nhập tổ chức thậm chí là phá sản, giải thể. Vậy nên, quan điểm của Savigny cho
rằng, pháp nhân tồn tại liên tục, bất tận vì có ý chí và tài sản độc lập không
phụ thuộc vào sự thay đổi thành viên cũng là quan điểm sai lầm, không phù hợp
với thực tiễn của CTCP.
Bên cạnh đó,
vì quá đề cao sự độc lập của pháp nhân nên Savigny cho rằng, các cơ quan đại
diện mới là nơi nắm giữ quyền lực thực sự. Quan điểm của Savigny về cơ quan của
pháp nhân cũng không phù hợp với Việt Nam. Nếu các Hội đồng thành phố với vai
trò là cơ quan đại diện là nơi có quyền lực thực sự thì tại Việt Nam, chưa bao
giờ thừa nhận rằng, quyền lực nhà nước thuộc về cơ quan đại diện (khoản 2 Điều
2 Hiến pháp 2013). Theo đó, việc hình thành các cơ quan chỉ nhằm mục đích thực
hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Vậy nên, khi trình độ sản xuất thay
đổi (công nghệ kỹ thuật) thì bộ máy các cơ quan nhà nước cũng có sự thay đổi
nhất định như tinh giản bộ máy, bãi bỏ nhiều cơ quan. Tương tự như vậy, các cơ
quan của CTCP cũng chỉ là phương tiện nhằm thực hiện các nhiệm vụ nhất định chứ
không tồn tại như các cơ quan hữu cơ của một con người thật sự. Thực tiễn CTCP
cho thấy rằng, ngoài hai cơ quan cốt lõi phát sinh do sự tách bạch quyền sở hữu
và quản lý một cách phổ biến, thì CTCP còn có thể có các loại cơ quan khác linh
hoạt tùy theo nhu cầu, lĩnh vực kinh doanh. Vì thế, quan điểm về cơ cấu tổ chức
của pháp nhân của Savigny không phù hợp với cả cơ quan nhà nước và CTCP. Đồng
thời, khẳng định quan điểm cho rằng, các thành viên là chủ thể duy nhất có toàn
quyền. Vì lẽ đó, quan điểm được Việt Nam tiếp thu cho rằng, pháp nhân có khả
năng hoạt động độc lập, không lệ thuộc về mặt tổ chức đối với thành viên là
quan điểm không chính xác. Bởi lẽ, sự độc lập của các cơ quan chỉ nằm ở mức
tương đối và sự tồn tại của các cơ quan bắt buộc là nhằm mục đích nhất định chứ
không phải để biện minh cho cái gọi là “sự độc lập tuyệt đối” của pháp nhân. Ví
dụ như, sự phân định rạch ròi giữa Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị
trong CTCP trước hết là việc thừa nhận sự phổ biến của hai cơ quan này trong
thực tiễn khách quan và chủ yếu là nhằm mục đích bảo vệ các quan hệ xã hội phát
sinh trong hoạt động của công ty chứ không phải nhằm mục đích chứng minh cho
việc các cơ quan này độc lập với thành viên.
Tóm lại, có
thể thấy rằng, trong lý thuyết pháp nhân hư cấu, sự tồn tại trên thực tế của
pháp nhân không được thể hiện (mô tả) như chính nó mà lại được mô tả như một
thực thể có sự sống nhờ vào ý chí riêng và tài sản riêng, cơ cấu độc lập tuyệt
đối như một con người hoàn chỉnh.[116]
Không khó để
nhận ra rằng, pháp nhân của Savigny có tính logic hệ thống rõ ràng.[117]
Bắt nguồn từ lập luận về việc chỉ thừa nhận con người (công dân) là chủ thể có
tư cách pháp lý duy nhất và cho rằng, pháp luật có ý chí riêng, dẫn đến cách
tiếp cận và tư duy rằng, pháp nhân là do pháp luật sáng tạo ra. Trong đó, pháp
nhân là sản phẩm của sự nỗ lực mô phỏng con người, làm cơ sở cho việc có được
quyền và nghĩa vụ pháp lý như một con người. Từ đó, bản thân pháp nhân, quyền
và nghĩa vụ pháp lý của pháp nhân đều là do sáng tạo mà có. Pháp nhân – thực
thể lý tưởng, với tư cách là một con người nhân tạo, sẽ phải có ý chí và tài
sản độc lập tuyệt đối để thực hiện các quyền của mình, mà theo đó, đồng nghĩa
với việc tư cách của pháp nhân không thể phân chia, không thể chuyển nhượng và
phải tránh thay đổi về tài sản. Hệ quả của hệ thống lý luận này là: (i) phủ nhận ý chí và quyền sở hữu (gián
tiếp) của thành viên; (ii) bằng việc
phản đối phương thức biểu quyết đa số, phủ nhận ý chí, lợi ích nhóm; (iii) phủ nhận mối quan hệ nội tại giữa
thành viên và pháp nhân dẫn đến phủ nhận mối quan hệ hợp đồng giữa các thành
viên trong pháp nhân công ty; (iv) đề
cao sự độc lập của pháp nhân đến mức cho rằng toàn quyền thực tế nằm ở các cơ
quan đại diện không phụ thuộc vào thành viên; (v) không có khả năng giải quyết các vấn đề liên quan đến nguồn gốc
hình thành pháp nhân; (vi) tồn tại
liên tục, bất tận – biểu hiện của việc không có quy luật phát triển.
Nói cách
khác, đối với CTCP, nếu thừa nhận sự độc lập tuyệt đối của pháp nhân bao gồm cả
về ý chí và quyền tài sản thì trước hết, không thể thừa nhận quan điểm chuyển
giao quyền và nghĩa vụ từ cá nhân sang pháp nhân. Tiếp đó, sẽ không thể thừa
nhận ý chí, lợi ích nhóm, đặc thù bởi cổ đông kiểm soát và các vấn đề liên quan
đến bảo vệ cổ đông, kéo theo cả các mối quan hệ nội tại bên trong pháp nhân -
mối quan hệ hợp đồng. Điều này có nghĩa là, tồn tại điểm mâu thuẫn trong chính
hệ thống lý luận về pháp nhân CTCP được Việt Nam tiếp thu. Từ đó, nó gây cản
trở trong việc nghiên cứu pháp luật về các vấn đề trên và khiến cho nhiều luận
điểm mâu thuẫn lẫn nhau mà đến nay vẫn chưa thể giải quyết được. Ví dụ như,
tranh cãi về tư cách chủ sở hữu của nhà đầu tư và cơ sở lý luận của quy định về
việc cho phép cổ đông rút vốn bằng cách yêu cầu công ty mua lại cổ phần hay
thực tiễn CTCP hủy bỏ tư cách cổ đông của cổ đông xâm phạm quyền lợi công ty.
6 . Kết luận và ý kiến
đóng góp
Hệ thống lý
luận về tư cách pháp nhân của Savigny – lý thuyết pháp nhân hư cấu, đặc biệt là
các lý luận về sự độc lập tuyệt đối của pháp nhân về ý chí, quyền về tài sản và
cơ cấu tổ chức hoàn toàn không phù hợp với nền tảng triết học chủ đạo về nhà
nước và pháp luật của Việt Nam. Tuy nhiên, một nguyên tắc được chấp nhận rộng
rãi về pháp nhân là pháp nhân cần phải có một sự độc lập nhất định để phân biệt
giữa tư cách chủ thể của tổ chức và tư cách chủ thể của các thành viên, tiền đề
trách nhiệm hữu hạn của pháp nhân.[118] Thế nên, không thể phủ
nhận rằng, các lý luận của thuyết pháp nhân hư cấu có giá trị trong việc đặt
nền tảng cho sự độc lập của pháp nhân là CTCP cho đến tận ngày nay.
Thông qua
việc phê phán, điều chỉnh quan điểm lý luận của thuyết pháp nhân hư cấu bằng
quan điểm của chủ nghĩa Marx – Engels, có thể đúc kết được rằng, pháp nhân là
sản phẩm của (sự giao tiếp trước đó của cá nhân) con người, là phạm trù pháp
luật thuộc kiến trúc thượng tầng, có nguồn gốc hình thành từ nhu cầu thực tiễn
của con người do tác động của điều kiện vật chất khách quan (cơ sở hạ tầng).
Pháp nhân không thể có ý chí độc lập mà thay vào đó, ý chí (đa số) của các
thành viên chi phối và thực hiện các quyền về tài sản của pháp nhân. Tuy nhiên,
pháp nhân vẫn có tính độc lập tương đối trong quan hệ với thành viên. Từ đó,
pháp nhân của chủ nghĩa duy vật lịch sử có khả năng phơi bày lợi ích nhóm bên
trong đó và đáp ứng được sự thay đổi linh hoạt của điều kiện vật chất khách
quan cũng như nhu cầu của con người qua thời gian.
Trên cơ sở
đó, riêng đối với CTCP, Việt Nam có khả năng tiếp thu và vận dụng một số nội
dung chính của lý luận về pháp nhân thực được trình bày bởi tác giả Otto von
Gierke trong tác phẩm “Das deutsche
Genossenschaftsrecht, Zweiter Band:
Geschichte des deutschen Körperschaftsbegriffs” vào năm 1873, cụ thể như
sau:
Thứ nhất là về nguồn gốc pháp nhân, giống như pháp nhân hư cấu, pháp nhân thực của Gierke cũng
quan niệm rằng, chỉ có cá nhân con người mới có năng lực pháp lý nhưng thay vì
sáng tạo ra một con người pháp lý mô phỏng con người thật như Sagviny do nhân
cách La Mã là tuyệt đối không thể phân chia thì Gierke lại cho rằng, pháp nhân
Đức hay còn gọi là nhân cách Đức (germanischen persönlichkeit) “đủ phong phú để
từ bỏ một phần của chính mình nhằm ủng hộ cho một sự thống nhất ý chí mới mà
không tự hủy diệt”[119].
Nói cách khác, nhân cách Đức có khả năng phân chia do quan điểm “thống nhất
trong đa dạng” xuyên suốt hệ thống pháp luật Đức chứ không phải là quan điểm
khác biệt, đối lập như luật công và luật tư của La Mã.[120] Từ đó, đúc kết được khái
niệm về pháp nhân như sau:
[Pháp nhân] không phải là sự sáng tạo của con người mà nó
giống như các cá nhân, sự tồn tại [của pháp nhân] xuất phát từ cá nhân con
người và thông qua con người, mà theo đó, được pháp luật công nhận (“erkannt” -
sự tồn tại về mặt nhận thức) và thừa nhận (“anerkannt” - sự tồn tại về mặt pháp
lý).[121]
Quan điểm
này hoàn toàn phù hợp với chủ nghĩa duy vật biện chứng Marx – Engels vì nó mô
tả đúng bản chất của pháp nhân. Theo đó, pháp nhân xuất phát từ con người và
chỉ tồn tại thông qua con người, không tách khỏi con người. Đồng thời, việc
khẳng định pháp nhân “không phải sự sáng tạo của con người” là sự phản bác của
Gierke đối với luận điểm của Savigny về pháp nhân. Vậy nên, khái niệm này lý
giải được nguồn gốc về quyền và nghĩa vụ pháp lý của pháp nhân. Theo đó, quyền
và nghĩa vụ pháp lý của pháp nhân xuất phát từ quyền và nghĩa vụ pháp lý của
con người. Ví dụ như, các cơ quan nhà nước được Nhân dân trao quyền, điều này
được gọi là “ủy thác quyền lực”.[122] Tương tự như vậy, đối với
CTCP, là sự chuyển giao quyền tự do kinh doanh từ các thành viên cho pháp nhân.
Từ đó, có thể thấy rằng, khái niệm cùng quan điểm về nguồn gốc pháp nhân Đức
phù hợp hơn với Việt Nam. Không những vậy, do kết cấu mở của khái niệm, khiến
cho nó có thể áp dụng linh hoạt cho nhiều loại pháp nhân khác nhau tương ứng
với nhu cầu, điều kiện hình thành khác nhau. Hệ quả là, pháp nhân Đức không có
khả năng bất tử, mà sẽ hình thành và tiêu vong theo điều kiện hình thành nó.
Thế nên, theo quan điểm của bài viết, khái niệm này còn có thể áp dụng với tổ
chức là Nhà nước. Ngoài ra, sự linh hoạt của pháp nhân Đức còn nằm ở chỗ, do
nhu cầu thực tiễn khác nhau dẫn đến loại quyền và nghĩa vụ của cá nhân chuyển
giao cho tổ chức cũng không giống nhau góp phần hình thành nên các loại pháp
nhân có mục đích khác nhau.
Thứ hai là các đặc điểm về pháp nhân. Theo Gierke thì pháp nhân Đức hay còn gọi là “nhân cách Đức”
có những đặc điểm như:[123]
Một là, nhân
cách Đức không mang tính tuyệt đối mà được tạo thành từ sự thống nhất giữa
quyền và nghĩa vụ của thành viên một cách có điều kiện và bị giới hạn. Theo đó,
nhân cách Đức có sự thừa nhận đối với ý chí, quyền sở hữu của thành viên nhưng
bị giới hạn bởi ý chí chung, quyền của liên minh và ngược lại, quyền của liên
minh bị giới hạn bởi quyền của thành viên.[124] Tại đây, theo quan điểm
của Gierke thì tính độc lập (tương đối) của pháp nhân Đức có được là do tiếp
thu “sự trừu tượng hóa” (abstraktion) từ pháp nhân La Mã[125] và điều chỉnh từ mức độ
trừu tượng hóa tuyệt đối – điều khiến cho tính toàn thể tách rời, đối lập với
tập hợp các thành viên, giảm xuống mức trừu tượng hóa chỉ vừa đủ để khiến cho
pháp nhân trở thành một thể thống nhất bao gồm ý chí, quyền của các thành viên[126].
Tuy nhiên, theo quan điểm của bài viết, cái mà Gierke cho là tiếp thu từ pháp
nhân hư cấu không phải là biểu hiện của “chủ nghĩa thần bí”. Bởi lẽ, ý chí,
quyền của pháp nhân không tách biệt khỏi thành viên mà được hình thành từ các
thành viên. Thế nên, các lập luận liên quan đến việc trừu tượng hóa theo quan
điểm của Gierke chỉ là để củng cố cho đặc tính độc lập tương đối của pháp nhân
và nó không mang bản chất của quan điểm duy tâm.
Hai là,
nhân cách Đức có khả năng phân chia. Thông qua việc chuyển giao một phần các
quyền và nghĩa vụ trong nhân cách của chính mình (có thể là cá nhân, pháp nhân)
đã tạo nên khả năng hình thành một tổng thể “nhân cách” cao hơn (pháp nhân)
được xem là các hiệp hội độc lập.
Ba là, nhân cách Đức có khả năng chuyển
nhượng. Đây là đặc điểm thể hiện rõ sự đối lập với khái niệm nhân cách La Mã.
Ví dụ như, CTCP có tư cách pháp nhân (nhân cách công ty) được thể hiện dưới
hình thức là cổ phần - một loại hàng hóa tách rời khỏi mọi mối quan hệ cá nhân.
Các thành viên trong CTCP được xem là các “đồng sở hữu/đồng gánh vác nhân cách
công ty” (“die Mitträgerschaft einer Körperschaftspersönlichkeit”). Vì thế nên,
một người có thể có một số “phần nhân cách” (“Theilpersönlichkeiten”) có khả năng
giao dịch.
Bên cạnh đó,
Gierke còn đưa ra lập luận giải quyết xung đột về lợi ích trong mối quan hệ
giữa tập thể với các thành viên.[127] Ngoài ra, dựa trên cấu
trúc mở của khái niệm, thì lý luận về pháp nhân của Gierke còn có những ưu điểm
đối với CTCP như:
Thứ nhất là, nó
mang lại khả năng thừa nhận mối quan hệ hợp đồng giữa các thành viên trong pháp
nhân. Bởi nó cho phép thừa nhận sự tồn tại của pháp nhân là CTCP xuất phát từ
nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất của các tư bản cá thể. Theo đó, kết hợp với lý
luận của Oliver Hart về nguồn gốc hình thành của CTCP, có thể khẳng định rằng,
tồn tại một thỏa thuận/hợp đồng giữa các đồng sở hữu (cổ đông) và loại hợp đồng
này là hợp đồng không đầy đủ.[128]
Bên cạnh đó, thỏa thuận này, về bản chất, chính là thỏa thuận chuyển giao quyền
và nghĩa vụ từ thành viên sang pháp nhân và là khởi nguồn cho sự hình thành
quyền và nghĩa vụ pháp lý của CTCP. Vì sự thừa nhận về nguồn gốc này, nó mang
lại khả năng “đơn phương chấm dứt hợp đồng”: (i) cho cổ đông khi không được đảm bảo về quyền lợi hoặc (ii) cho công ty khi quyền lợi của công
ty bị xâm phạm, trong “thỏa thuận liên minh”. Đây chính tiền đề lý luận của
việc cho phép cổ đông rút vốn bằng cách yêu cầu công ty mua lại cổ phần nhằm
mục đích bảo vệ cổ đông. Tuy nhiên, lý luận của Oliver Hart không mang lại cho
thành viên trong “thỏa thuận liên minh” quyền tự do kinh doanh như một cá nhân
thông thường mà nó được nhấn mạnh “bị giới hạn bởi pháp luật” và các hợp đồng trước
đó.[129] Cụ
thể, trong CTCP, nó bị ràng buộc bởi các quy định pháp luật nhằm bảo vệ các bên
liên quan bao gồm cả các đồng sở hữu khác (công ty) và bên thứ ba.[130]
Thứ hai là,
lý luận này giải thích được vấn đề tư cách chủ sở hữu của nhà đầu tư trong CTCP
mà vẫn bảo đảm cho pháp nhân là một chủ thể pháp lý độc lập có khả năng phân
biệt với tư cách chủ thể của các thành viên. Đó là khái niệm “đồng sở hữu/gánh
vác tư cách pháp nhân” và “chuyển nhượng phần tư cách pháp nhân”. Mặc dù khái
niệm này còn khá mới mẻ, tuy nhiên, nó vẫn có giá trị tham khảo nhất định. Theo
Gierke, mô hình xây dựng khái niệm về quyền và khái niệm về tư cách pháp nhân ở
Luật Đức là một.[131]
Vậy nên, tư cách pháp nhân mà ông đề cập ở đây đồng nghĩa với các quyền pháp lý
của pháp nhân. Thế nên, tư cách pháp nhân (hay các quyền của pháp nhân) của
CTCP bị chi phối và phải thực hiện thông qua nhà đầu tư nên các nhà đầu tư của
CTCP được xem là các “đồng sở hữu/gánh vác tư cách pháp nhân”. Theo đó, chuyển
nhượng cổ phần đồng nghĩa với chuyển nhượng việc “sở hữu/gánh vác tư cách pháp
nhân”. Vậy nên, cổ phần không chỉ đơn thuần là một loại tài sản thông thường mà
cũng có thể được xem là tư cách pháp nhân công ty được chia phần. Điều này đồng
nghĩa với việc, khi chuyển nhượng cổ phần, nhà đầu tư không chỉ chuyển nhượng
tài sản thông thường mà là chuyển nhượng một phần tư cách pháp nhân của công
ty. Từ đó, nhà đầu tư của CTCP không cần thiết phải sở hữu tài sản của CTCP mới
được xem là chủ sở hữu công ty mà chỉ cần với tư cách là chủ thể nắm giữ, chi
phối quyền tài sản của pháp nhân, nhà đầu tư hoàn toàn có thể được xem là chủ
sở hữu thực sự của pháp nhân. Đồng thời, CTCP vẫn giữ được tư cách chủ sở hữu tài
sản một cách độc lập, tiền đề của trách nhiệm hữu hạn. Lý luận này vừa đảm bảo
được sự tách biệt về tư cách chủ thể giữa nhà đầu tư và pháp nhân vừa đảm bảo
được tính thực tiễn. Bên cạnh đó, lập luận này còn phù hợp với định nghĩa về cổ
đông của CTCP và quy định mới về “chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp” được
trình bày tại khoản 3, 35 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung
2025).
Danh mục tài liệu tham khảo
1.
Hiến pháp 2013, ngày 28 tháng 11 năm 2013
2.
Bộ Luật Dân sự số 91/2015/QH13, ngày 24 tháng 11 năm 2015
3.
Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, ngày 17 tháng 06 năm
2020
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Doanh nghiệp số 76/2025/QH15, ngày 17 tháng 06 năm 2025
4.
Andrew Vincent, Marx and Law,
Journal of Law and Society, 20, 371-391, (1993)
5.
ARISTOTLE, CATEGORIES AND DE INTERPRETATIONE – BẢN DỊCH VỚI GHI
CHÚ CỦA J. L. ACKRILL, OXFORD UNIVERSITY PRESS, (2002)
6.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN, NXB
CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT, 147 (2021)
7.
Ngô Huy Cương, Chế định pháp
nhân nhìn từ cấu trúc bên trong của nó, Tạp chí điện tử Nghiên cứu lập pháp
(14-06-2024), http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/211903/Che-dinh-phap-nhan-nhin-tu-cau-truc-ben-trong-cua-no.html?fbclid=IwY2xjawK_QtxleHRuA2FlbQIxMABicmlkETE4MEgxanB0MFBlSmZuZVloAR4AmXdSPLdnZ3iAA6W_pc432AF3SOqICl_1QDr0_MfYpGh4FN33KOvcQujWVA_aem_lQxqI6Rl_gbSpm5eEcDjxw
8.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI - TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN
SỰ 1 – PHẦN CHUNG, NXB ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI, 142 (2024)
9.
FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, SYSTEM
DES HEUTIGEN RÖMISCHEN RECHTS, ZWEITER BAND, VEIT UND COMP, BERLIN, (1840)
10. FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, SYSTEM DES HEUTIGEN RÖMISCHEN RECHTS, ERSTER BAND, VEIT UND COMP,
BERLIN, (1840)
11. FREDERICK C. BEISER, THE GERMAN HISTORICIST
TRADITION, OXFORD UNIVERSITY PRESS, (2011)
12.Frederick Engels, Origin of the Family, Private Property, and the State – dịch bởi Alick
West, (1962), https://www.marxists.org/archive/marx/works/1884/origin-family/
13. Karl Marx, Marx’s
Critique of Hegel's Philosophy of Right dịch bởi by Annette Jolin Joseph
O’Malley, Cambridge University
Press,(1970), https://www.marxists.org/archive/marx/works/download/Marx_Critique_of_Hegels_Philosophy_of_Right.pdf
14. Karl Marx, Capital
Volume Three - The Process of Capitalist Production as a Whole, (1894), Part V. Chapter 27,
https://www.marxists.org/archive/marx/works/1894-c3/ch27.htm
15. Karl Marx và Frederick Engels, The German Ideology, (1932) https://www.marxists.org/archive/marx/works/download/Marx_The_German_Ideology.pdf
16. OTTO VON GIERKE, DAS
DEUTSCHE GENOSSENSCHAFTSRECHT, ZWEITER BAND: GESCHICHTE DES DEUTSCHEN
KÖRPERSCHAFTSBEGRIFFS, WEIDMANNSCHE BUCHHANDLUNG, BERLIN, (1873)
17.OLIVER HART, FIRMS, CONTRACTS AND FINANCIAL
STRUCTURE, OXFORD UNIVERSITY PRESS INC., (1995)
18. Robert Schütze, German Idealism after Kant: Nineteenth-Century Foundations of
International Law, Journal of the history of International Law, 25, 105,
(2023)
19. Susan Watson, The corporate legal person, Journal of Corporate Law Studies, 8,
(2018) https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/14735970.2018.1435951
20. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.
HCM, GIÁO TRÌNH LUẬT HIẾN PHÁP, NXB HỒNG ĐỨC, (2022)
21.TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ
CHÍ MINH, GIÁO TRÌNH NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, NXB CÔNG AN NHÂN DÂN,
(2024)
22. Visa A.J. Kurki, Legal Personhood, Cambridge University Press, Helsinki Legal
Studies Research Paper No. 82, (2023) https://ssrn.com/abstract=4669283
* Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Email: vandieutho@gmail.com, ngày duyệt đăng 28/10/2025
** Trưởng bộ môn Luật Kinh tế, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh
[1] Nguyên văn “a stylistic peculiarity of Hegel, one which recurs often and is a product of mysticism” trong tác phẩm của Karl Marx, Marx’s Critique of Hegel's Philosophy of Right dịch bởi by Annette Jolin và Joseph O’Malley, Cambridge University Press, (1970), https://www.marxists.org/archive/marx/works/download/Marx_Critique_of_Hegels_Philosophy_of_Right.pdf
[2] Visa A.J. Kurki, Legal Personhood, Cambridge University Press, Helsinki Legal
Studies Research Paper No. 82, 1, (2023) https://ssrn.com/abstract=4669283
[3] Visa A.J. Kurki, tlđd, 2, 2 và 33
[4] ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI - TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT,
GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ 1 – PHẦN CHUNG, NXB ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI, 143 (2024)
[5] ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, tlđd, 4, 142
Visa A.J. Kurki, tlđd, 2, 2 và 33
[6] ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, tlđd, 4, 142
[7] TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH, GIÁO TRÌNH
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, NXB CÔNG AN NHÂN DÂN, 147, 159 (2024)
[8] Ngô Huy Cương, Chế định pháp nhân nhìn từ cấu trúc bên trong của nó, Tạp chí điện
tử Nghiên cứu pháp luật (14-06-2024), http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/211903/Che-dinh-phap-nhan-nhin-tu-cau-truc-ben-trong-cua-no.html?fbclid=IwY2xjawK_QtxleHRuA2FlbQIxMABicmlkETE4MEgxanB0MFBlSmZuZVloAR4AmXdSPLdnZ3iAA6W_pc432AF3SOqICl_1QDr0_MfYpGh4FN33KOvcQujWVA_aem_lQxqI6Rl_gbSpm5eEcDjxw
[9] BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC
MÁC – LÊ NIN, NXB CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT, 147 (2021)
[10] Andrew Vincent, Marx and Law, Journal of Law and Society, 20, 371-391, 394 (1993)
[11] Andrew Vincent, tlđd, 10, 381
[12] Andrew Vincent, tlđd, 10, 380
[13] Andrew Vincent, tlđd, 10, 380
[14] Andrew Vincent, tlđd, 10, 387
[15] Andrew Vincent, tlđd, 10, 374
[16] Karl Marx và Frederick Engels, The German Ideology, (1932) https://www.marxists.org/archive/marx/works/download/Marx_The_German_Ideology.pdf
[17] ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, tlđd, 4, 142-143
[18] ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, tlđd, 4, 140- 162
[19] TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH, tlđd, 7, 144-179
[20] TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH, tlđd, 7, 146
ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, tlđd, 4, 152
[21] Lý luận này là lý luận của pháp nhân thực.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH, tlđd,
7,162
[22] Lý luận này là lý luận của pháp nhân thực.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH, tlđd,
7, 158
[23] TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH, tlđd, 7, 163, 165, 170, 179
[24] ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, tlđd, 4, 142
[25] OTTO VON GIERKE, DAS DEUTSCHE
GENOSSENSCHAFTSRECHT, ZWEITER BAND: GESCHICHTE DES DEUTSCHEN
KÖRPERSCHAFTSBEGRIFFS, WEIDMANNSCHE BUCHHANDLUNG, BERLIN, 29 (1873)
[26] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 29
[27] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, SYSTEM DES HEUTIGEN RÖMISCHEN RECHTS, ZWEITER
BAND, VEIT UND COMP, BERLIN, 283 (1840)
[28] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 29
[29] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 26
[30] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 36-37
[31] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 36-37
[32] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 40-41
[33] Không chỉ có tại Việt Nam, sự nhầm lẫn này còn
được tìm thấy trong tài liệu của các chuyên gia kinh tế hàng đầu tại Hoa Kỳ. Xem thêm Jensen và Meckling, Theory of the firm: Managerial Behavior,
Agency Costs and Ownership Structure, Journal of Financial Economics, 3, 305, 313
(1976). Nguyên văn: “It is important to recognize that most organizations are
simply legal fictions which serve as a nexus for a set of contracting
relationships among individuals”. Vấn đề này sẽ được lý giải cụ thể tại phần so
sánh tương quan ở mục V của bài viết.
[34] ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, tlđd, 4, 142-143
[35] ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, tlđd, 4, 140-162 (2024)
[36] ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, tlđd, 4, 149-150
[37] Visa A.J. Kurki, Xem thêm, 2 và bài viết của tác giả Susan Watson, The corporate legal person, Journal of
Corporate Law Studies, (2018),
https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/14735970.2018.1435951
[38] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27
[39] FREDERICK C. BEISER, THE GERMAN HISTORICIST
TRADITION, OXFORD UNIVERSITY PRESS, 215 (2011)
[40] Theo Beiser, chữ “Geist” được giải thích tốt
nhất qua tác phẩm của Montesquieu “Esprit
des lois” và nó đồng nghĩa với “spirit of the laws” – tinh thần pháp luật.
Vậy nên, Volkgeist thường được dịch là tinh thần dân tộc. FREDERICK C. BEISER, tlđd, 39, 250
[41] Trong bản dịch của Annette Jolin và Joseph
O’Malley, “Geist” được dịch là “mind” và “Idea”. Karl Marx, xem, 1
[42] FREDERICK C. BEISER, tlđd, 39, 218
[43] FREDERICK C. BEISER, tlđd, 39, 249
[44] FREDERICK C. BEISER, tlđd, 39, 249
[45] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, SYSTEM DES HEUTIGEN RÖMISCHEN RECHTS, ERSTER
BAND, VEIT UND COMP, BERLIN, 14 (1840)
[46] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 45, 17
[47] Robert Schütze, German Idealism after Kant: Nineteenth-Century Foundations of
International Law, Journal of the history of International Law, 25, 105,
114 (2023) Thêm vào đó, theo mô tả
về giả định cốt lõi của lý thuyết Volksgeist, hoàn toàn không có sự xuất hiện
của vật chất hay các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng mà chỉ tập trung vào nền văn
hóa bao gồm luật lệ, phong tục, tôn giáo, ngôn ngữ. FREDERICK C. BEISER, Xem, 39, 250
[48] BGDĐT, tlđd,
9, 17
[49] “Sự thần bí” (mystification) của chủ nghĩa duy
tâm đã được Karl Marx mô tả chi tiết rõ ràng. Xem thêm “Công thức” về việc đối
tượng hóa thuộc tính ý thức của con người thành “thực thể huyền bí” một cách
độc lập (the mystical substance) của ông tại Karl Marx, tlđd, 1. Nguyên văn: Từ
cụm “The existence of the predicate is the subject” cho đến “the mystical idea
becomes this bearer”.
[50] Karl Marx, tlđd,
1
[51] Nguyên văn trong bản dịch là “predicate” và “subject”. Trong đó, “predicate” không mang nghĩa là “vị ngữ” như
định nghĩa thông thường mà mang hàm ý là “thuộc tính” nhiều hơn theo định nghĩa
của ARISTOTLE trong tác phẩm “CATEGORIES AND DE INTERPRETATIONE – BẢN DỊCH VỚI
GHI CHÚ CỦA J. L. ACKRILL”, OXFORD UNIVERSITY PRESS, 4 (2002). Aristotle dùng
ví dụ về “con người”, trong đó, phần “con” và phần “người” đều là thuộc tính
của “con người”.
[52] Tồn tại phiên bản dịch là “khách thể” và “khách
thể hóa”. Tuy nhiên, trong triết học, “object” mang ý nghĩa là cái được phân
tích, quan sát. Vậy nên, “đối tượng” là cách dịch phù hợp hơn.
[53] Đặc tính độc lập vốn dĩ chỉ có ở con người và
trong trường hợp này là đặc tính của các thành viên cộng đồng. Xem thêm Karl
Marx, tlđd, 1
[54] Karl Marx, tlđd,
1
[55] Karl Marx, tlđd,
1
[56] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 26
[57] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 25
[58] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 29
[59] Tư cách pháp nhân của tổ chức được gọi là “con
người pháp lý” (“juristische person”) và được mô tả là “một giả định hư cấu”
(“fiction angenommene subjecte”). Xem thêm FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 263
[60] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 29
[61] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 29
[62] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 29
[63] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 282
[64] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 236
[65] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 314
[66] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 293
[67] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 242-244
[68] Susan Watson, tlđd, 37, 8
[69] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 246
[70] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 246-247
[71] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 237
[72] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 238
[73] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 283
[74] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 283
[75] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 283
[76] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 328
[77] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 331
[78] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 335
[79] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 242-244
[80] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 335
[81] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 333-334
[82] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 333-334
[83] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 333-334
[84] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 246
[85] BGDĐT, tlđd,
9, 135
[86] Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan
phải thống nhất với nhau mới tạo thành cơ sở phương pháp luận của hoạt động cải
tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, mà theo đó, trong khoa học pháp lý, có thể được
xem là phương pháp luận của hoạt động hoàn thiện pháp luật. BGDĐT, Xem thêm, 9, 85
[87] Karl Marx, Capital
Volume Three - The Process of Capitalist Production as a Whole, (1894), Part V. Chapter 27.,
https://www.marxists.org/archive/marx/works/1894-c3/ch27.htm
[88] Theo nhận định của Chánh án Coke trong vụ án
Thomas Sutton thì công ty là: “vô hình, bất tử và chỉ tồn tại trong ý định và
sự suy xét của pháp luật”. Susan Watson, tlđd,
37, 9-10.
[89] Frederick Engels, Origin of the Family, Private Property, and the State – dịch bởi Alick
West, (1962),
https://www.marxists.org/archive/marx/works/1884/origin-family/
[90] Karl Marx, tlđd,
87
[91] Karl Marx, tlđd,
87
[92] “Thực tại chỉ là sản phẩm của sự giao tiếp
trước đó (“the preceding intercourse”) của các cá nhân”, được trích từ Karl
Marx và Frederick Engels, tlđd, 16
[93] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 283
[94] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 243-244
[95] Gierke gọi cái này là “cộng đồng” (römischen
Kommunionen). OTTO VON GIERKE, Xem thêm,
25, 41
[96] BGDĐT, tlđd,
9, 70
[97] Quá trình này diễn ra tương đồng với Nhà nước
của đại biểu Hegel. Theo đó, “ý chí phổ quát” tách biệt với ý chí của thành
viên và được chứa đựng trong cái gọi là “Nhà nước”. Xem thêm Karl Marx, tlđd,
1
[98] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 283
[99] Karl Marx, tlđd,
1
[100] Karl Marx, tlđd,
1
[101] Robert Schütze, tlđd, 47, 114
[102] Marx giải thích rằng, “mục đích của nhà nước và
quyền lực của nhà nước bị che giấu ở chỗ chúng xuất hiện dưới dạng các phương
thức tồn tại của bản chất”, mà bản chất nhà nước của Hegel lại xuất phát từ mục
đích phổ quát. Trong đó, “phổ quát” chính là một “thực thể huyền bí”. Xem thêm Karl Marx, tlđd, 1
[103] Nhà nước là pháp nhân được xem là xu hướng phổ
biến của Luật Quốc tế. Vậy nên, vấn đề này cần được nghiên cứu một cách thận
trọng. Xem thêm ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI
HỌC LUẬT, tlđd, 4, 158
[104] TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HCM, GIÁO TRÌNH LUẬT
HIẾN PHÁP, NXB HỒNG ĐỨC, 374 (2022)
[105] BGDĐT, tlđd,
9, 49
[106] BGDĐT, Xem
thêm, 9, 69
[107] Karl Marx, tlđd,
1
[108] Karl Marx và Frederick Engels, tlđd, 16
[109] Karl Marx, tlđd,
87
[110] Karl Marx, tlđd,
87
[111] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 243-244
[111] Susan Watson, tlđd, 37, 11
[113]
Nguyên văn từ cụm “In
direct contrast to German philosophy” đến cụm “empirically verifiable and bound
to material premises.” Karl Marx và Frederick Engels, Xem thêm, 16.
[114]
Karl Marx và Frederick
Engels, tlđd, 16.
[115] FRIEDRICH CARL VON SAVIGNY, tlđd, 27, 352
[116] Karl Marx, tlđd,
1
[117] Như cái tên của tác phẩm: “Hệ thống luật La Mã
hiện đại”.
[118] ĐHQGHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, tlđd, 4, 149-150
[119] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 40
[120] Theo quan điểm của bài viết, quan điểm “thống
nhất trong đa dạng” này khá tương đồng với nguyên tắc tập trung dân chủ của
Việt Nam. OTTO VON GIERKE, tlđd, 25,
36
[121] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 40
[122] TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HCM, tlđd, 104, 214
[123] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 36-37
[124] Quyền sở hữu tài sản của thành viên được gọi là
“quyền đặc biệt”. Quyền của liên minh được gọi là quyền tài sản chung của tập
thể. OTTO VON GIERKE, Xem thêm, 25,
34-36, 142, 151
[125] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 26
[126]
OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 26, 31
[127] Theo Gierke, xu hướng phủ nhận quyền sở hữu của
thành viên là “quan điểm tiêu cực”. OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 145, 151
[128] OLIVER HART, FIRMS, CONTRACTS AND FINANCIAL
STRUCTURE, OXFORD UNIVERSITY PRESS INC., 53 (1995)
[129] Oliver Hart, tlđd, 128, 30
[130] Lập luận này có vẻ giống với lý thuyết hợp đồng
(Aggregate Theory) về pháp nhân. Tuy nhiên, do nhận thức rõ hạn chế của lý
thuyết này về pháp nhân, bài viết chủ trương tiếp thu nền tảng của pháp nhân
thực và thực hiện điều chỉnh cho phù hợp với CTCP bằng lý thuyết hợp đồng.
[131] OTTO VON GIERKE, tlđd, 25, 34