Thực tiễn pháp luật và tư pháp

Người lái xe phải mang theo giấy tờ gì khi tham gia giao thông theo luật mới?

Khánh Huyền Thứ sáu, 11/10/2024 - 05:28

(PLPT) - Khi tham gia giao thông, người điều khiển phương tiện cần phải mang theo những giấy tờ gì? Nếu không mang theo hoặc không có giấy phép lái xe khi tham gia giao thông, tài xế bị phạt bao nhiêu tiền?

Những loại giấy tờ phải mang theo

Theo khoản 1 Điều 56 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, người lái xe tham gia giao thông đường bộ phải đủ tuổi, sức khỏe theo quy định của pháp luật; có giấy phép lái xe đang còn điểm, còn hiệu lực phù hợp với loại xe đang điều khiển do cơ quan có thẩm quyền cấp, trừ người lái xe gắn máy.

Khi tham gia giao thông đường bộ, người lái xe phải mang theo các giấy tờ sau đây:

- Chứng nhận đăng ký xe hoặc bản sao Chứng nhận đăng ký xe có chứng thực kèm bản gốc giấy tờ xác nhận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài còn hiệu lực trong trường hợp xe đang được thế chấp tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

- Giấy phép lái xe phù hợp với loại xe đang điều khiển;

- Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới theo quy định của pháp luật;

- Chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

Lưu ý: Trường hợp giấy tờ quy định nêu trên đã được tích hợp vào tài khoản định danh điện tử thì việc xuất trình, kiểm tra có thể thực hiện thông qua tài khoản định danh điện tử.

Như vậy, ngoài giấy phép lái xe thì người lái xe tham gia giao thông đường bộ phải mang theo giấy chứng nhận đăng ký xe, bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới.

Quy định về điểm của giấy phép lái xe từ 01/01/2025

Điểm của giấy phép lái xe được quy định tại Điều 58 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 như sau:

- Điểm của giấy phép lái xe được dùng để quản lý việc chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe trên hệ thống cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bao gồm 12 điểm. Số điểm trừ mỗi lần vi phạm tùy thuộc tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Dữ liệu về điểm trừ giấy phép lái xe của người vi phạm sẽ được cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu ngay sau khi quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành và thông báo cho người bị trừ điểm giấy phép lái xe biết.

- Giấy phép lái xe chưa bị trừ hết điểm và không bị trừ điểm trong thời hạn 12 tháng từ ngày bị trừ điểm gần nhất thì được phục hồi đủ 12 điểm.

- Trường hợp giấy phép lái xe bị trừ hết điểm thì người có giấy phép lái xe không được điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo giấy phép lái xe đó.

Sau thời hạn ít nhất là 06 tháng kể từ ngày bị trừ hết điểm, người có giấy phép lái xe được tham gia kiểm tra nội dung kiến thức pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 7 Điều 61 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 do lực lượng Cảnh sát giao thông tổ chức, có kết quả đạt yêu cầu thì được phục hồi đủ 12 điểm.

- Giấy phép lái xe sau khi đổi, cấp lại, nâng hạng được giữ nguyên số điểm của giấy phép lái xe trước khi đổi, cấp lại, nâng hạng.

- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thẩm quyền trừ điểm giấy phép lái xe.

Ảnh minh họa.

Từ 01/01/2025, giấy phép lái xe gồm những hạng nào?

Điều 57 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định Giấy phép lái xe bao gồm các hạng sau đây:

- Hạng A1 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh đến 125 cm3 hoặc có công suất động cơ điện đến 11 kW;

- Hạng A cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh trên 125 cm3 hoặc có công suất động cơ điện trên 11 kW và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1;

- Hạng B1 cấp cho người lái xe mô tô ba bánh và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1;

- Hạng B cấp cho người lái xe ô tô chở người đến 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe); xe ô tô tải và ô tô chuyên dùng có khối lượng toàn bộ theo thiết kế đến 3.500 kg; các loại xe ô tô quy định cho giấy phép lái xe hạng B kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế đến 750 kg;

- Hạng C1 cấp cho người lái xe ô tô tải và ô tô chuyên dùng có khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 3.500 kg đến 7.500 kg; các loại xe ô tô tải quy định cho giấy phép lái xe hạng C1 kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế đến 750 kg; các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B;

- Hạng C cấp cho người lái xe ô tô tải và ô tô chuyên dùng có khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 7.500 kg; các loại xe ô tô tải quy định cho giấy phép lái xe hạng C kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế đến 750 kg; các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B và hạng C1;

- Hạng D1 cấp cho người lái xe ô tô chở người trên 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe) đến 16 chỗ (không kể chỗ của người lái xe); các loại xe ô tô chở người quy định cho giấy phép lái xe hạng D1 kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế đến 750 kg; các loại xe quy định cho giấy phép lái xe các hạng B, C1, C;

- Hạng D2 cấp cho người lái xe ô tô chở người (kể cả xe buýt) trên 16 chỗ (không kể chỗ của người lái xe) đến 29 chỗ (không kể chỗ của người lái xe); các loại xe ô tô chở người quy định cho giấy phép lái xe hạng D2 kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế đến 750 kg; các loại xe quy định cho giấy phép lái xe các hạng B, C1, C, D1;

- Hạng D cấp cho người lái xe ô tô chở người (kể cả xe buýt) trên 29 chỗ (không kể chỗ của người lái xe); xe ô tô chở người giường nằm; các loại xe ô tô chở người quy định cho giấy phép lái xe hạng D kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế đến 750 kg; các loại xe quy định cho giấy phép lái xe các hạng B, C1, C, D1, D2;

- Hạng BE cấp cho người lái các loại xe ô tô quy định cho giấy phép lái xe hạng B kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 750 kg;

- Hạng C1E cấp cho người lái các loại xe ô tô quy định cho giấy phép lái xe hạng C1 kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 750 kg;

- Hạng CE cấp cho người lái các loại xe ô tô quy định cho giấy phép lái xe hạng C kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 750 kg; xe ô tô đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc;

- Hạng D1E cấp cho người lái các loại xe ô tô quy định cho giấy phép lái xe hạng D1 kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 750 kg;

- Hạng D2E cấp cho người lái các loại xe ô tô quy định cho giấy phép lái xe hạng D2 kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 750 kg;

- Hạng DE cấp cho người lái các loại xe ô tô quy định cho giấy phép lái xe hạng D kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 750 kg; xe ô tô chở khách nối toa.

Quên mang giấy phép lái xe ô tô, xe máy bị phạt bao nhiêu tiền?

Đối với trường hợp có giấy phép lái xe ô tô, xe máy nhưng không mang khi điều khiển xe tham gia giao thông thì sẽ bị phạt tiền với các mức sau đây:

Mức phạt lỗi không mang bằng lái xe với xe máy

Căn cứ Điểm c khoản 2 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP, người điều khiển xe mô tô (xe máy) và các loại xe tương tự xe mô tô không mang theo bằng lái xe thì bị phạt phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

Mức phạt lỗi không mang bằng lái xe với xe ô tô

Căn cứ Điểm a khoản 3 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP thì người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô không mang theo Giấy phép lái xe thì bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng.

Ngoài ra, độ tuổi của người lái xe máy (A1), ô tô (B1 và B2) được quy định tại Khoản 1 Điều 60 Luật Giao thông đường bộ 2008 như sau:

- Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3;

- Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi;

- Người đủ 21 tuổi trở lên được lái xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải từ 3.500 kg trở lên; lái xe hạng B2 kéo rơ moóc (FB2);

- Người đủ 24 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi; lái xe hạng C kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc (FC);

- Người đủ 27 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi; lái xe hạng D kéo rơ moóc (FD);

- Tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi là 50 tuổi đối với nữ và 55 tuổi đối với nam.

Độc giả còn vướng mắc có thể đóng góp ý kiến tại phần "Bình luận" phía dưới; liên hệ Đường dây nóng tư vấn pháp luật: 0899.515.999 hoặc gửi câu hỏi cho tòa soạn tại đây để được hỗ trợ.

Cùng chuyên mục

Trường Đại học Luật, Đại học Huế: Đào tạo cử nhân luật song ngữ từ nền tảng pháp lý đến năng lực hội nhập

Trường Đại học Luật, Đại học Huế: Đào tạo cử nhân luật song ngữ từ nền tảng pháp lý đến năng lực hội nhập

Thực tiễn pháp luật và tư pháp -  1 ngày trước

(PLPT) - Trong bối cảnh nghề luật ngày càng đòi hỏi năng lực ngoại ngữ, tư duy phản biện và khả năng thích ứng quốc tế, chương trình đào tạo cử nhân Luật song ngữ Việt – Anh tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế đang mở ra một hướng tiếp cận mới, thiết thực và giàu triển vọng cho sinh viên luật.

Hà Nội định hình trục cảnh quan sông Hồng: Phát triển đô thị phải đi cùng an toàn thoát lũ

Hà Nội định hình trục cảnh quan sông Hồng: Phát triển đô thị phải đi cùng an toàn thoát lũ

Thực tiễn pháp luật và tư pháp -  6 ngày trước

(PLPT) - Chủ trương phát triển trục cảnh quan sông Hồng được đặt trong yêu cầu kép: kiến tạo không gian đô thị chiến lược nhưng phải bảo đảm tuyệt đối an toàn thoát lũ, thủy lực và thích ứng biến đổi khí hậu.

Hoàn thiện khung pháp luật năng lượng tái tạo: Yêu cầu cấp thiết trong tiến trình chuyển đổi xanh

Hoàn thiện khung pháp luật năng lượng tái tạo: Yêu cầu cấp thiết trong tiến trình chuyển đổi xanh

Thực tiễn pháp luật và tư pháp -  1 tuần trước

(PLPT) - Trước yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, thực hiện cam kết Net-Zero và thúc đẩy tăng trưởng xanh, hội thảo “Năng lượng tái tạo: Khung pháp luật quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh” đặt ra nhiều vấn đề pháp lý có ý nghĩa thiết thực đối với quá trình hoàn thiện thể chế năng lượng của Việt Nam.

Trách nhiệm chủ đầu tư - Không thể biến sai phạm đất đai thành “việc đã rồi”

Trách nhiệm chủ đầu tư - Không thể biến sai phạm đất đai thành “việc đã rồi”

Thực tiễn pháp luật và tư pháp -  1 tuần trước

(PLPT) - Kết luận thanh tra số 1105/TB-TTCP của Thanh tra Chính phủ cho thấy nhiều doanh nghiệp, chủ đầu tư vi phạm kéo dài ở khâu đất đai, tài chính, cấp giấy chứng nhận, buộc phải xử lý đến cùng.

Công ty xi măng Long Sơn hướng tới sản xuất xanh chào mừng ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế lao động 1/5

Công ty xi măng Long Sơn hướng tới sản xuất xanh chào mừng ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế lao động 1/5

Thực tiễn pháp luật và tư pháp -  1 tuần trước

(PLPT) - Công ty xi măng Long Sơn chào mừng ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế lao động 1/5

Năng lượng sạch – tài chính xanh: “Động lực kép” thúc đẩy thực thi ESG và phát triển bền vững

Năng lượng sạch – tài chính xanh: “Động lực kép” thúc đẩy thực thi ESG và phát triển bền vững

Thực tiễn pháp luật và tư pháp -  2 tuần trước

(PLPT) - Tọa đàm trực tuyến về năng lượng sạch, tài chính xanh và ESG đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế, khơi thông vốn xanh, thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi bền vững.

Hà Nội: Không để sai phạm đất đai, quy hoạch và xây dựng khiến đô thị phát triển méo mó

Hà Nội: Không để sai phạm đất đai, quy hoạch và xây dựng khiến đô thị phát triển méo mó

Thực tiễn pháp luật và tư pháp -  2 tuần trước

(PLPT) - Kết luận thanh tra số 1105/TB-TTCP ngày 20/4/2026 của Thanh tra Chính phủ tại Hà Nội cho thấy những khoảng trống trong quản lý đất đai, quy hoạch, cấp phép xây dựng, đòi hỏi chấn chỉnh mạnh tay, xử lý dứt điểm, giữ nghiêm kỷ cương pháp luật.

Luật sư công không thể thêm một tầng pháp chế

Luật sư công không thể thêm một tầng pháp chế

Thực tiễn pháp luật và tư pháp -  2 tuần trước

(PLPT) - Thí điểm luật sư công chỉ đúng hướng khi khóa chặt phạm vi, giao đúng việc, ngăn chồng lấn và chặn nguy cơ hành chính hóa.