Bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững về dân số ở Việt Nam
Nguyễn Văn Đại*
Thứ năm, 26/03/2026 - 18:21
(PLPT) Luật Dân số năm 2025 đã đặt nền móng pháp lý quan trọng thể hiện rõ quan điểm, nhận thức mới của Việt Nam về chính sách dân số, tạo cơ sở pháp lý tốt hơn để bảo đảm quyền tự quyết của phụ nữ về sinh sản bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững về dân số trong giai đoạn hiện nay.
Tóm tắt: Phát triển bền vững ở các quốc gia
và ở Việt Nam cần được tiếp cận trong một chỉnh thể thống nhất của các trụ cột
phát triển, không chỉ tập trung về kinh tế, chính trị và môi trường. Các vấn đề
xã hội trong đó phát triển bền vững về dân số cần được xem là một trụ cốt cốt
lõi, có vị trí và tầm ảnh hưởng ngày càng quan trọng. Công ước xóa bỏ mọi hình
thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW 1979) đã ghi nhận: Bảo đảm phụ nữ được tiếp cận dịch vụ chăm
sóc sức khỏe, bao gồm kế hoạch hóa gia đình; phụ nữ có quyền quyết định tự do
và có trách nhiệm về số con, thời điểm sinh con và khoảng cách giữa các lần
sinh[1].
Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển thịnh vượng của dân tộc, Việt Nam
xác định lấy con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và và mục
tiêu của sự phát triển[2].
Luật Dân số năm 2025[3] đã
đặt nền móng pháp lý quan trọng thể hiện rõ quan điểm, nhận thức mới của Việt
Nam về chính sách dân số, tạo cơ sở pháp lý tốt hơn để bảo đảm quyền tự quyết
của phụ nữ về sinh sản bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững về dân số trong giai
đoạn hiện nay. Tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, đặc
biệt là trong nhận thức và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật.
Từ
khóa: Quyền tự quyết sinh sản của phụ nữ, Phát triển bền vững dân số, Việt Nam.
Abstract: Sustainable development in
countries and in Viet Nam needs to be approached as a unified whole of development
pillars, not only focusing on economics, politics, and the environment. Social
issues, including sustainable population development, should be considered a
core pillar with an increasingly important position and influence. The
Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women
(CEDAW 1979) recognizes: ensuring women have access to healthcare services,
including family planning; women have the right to make free and responsible
decisions regarding the number of children, the timing of childbirth, and the
spacing between births. In the new era - the era of prosperous national
development - Viet Nam identifies people as the center,
the subject, the main resource, and the goal of development. The Population Law 2025 has laid an important legal
foundation, clearly reflecting Viet Nam’s new perspective and awareness regarding
population policy, creating a better legal basis for ensuring women’s
reproductive autonomy in order to meet the requirements of sustainable
population development in the current period. However, many issues still need
further improvement, particularly in awareness and in the organization of the
implementation of policies and laws.
Keywords: Women's reproductive autonomy,
sustainable population development, Viet Nam.
1. Bối cảnh, cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ
1.1. Bối cảnh trong và ngoài nước
Hiện
nay, bối cảnh quốc tế và trong nước đã có nhiều thay đổi. Trong Chương
trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc, các mục tiêu về dân số chiếm vị trí đặc
biệt quan
trọng, gắn bó mật thiết với phát triển bền vững. Kể từ sau Hội nghị Cairo 1994
của
Liên hợp quốc về dân số và phát triển, xu thế dân số và phát triển được khẳng
định với
yêu cầu chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, chất lượng, phân bố dân số
và
phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội,
đảm bảo mọi
người dân đều được bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển.
Nhiều
nước trên thế giới đã thành công trong việc giảm sinh nhưng chưa có nước nào
thành
công trong việc tăng mức sinh trở lại, mặc dù có nhiều chính sách khuyến sinh.
Thích
ứng với già hóa dân số đã trở thành vấn đề toàn cầu. Vấn đề dân số, nhất là hạn
chế
sinh đẻ luôn được các tổ chức quốc tế, các nước xem xét dưới góc độ nhân quyền.
Cơ quan thuộc Liên hợp quốc cho biết, thay vì tập trung vào tác động của dân số
thế giới tăng vọt, các nước nên xem xét quyền sinh sản của phụ nữ để củng cố
"khả năng phục hồi nhân khẩu học" góp phần ổn định kinh tế xã hội ở
các quốc gia.[4]
Việt
Nam là quốc gia đông dân, có mật độ dân số cao. Hiện tại ở Việt Nam,
những nơi điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn có mức sinh cao, có nơi
rất
cao. Trong khi ở một số vùng đô thị, kinh tế phát triển, mức sinh đã xuống
thấp, có nơi
thấp xa so với mức sinh thay thế. Theo nhiều nghiên cứu quốc tế, Việt Nam là
một
trong 5 nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới[5]. Thời gian còn lại của thời
kỳ dân số vàng không nhiều, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh diễn ra
trầm
trọng. Đô thị hóa, công nghiệp hóa và điều kiện sinh sống ở một số vùng khó
khăn đặt
ra nhiều thách thức trong công tác quản lý di cư.
Chính
sách hạn chế mức sinh kéo dài giải quyết được vấn đề quy mô nhưng cũng
để lại nhiều hệ lụy, trong đó phải kể đến: tình trạng mất cân bằng giới tính
khi sinh
ngày càng trầm trọng; chất lượng dân số bị ảnh hưởng do những người chưa có
điều
kiện nuôi dạy con tốt còn sinh nhiều con. Ngược lại, nếu quy mô dân số không
hợp lý
sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đầu tư cho đảm bảo an sinh xã hội[6],
tăng thu nhập bình quân
trên đầu người nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Kinh
tế nước ta tăng trưởng nhanh, tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu
người năm 2020 đạt trên 3.500 USD[7],
vượt qua ngưỡng nước nghèo, chất lượng cuộc
sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Vượt qua ngưỡng nước nghèo vừa có cơ hội
đầu
tư cho công tác dân số, vừa không còn cơ hội nhận được nhiều nguồn vốn viện
trợ, vốn
vay ưu đãi của quốc tế và các quốc gia trong những năm tới.
Theo Cục Thống kê, quy mô GDP theo
giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD,
tăng 38 tỷ USD so với năm 2024 (476 tỷ USD). GDP bình quân đầu người năm 2025
theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng
326 USD so với năm 2024 (4.700 USD)[8].
1.2. Cơ sở lý luận bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ
Quyền
tự quyết về sinh sản của phụ nữ được xác định là một bộ phận cấu thành của quyền con người,
đồng thời là biểu hiện cụ thể của quyền tự do cá nhân và quyền bình đẳng giới
trong lĩnh vực đời sống riêng tư và gia đình. Về mặt lý luận, quyền này phản
ánh nguyên tắc tự chủ của phụ nữ trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến
sinh sản, bao gồm: quyết định có con hay không, số con, thời điểm sinh con,
khoảng cách giữa các lần sinh; đồng thời bao hàm quyền được tiếp cận thông tin,
giáo dục giới tính và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản an toàn, có chất
lượng[9]. Khi
được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật quốc gia, quyền tự quyết về sinh sản
vừa mang bản chất của quyền nhân thân và quyền về sức khỏe, vừa là biểu hiện cụ
thể của quyền công dân trong nhà nước pháp quyền.
Trên
bình diện quốc tế, quyền sinh sản của phụ nữ đã được ghi nhận trong nhiều văn
kiện quan trọng về quyền con người và quyền phụ nữ, như United Nations (UN) và
các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc, đặc biệt là United Nations Population
Fund (UNFPA). Các chuẩn mực này không chỉ khẳng định quyền của cá nhân mà còn
đặt ra ba nhóm nghĩa vụ cơ bản cho Nhà nước: tôn trọng (không can thiệp tùy
tiện), bảo vệ (ngăn ngừa sự xâm hại từ bên thứ ba) và bảo đảm thực hiện (thông
qua pháp luật, chính sách và cung cấp dịch vụ). Do đó, bảo đảm quyền sinh sản
của phụ nữ không chỉ mang ý nghĩa pháp lý thuần túy mà còn là điều kiện nền
tảng để thúc đẩy bình đẳng giới thực chất, nâng cao vị thế xã hội và chất lượng
cuộc sống của phụ nữ trong bối cảnh phát triển hiện đại.
Trong
mối liên hệ với phát triển, quyền tự quyết về sinh sản cần được đặt trong khung
khái niệm phát triển bền vững. Theo định nghĩa kinh điển của World Commission
on Environment and Development trong Báo cáo Our Common Future (1987), phát
triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà
không làm tổn hại khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Từ đó, phát
triển bền vững về dân số có thể được hiểu là quá trình điều chỉnh quy mô, cơ
cấu, phân bố và chất lượng dân số phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khả năng của tài nguyên và
môi trường, nhằm bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng, công bằng xã hội và bảo vệ
môi trường.
Cách tiếp cận này nhấn mạnh rằng chính sách dân số không chỉ hướng đến kiểm
soát số lượng, mà còn phải chú trọng duy trì mức sinh hợp lý, cải thiện chất
lượng dân số (thể chất, trí tuệ, kỹ năng), bảo đảm cơ cấu dân số cân đối và gắn
kết chặt chẽ giữa dân số với phát triển.
Về
phương diện lý thuyết, quyền tự quyết sinh sản của phụ nữ được đặt trên nền
tảng của các học thuyết xã hội và pháp lý hiện đại. Trước hết, lý thuyết nữ
quyền (feminist theory) cung cấp cơ sở tư tưởng quan trọng thông qua nguyên tắc
“tự chủ cơ thể” (bodily autonomy)[10]. Các
học giả như Simone de Beauvoir đã chỉ ra rằng sự kiểm soát đối với cơ thể và
khả năng sinh sản là một trục quyền lực trung tâm trong cấu trúc bất bình đẳng
giới[11]. Từ
góc độ này, quyền tiếp cận biện pháp tránh thai, dịch vụ phá thai an toàn và
giáo dục giới tính toàn diện không chỉ là vấn đề y tế, mà còn là điều kiện để
phụ nữ đạt được bình đẳng trong giáo dục, lao động và đời sống chính trị. Như
vậy, quyền sinh sản gắn liền với việc tái cấu trúc quan hệ quyền lực trong xã
hội.
Bên
cạnh đó, lý thuyết công bằng sinh sản (reproductive justice) - được phát triển bởi các nhà hoạt
động da màu tại Hoa Kỳ như SisterSong Women of Color Reproductive Justice
Collective -
đã mở rộng khung phân tích vượt ra ngoài cách tiếp cận “quyền lựa chọn”
(pro-choice). Lý thuyết này xác lập ba quyền cốt lõi: (i) quyền có con; (ii)
quyền không có con; và (iii) quyền nuôi dạy con trong môi trường an toàn, lành
mạnh và bền vững[12].
Cách tiếp cận công bằng sinh sản nhấn mạnh rằng việc thực hiện quyền không chỉ
phụ thuộc vào sự ghi nhận pháp lý, mà còn bị chi phối bởi các yếu tố cấu trúc
như giai cấp, chủng tộc, điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng tiếp cận dịch
vụ. Do đó, bất bình đẳng xã hội có thể làm suy giảm nghiêm trọng khả năng hiện
thực hóa quyền sinh sản, ngay cả khi quyền đó đã được luật hóa.
Trong
bối cảnh toàn cầu hiện nay, các biến động nhân khẩu học - bao gồm mức sinh thấp
kéo dài ở nhiều quốc gia và sự gia tăng chi phí nuôi dạy con - đặt ra những
thách thức mới đối với phát triển bền vững. Báo cáo Tình trạng Dân số Thế giới
của United Nations Population Fund (UNFPA 2025) chỉ ra rằng khủng hoảng dân số
không đơn thuần nằm ở mức sinh cao hay thấp, mà ở thực tế nhiều người, đặc biệt
là phụ nữ, không thể hiện thực hóa mong muốn sinh sản của mình [13].
Việc không thể tự do lựa chọn sinh hay không sinh, khi nào sinh và sinh bao
nhiêu con không chỉ xâm phạm quyền con người, mà còn làm gia tăng bất bình đẳng
giới và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, hạnh phúc và năng lực phát triển cá
nhân.
Nghiên
cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới có mức sinh thấp cho thấy, chi phí sinh con
và nuôi dạy con cái ngày càng đắt đỏ và hao tốn nguồn lực là một trong những
rào cản lớn nhất đối với việc sinh thêm con của các cặp vợ chồng cho dù họ vẫn
mong muốn có hai con hoặc nhiều hơn[14]. Các
bậc cha mẹ muốn sinh ít con để quan tâm nhiều hơn đến chất lượng phát triển cho
con cái và đầu tư nhiều hơn cho giáo dục (Becker, 1991; Willis, 1994). Tăng chi
phí cho trẻ em, bao gồm cả chi phí giáo dục công, tư, được xem là nguyên nhân
chính của hiện tượng suy giảm mức sinh ở các quốc gia Đông Á[15].
Từ
các phân tích trên có thể thấy, quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ và phát
triển bền vững về dân số có mối quan hệ biện chứng: bảo đảm quyền tự chủ của
phụ nữ là điều kiện để hình thành các quyết định sinh sản tự nguyện, có trách
nhiệm; đồng thời, một môi trường phát triển bền vững về kinh tế - xã hội lại tạo điều kiện vật chất
và thể chế để quyền đó được thực thi hiệu quả. Do đó, vai trò của Nhà nước cần
được định hình theo hướng kiến tạo và bảo đảm quyền, thông qua việc xây dựng
chính sách dựa trên quyền con người, cung cấp dịch vụ xã hội chất lượng, giảm
thiểu rào cản kinh tế xã hội và bảo đảm sự tham gia thực chất của phụ nữ vào
quá trình hoạch định chính sách. Chỉ trong khuôn khổ đó, quyền tự quyết sinh
sản mới thực sự trở thành nền tảng cho phát triển dân số bền vững và công bằng
trong xã hội hiện đại.
Theo
OECD (năm 2010), Hàn Quốc chi tiêu cao thứ tư trong số các nước được thống kê
và chi tiêu nhiều nhất cho khu vực tư (Lee, S., & Choi, H, 2015). Điều này
hàm ý rằng, các bậc cha mẹ Hàn Quốc buộc phải gia tăng chi phí để bảo đảm cho
con cái họ có thể tồn tại được trong môi trường học tập và làm việc cạnh tranh
rất khốc liệt. Tương tự ở Hàn Quốc, trong thời kỳ mức sinh giảm sâu ở Nhật Bản,
chi tiêu của các gia đình cho giáo dục, nuôi dạy con cái không nhỏ, Nhật Bản
chỉ xếp sau Hàn Quốc, Chile và Hoa Kỳ. Do đó, việc dự thảo Luật đặt
ra vấn đề hỗ trợ và cung cấp các ưu đãi về tài chính để khuyến khích sinh đủ
hai con là phù hợp.
Tuy
nhiên, cần lưu ý thời điểm áp dụng chính sách và mức ưu đãi tài chính là rất
quan trọng. Các quốc gia, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Âu đã áp dụng nhiều biện
pháp hỗ trợ tài chính trực tiếp để khuyến sinh song hiệu quả không cao do mức
sinh đã giảm quá sâu (như trường hợp của Hàn Quốc và Nhật Bản trong Hình 1).
Ở các nước trên thế giới một vấn đề lý thuyết đặt ra là không ít
các cặp đôi đã cạn kiệt tài chính trong quá trình điều trị vô sinh, hiếm muộn
và phải dừng lại. Trong khi đó, hầu hết các nước Tây Âu đã có các gói bảo hiểm
cho việc điều trị vô sinh cũng như các hỗ trợ tài chính khác. Ở Đan Mạch, 8% số
trẻ em được sinh ra hằng năm là nhờ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm IVF.
Các nước, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Australia đều có các chính sách
hỗ trợ trực tiếp cho điều trị vô sinh.[16]
Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thịnh vượng của dân tộc Việt Nam,
đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của
Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu,
nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm
châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển,
làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hoà bình, ổn định, phát triển của thế
giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Đích đến của kỷ nguyên
vươn mình là dâu giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các
cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện
thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang
phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở
thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào
khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát
vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại[17].
1.3. Cơ sở thực tiễn bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ
Ở
Việt Nam, ngày Dân số thế giới 11/7/2025 do Liên Hợp Quốc phát động vừa qua với
chủ đề “Quyền tự quyết về sinh sản trong một thế giới đang thay đổi” một
lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc bảo đảm cho phụ nữ được tự do quyết
định vấn đề sinh sản của mình. Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh Điều 10 Pháp
lệnh dân số vừa sửa đổi, bổ sung làm cơ sở để xây dựng, ban hành Luật dân số
năm 2025. Đồng thời, quy
định này đã đặt nền móng pháp lý đầu tiên khẳng định quyền tự quyết về
sinh sản của phụ nữ. Qua đó,
có thể hiểu quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ là khả năng tự đưa ra quyết định dựa
trên thông tin đầy đủ về việc sinh sản của một cá nhân. Khả năng này không chỉ
đơn thuần là việc cá nhân có thể tự quyết định đồng ý hay từ chối, mà đòi hỏi
phải có một môi trường hỗ trợ - cho phép cá nhân và các cặp đôi tự do lựa chọn
mà không bị cản trở về mặt pháp lý, chính trị, kinh tế hay các chuẩn mực xã hội
áp đặt[18].
Quyền
tự quyền về sinh sản của phụ nữ ở Việt Nam khi chưa được bảo đảm tốt đã ảnh
hưởng đến các vấn đề dân số thiếu tính bền vững ở Việt Nam, trong đó đặc biệt
là vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh con trong những năm vừa qua, được
thống kê với số liệu cụ thể sau[19]:
Điều này là bằng chứng về tình trạng mất
cân bằng giới tính khi sinh kéo dài khá lâu ở Việt Nam và những cảnh báo về hệ
lụy của sự mất cân bằng giới tính khi sinh cùng với sự quyết liệt thực hiện các
chính sách nhằm xóa bỏ sự can thiệp có chủ đích trong lựa chọn giới tính khi
mang thai ở Việt Nam trong thời gian qua chưa đạt hiệu quả cao; tình trạng mất
cân bằng giới tính khi sinh chưa được khắc phục.
Tổng tỷ suất sinh (TFR) là 1,91 con/phụ
nữ, dưới mức sinh thay thế. Kể từ năm 2009 đến hết năm 2022, trong suốt gần 15
năm, mức sinh của Việt Nam giữ trạng thái tương đối ổn định xung quanh mức sinh
thay thế. Tuy nhiên, trong hai năm gần đây, 2023-2024, mức sinh Việt Nam bắt
đầu có dấu hiệu giảm nhanh hơn. Năm 2023, TFR của Việt Nam là 1,96 con/phụ nữ
và con số này giảm tiếp xuống còn 1,91 con/phụ nữ vào năm 2024. Chỉ số già hóa
năm 2024 là 60,2%, tăng 11,4 điểm phần trăm so với năm 2019 và 16,9 điểm phần trăm
so với năm 2014. Số lượng người già từ 60 tuổi trở lên là 14,2 triệu người,
tăng 2,8 triệu người (tương ứng gấp 1,25 lần) so với năm 2019 và tăng 4,7 triệu
người (tương ứng gấp 1,5 lần) so với năm 2014. Dự báo đến năm 2030, số người từ
60 tuổi trở lên sẽ xấp xỉ 18 triệu người, tăng gần 4 triệu người so với năm
2024.[20]
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy phụ nữ vẫn
gặp phải nhiều rào cản như định kiến giới, áp lực kinh tế - xã hội và hạn chế
trong việc tiếp cận các dịch vụ sinh sản. Điều này cho thấy việc chỉ ghi nhận
quyền là chưa đủ mà cần xây dựng cơ chế bảo đảm để phụ nữ thực sự có khả năng,
lựa chọn quyết định các vấn đề về sinh sản của mình. Do đó, việc hoàn thiện cơ
chế nhằm bảo đảm quyền
tự quyết về sinh sản càng có
vai trò quan trọng, cần thiết phải đặt ra trước yêu cầu phát triển của đất nước
trong giai đoạn mới.
Từ
góc độ thực tiễn, việc bảo đảm quyền sinh sản của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay
diễn ra trong bối cảnh kinh tế - xã hội có nhiều biến đổi sâu sắc. Quá trình
công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho
phụ nữ tiếp cận tốt hơn với giáo dục, thông tin và các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe sinh sản. Hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước ngày càng hoàn
thiện, góp phần nâng cao chất lượng dân số, giảm tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ
sinh, đồng thời mở rộng quyền lựa chọn sinh sản của phụ nữ. Tuy nhiên, trên
thực tế, việc thực hiện quyền sinh sản của phụ nữ vẫn gặp không ít khó khăn do
ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa truyền thống, bất bình đẳng giới, chênh lệch
vùng miền và sự hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế, đặc biệt đối với phụ nữ
nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế khác. Những vấn đề như tảo
hôn, mang thai vị thành niên, phá thai không an toàn hay áp lực sinh con theo
quan niệm truyền thống vẫn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện
pháp luật và tăng cường các biện pháp bảo đảm quyền sinh sản của phụ nữ trong
thực tiễn.
Từ
quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ cho thấy, việc sinh bao nhiêu con là quyền của mỗi cặp vợ
chồng, nhưng qua bài học kinh nghiệm của các nước cho thấy quyền này không chỉ
liên quan đến mỗi gia đình, mỗi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của cả
quốc gia, dân tộc.[21]
2. Một số tồn tại, hạn chế trong bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ ở Việt Nam
Luật
Dân số 2025 được ban hành có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đánh dấu bước chuyển
quan trọng trong chính sách dân số của Việt Nam, khi chuyển từ định hướng kế
hoạch hóa sang bảo đảm quyền sinh sản[22]. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại
một số quy định chưa thực sự bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ
trong điều kiện hiện nay.
Thứ nhất, quy định của pháp
luật hiện hành chưa bảo đảm tốt cho các địa phương quyền chủ động, chính sách
đặc thù để xây dựng, tổ chức thực hiện các biện pháp, chính sách thích hợp về
giảm sinh, duy trì mức sinh thay thế hoặc khuyến sinh hợp lý để bảo đảm quyền
tự quyết về sinh sản của phụ nữ[23].
Việc thực hiện chính sách chung về dân số cho các địa phương sẽ khó đảm bảo mức
độ phát triển hài hòa về cơ cấu dân số tổng thể ở Việt Nam trong thời gian tới
đây. Thực tiễn ở các thành phố có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ có mức
sinh tự nhiên thấp, chênh lệch khá nhiều với các địa phương còn lại. Điều này
sẽ dẫn đến tình trạng mất cân bằng về cơ cấu dân số, nguồn nhân lực không đảm
bảo, tình trạng di cư ở các địa phương sẽ diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến các
yếu tố ổn định về an ninh, kinh tế xã hội.
Ở
Việt Nam, thực tiễn cho thấy các thành phố lớn có mức độ tăng trưởng kinh tế
cao như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh lại có tỷ lệ sinh tự nhiên thấp hơn so
với nhiều địa phương khác[24].
Thực trạng này phản ánh những thay đổi trong nhận thức và trách nhiệm mang
thai, sinh con của phụ nữ, đồng thời cho thấy tác động đáng kể của các áp lực
về việc làm, thu nhập và mức sống đô thị đối với việc thực hiện quyền sinh sản
của phụ nữ.
Ngoài
ra, môi trường lao động cạnh tranh và thiếu các chính sách hỗ trợ hiệu quả cho
lao động nữ cũng làm gia tăng gánh nặng cho phụ nữ trong quá trình mang thai và
nuôi con. Trên thực tế, không ít phụ nữ lo ngại nguy cơ gián đoạn sự nghiệp,
giảm thu nhập hoặc mất cơ hội thăng tiến khi mang thai và sinh con. Thời gian
nghỉ thai sản, chế độ làm việc linh hoạt hay dịch vụ chăm sóc trẻ em tại đô thị
vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu, khiến quyền sinh sản của phụ nữ tuy được pháp
luật ghi nhận nhưng chưa thực sự được bảo đảm trong thực tiễn[25].
Thứ
hai, pháp
luật vẫn giới hạn các phương thức để phụ nữ có thể thực hiện quyết định sinh
sản của mình. Điều này thể hiện rõ rệt đối với phụ nữ độc thân. Theo quy định
tại khoản 23 Điều 3 Luật HNGĐ 2014, phụ nữ độc thân không được phép nhờ mang
thai hộ vì mục đích nhân đạo mà chỉ có vợ chồng mới có thể được quyền nhờ mang
thai hộ vì mục đích nhân đạo. Điều này vô hình chung đã giới hạn các phương
thức để phụ nữ độc thân có thể quyết định việc sinh con của mình. Nghị định
27/2025/NĐ-CP có mở rộng và cho phép phụ nữ độc thân có quyền tiếp cận kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản - IVF nếu có nguyện vọng, nhưng tất các kỹ thuật này đều giả
định rằng người phụ nữ còn có khả năng mang thai. Trong khi đó, mang thai hộ là
kỹ thuật duy nhất dành cho những trường hợp không thể tự mang thai vì lý do y
khoa như vô sinh, bệnh tim mạch nặng, ung thư, nhiễm HIV và mọi trường hợp bác
sĩ kết luận “không thể hoặc không nên mang thai”. Vì vậy, các hình thức hỗ trợ
sinh sản khác không thể thay thế được mang thai hộ và việc hạn chế này vô hình
chung đã loại bỏ nhóm phụ nữ nêu trên khỏi cơ hội làm mẹ. Mặc dù lý do đưa ra
có thể là do việc giữ bình ổn cấu trúc gia đình, đảm bảo mối liên kết giữa mẹ
và con. Nhưng khi đặt trong môi trường khuyến khích sinh cùng với sự thay đổi
nhận thức của giới trẻ về “gia đình” và mục tiêu là bảo đảm quyền tự quyết về
sinh sản thì quy định này tạo nên sự bất cập, không phù hợp với thực tiễn.
Hơn nữa, đối với các cặp vợ chồng,
mặc dù pháp luật cho phép cặp vợ chồng được nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo khi thỏa mãn các điều kiện được quy định tại khoản 2 điều 95 Luật HNGĐ
2014. Nhưng những điều kiện này lại có phần khắt khe, tạo rào cản để phụ nữ có
thể thực hiện được mong muốn sinh con của mình như: Một là, điều kiện về
người mang thai hộ phải là “người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên
chồng nhờ mang thai hộ”. Thực tế cho thấy nhiều người dù đáp ứng đầy đủ các
điều kiện còn lại và rất mong muốn có con, đã tìm được các người thân thích
khác hoàn toàn tự nguyện (bạn bè thân thiết..) thì họ cũng không thể thực hiện
được mong muốn có con của mình. Hai là, điều kiện về “vợ chồng đang
không có con chung”.. Những rào cản đó một mặt hạn chế quyền tự quyết về sinh
sản của phụ nữ, một mặt tạo ra sự mâu thuẫn với các mục tiêu nhằm khuyến sinh.
Mặc dù quyền sinh con của phụ nữ
được thừa nhận là một quyền nhân thân cơ bản, song pháp luật Việt Nam không xem
đây là một quyền tuyệt đối mà đặt ra các giới hạn và điều kiện nhất định nhằm
bảo đảm lợi ích chung của xã hội và quyền lợi của trẻ em[26]. Đối với mang thai hộ,
pháp luật chỉ cho phép thực hiện vì mục đích nhân đạo và tuyệt đối cấm mang
thai hộ vì mục đích thương mại. Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014 quy định, chỉ các cặp vợ chồng vô sinh, có xác nhận y tế và được sự đồng ý
tự nguyện của người mang thai hộ mới được phép tiến hành. Theo thống kê của Bộ
Y tế, chỉ có khoảng 500 trường hợp mang thai hộ được phê duyệt hợp pháp trong
giai đoạn 2015 - 2021, trong khi nhu cầu thực tế cao hơn nhiều[27]. Bên
cạnh đó, các quy định liên quan đến xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh
con nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản còn thiếu đồng bộ, đôi khi gây khó khăn cho
việc đăng ký khai sinh hoặc giải quyết tranh chấp. Điều này cho thấy, hệ thống
pháp luật chưa hoàn thiện để bắt kịp với sự phát triển của công nghệ sinh sản
hiện đại. Việc hạn chế này xuất phát từ yêu cầu phòng ngừa nguy cơ thương mại
hóa cơ thể phụ nữ và buôn bán trẻ em, một hiện tượng đã từng gây nhức nhối ở
một số quốc gia, như: Ấn Độ hay Thái Lan trước khi siết chặt pháp luật sinh sản.[28]
Thứ ba, những hạn chế từ rào cản về nhận
thức và điều kiện kinh tế ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyền tự quyết về sinh sản của
phụ nữ.Quyền tự quyết về sinh sản trong một thế giới đang thay đổi đang
chịu lực cản sâu sắc bởi yếu tố về nhận thức và điều kiện kinh tế của phụ nữ
khi có nguyện vọng mang thai, sinh con. Văn phòng Quỹ Dân số Liên Hợp quốc
(UNFPA) tại Việt Nam cho rằng, hàng triệu người trên khắp thế giới vẫn không
thể thực hiện được quyền về sinh sản và quyền tự do lựa chọn của mình. Dù rằng,
quyết định sinh con hoặc không có con là quyết định mang tính riêng tư và ảnh
hưởng lớn đến cuộc đời mỗi người. Văn phòng Quỹ Dân số Liên Hợp quốc cũng đã
thực hiện một cuộc khảo sát với sự tham gia của hơn 14 nghìn người trưởng thành
tại 14 quốc gia để tìm hiểu về mong muốn sinh con và kết quả thực tế mà mỗi cá
nhân đạt được cũng như thách thức mà họ gặp phải. Kết quả khảo sát cho thấy, 18%
số người được khảo sát cho rằng họ sẽ không đạt được số con như mong muốn, 11%
cho rằng mình sẽ sinh ít con hơn mức mà họ cho là lý tưởng.
Từ
đó có thể thấy, tỷ lệ sinh thấp tại các thành phố lớn không chỉ là hệ quả của
phát triển kinh tế mà còn phản ánh những rào cản xã hội và kinh tế đang tác
động trực tiếp đến quyết định mang thai, sinh con của phụ nữ. Việc bảo đảm
quyền sinh sản của phụ nữ vì vậy cần gắn liền với các chính sách hỗ trợ toàn
diện về việc làm, an sinh xã hội và cân bằng giữa công việc và gia đình, đặc
biệt trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng hiện nay.
Bên
cạnh những kết quả đạt được, còn một số hạn chế, tồn tại như tình trạng
mang thai ngoài ý muốn, nhất là ở tuổi vị thành niên và thanh niên còn nhiều và
có xu
hướng gia tăng, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Quản lý hoạt động phá thai ở
các
cơ sở y tế tư nhân còn nhiều bất cập. Chẩn đoán, lựa chọn giới tính thai nhi
vẫn còn
phổ biến. Vẫn còn nhiều trạm y tế xã chưa đạt chuẩn quốc gia do cơ sở vật chất
còn
chưa đáp ứng, thiếu trang thiết bị, dụng cụ y tế, thiếu cán bộ y tế... nên việc
cung cấp
dịch vụ còn chưa đầy đủ, kịp thời cho người sử dụng. Nhu cầu về dịch vụ chăm
sóc
sức khỏe sinh sản, KHHGĐ của người dân ở các xã nghèo, khó khăn, ở miền núi,
vùng
sâu, vùng xa và vùng đông dân có mức sinh cao còn rất lớn trong khi hệ thống
cung
cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ gặp những khó khăn về địa lý,
trình
độ phát triển kinh tế, xã hội còn thấp.
Thứ
tư, những
rào cản từ vấn đề bất bình đẳng giới dẫn đến phụ nữ không còn có quyền tự quyết
về sinh sản. Bất bình đẳng là một trong những rào cản lớn nhất ảnh hưởng đến
việc bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ tại Việt Nam. Mặc dù pháp
luật đã có nhiều quy định khẳng định nguyên tắc bình đẳng giới, song trên thực
tế, những định kiến và khuôn mẫu giới truyền thống vẫn ăn sâu bám rễ trong đời
sống xã hội, chi phối lựa chọn của phụ nữ về việc sinh con của mình.
Bất
bình đẳng giới làm suy giảm quyền tự quyết trong việc mang thai và sinh con. Quyền tự quyết thai sản của phụ nữ
bao gồm quyền quyết định có mang thai hay không, mang thai khi nào, sinh bao
nhiêu con và trong điều kiện nào. Tuy nhiên, bất bình đẳng giới khiến quyền này
trên thực tế không được thực hiện đầy đủ, dù về mặt pháp lý có thể đã được thừa
nhận. Trong nhiều gia đình và cộng đồng, quyền ra quyết định sinh sản vẫn chịu
sự chi phối của nam giới, gia đình chồng hoặc các chuẩn mực văn hóa truyền
thống. Phụ nữ có thể bị gây áp lực phải sinh con sớm, sinh nhiều con hoặc sinh
con trai để “hoàn thành thiên chức”, làm suy giảm khả năng lựa chọn tự do của
họ đối với cơ thể và tương lai của chính mình.
Gánh
nặng chăm sóc không được chia sẻ làm hạn chế lựa chọn sinh sản. Bất bình đẳng giới thể hiện rõ qua
việc phụ nữ gánh vác phần lớn công việc chăm sóc không lương như mang thai,
sinh nở, nuôi con và việc nhà. Khi trách nhiệm này không được chia sẻ công
bằng, phụ nữ phải đối mặt với nguy cơ gián đoạn học tập, sự nghiệp và thu nhập.
Trong bối cảnh đó, nhiều phụ nữ buộc phải trì hoãn hoặc từ bỏ mong muốn sinh
con, không phải vì không có quyền về mặt pháp lý, mà vì điều kiện xã hội không
cho phép họ thực hiện quyền đó một cách an toàn và bình đẳng. Như vậy, bất bình
đẳng giới không chỉ ép sinh con, mà trong nhiều trường hợp còn tước đi quyền
được sinh con theo mong muốn.
Bất
bình đẳng trong thị trường lao động làm gia tăng rủi ro khi mang thai. Trong môi trường lao động, phụ nữ
thường đối mặt với định kiến giới như bị coi là “kém cam kết” sau khi sinh con,
ít cơ hội thăng tiến hoặc bị phân biệt đối xử khi mang thai. Điều này khiến
việc mang thai trở thành một rủi ro kinh tế đối với phụ nữ. Khi phụ nữ phải cân
nhắc giữa sinh con và sự ổn định nghề nghiệp, quyền tự quyết thai sản bị đặt
trong thế đánh đổi, chứ không còn là một quyền tự do thực chất. Bất bình đẳng
giới vì vậy trực tiếp làm suy yếu khả năng thực hiện quyền sinh sản một cách tự
nguyện và an toàn.
Hạn
chế tiếp cận thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản. Ở những nhóm phụ nữ yếu thế (phụ nữ
nghèo, lao động di cư, phụ nữ dân tộc thiểu số), bất bình đẳng giới thường đi
kèm với bất bình đẳng về giáo dục và y tế. Việc thiếu thông tin đầy đủ về biện
pháp tránh thai, kế hoạch hóa gia đình hay chăm sóc sức khỏe sinh sản khiến phụ
nữ không có đủ điều kiện để đưa ra quyết định sáng suốt. Trong trường hợp này,
quyền tự quyết thai sản tồn tại trên danh nghĩa nhưng không có năng lực thực
thi, do phụ nữ không được trao quyền đầy đủ về tri thức và dịch vụ.
Thứ năm, với việc mang thai ở
tuổi vị thành niên vẫn là một vấn đề xã hội cấp bách tại Việt Nam, chính quyền
đang triển khai một loạt hoạt động theo chủ đề “Không mang thai tuổi vị thành
niên - cho tương lai và hạnh phúc của bạn” nhằm nâng cao nhận thức của giới trẻ
về hành vi tình dục có trách nhiệm, quyền được chăm sóc sức khỏe sinh sản và
tầm quan trọng của các phương pháp tránh thai an toàn, nhằm hưởng ứng Ngày
Tránh thai Thế giới (26 tháng 9)[29].
UNFPA giúp nâng cao năng lực của giới trẻ về sức khỏe sinh sản và tình dục. Dự
án nâng cao nhận thức của các nữ thanh thiếu niên Việt Nam về sức khỏe sinh sản
Việt Nam thúc đẩy chăm sóc sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên, giới trẻ.
Theo báo cáo năm 2024 của Bộ Y tế về Sức khỏe Mẹ và Trẻ em, tỷ lệ mang thai ở
tuổi vị thành niên từ 15-19 chiếm khoảng 2,5% - 3% tổng số ca sinh của cả nước,
với khoảng 3.000 ca phá thai được ghi nhận hàng năm tại các cơ sở y tế công lập[30].
Hơn nữa, các quy định pháp luật cũng
chưa đủ sức răn đe, khiến tình trạng bạo lực gia đình vẫn xảy ra, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến việc bảo đảm quyền TQVSS của phụ nữ. Đặc biệt là khi mang
thai, một trong năm phụ nữ (18%) vẫn bị đánh trong lúc mang thai cho biết họ đã
bị đá hoặc đấm vào bụng, gây ảnh hưởng cho cả mẹ và thai nhi[31]. Gây
ra tình trạng sẩy thai, thai chết lưu và nạo phá thai. Nghiên cứu này cũng chỉ
ra rằng 26% phụ nữ bị bạo lực thể xác và/hoặc tình dục đã phải nạo phá thai so
với 17% phụ nữ không bị bạo lực. Hay 29,1% phụ nữ bị bạo lực khi mang thai từng
bị sảy thai so với 17,1% phụ nữ không bị bạo lực. Sự thiếu tính nghiêm khắc,
răn đe của các quy định pháp luật đã không tạo được môi trường thích hợp, khiến
quyền TQVSS của phụ nữ bị xâm phạm nghiêm trọng.
Thứ
sáu,
thủ tục hành chính liên quan đến hộ tịch còn bất cập ảnh hưởng đến quyền tự
quyết sinh sản của phụ nữ. Các thủ tục đăng ký hộ tịch, khai sinh cho trẻ sinh
từ ART hoặc do mang thai hộ yêu cầu văn bản xác nhận của cơ sở y tế và hồ sơ
kèm theo (giấy chứng sinh, văn bản cam kết, giấy tờ nhân thân của cha mẹ). Thực
tiễn cho thấy, ở một số trường hợp (phụ nữ độc thân, lao động di cư, trường hợp
cha/mẹ là người nước ngoài hoặc khi có yếu tố hiến - tặng) việc chuẩn bị giấy
tờ, xác minh quan hệ cha mẹ gặp khó khăn, đặc biệt khi quy định hộ tịch chưa có
hướng dẫn chuyên sâu đồng bộ với quy định chuyên ngành Y tế.[32]
Luật Hộ tịch chỉ quy định
nguyên tắc chung về khai sinh cho trẻ nhưng lại thiếu hướng dẫn chi tiết cho
trường hợp trẻ sinh từ mang thai hộ hoặc nhờ tinh trùng, noãn hiến. Điều này
dẫn đến sự lúng túng trong thực tiễn đăng ký hộ tịch ở nhiều địa phương, gây
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền nhân thân của phụ nữ và trẻ em. Trong khi
đó, Bộ Y tế quản lý chuyên môn về ART nhưng lại không có thẩm quyền xử lý hồ sơ
hộ tịch. Tình trạng “chồng chéo thẩm quyền” này phản ánh sự cần thiết phải có
hướng dẫn liên ngành giữa Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, Bộ Công an và Ủy ban nhân dân
các cấp, nhằm thống nhất quy trình giải quyết để bảo đảm tốt nhất quyền nhân
thân của phụ nữ khi sinh sản.
3. Giải pháp bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững về dân số ở Việt Nam
Thứ nhất,cần nâng cao nhận thức, quan điểm cho các
cấp chính quyền, phụ nữ và các tổ chức, cá nhân có liên quan
Nâng cao nhận thức của các chủ thể trong xã hội về bảo đảm quyền
tự quyết về sinh sản của phụ nữ là một yêu cầu cấp thiết nhằm thúc đẩy bình
đẳng giới và bảo vệ quyền con người. Quyền tự quyết về sinh sản bao gồm quyền
của phụ nữ trong việc quyết định có hay không sinh con, số con, thời điểm sinh
con, cũng như quyền tiếp cận thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản an
toàn, phù hợp.
Trước hết, cần nâng cao nhận thức của cơ quan nhà nước và đội ngũ
cán bộ, công chức về vai trò và ý nghĩa của quyền tự quyết sinh sản của phụ nữ.
Việc hiểu đúng và đầy đủ quyền này sẽ góp phần bảo đảm quá trình xây dựng, thực
thi chính sách, pháp luật liên quan đến dân số, y tế, hôn nhân và gia đình được
thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ. Bên cạnh
đó, việc tuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong
việc thay đổi các quan niệm truyền thống, định kiến giới vẫn còn tồn tại, như
tư tưởng trọng nam khinh nữ hay coi sinh sản là nghĩa vụ bắt buộc của phụ nữ.
Thông qua các chương trình truyền thông, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh
sản, xã hội có thể hình thành nhận thức đúng đắn rằng quyền sinh sản là quyền
cá nhân, không bị chi phối bởi áp lực gia đình hay xã hội.
Cần đẩy mạnh giáo dục, truyền thông và nâng cao nhận thức xã hội
về quyền sinh sản và bình đẳng giới. Thông qua giáo dục giới tính toàn diện,
truyền thông cộng đồng và các chương trình can thiệp xã hội, cần từng bước xóa
bỏ các định kiến giới, phong tục tập quán lạc hậu như trọng nam khinh nữ hay áp
lực buộc phụ nữ phải sinh con theo ý chí của gia đình, dòng họ. Việc thay đổi
nhận thức không chỉ giúp phụ nữ thực hiện đầy đủ quyền tự quyết về sinh sản mà
còn góp phần điều chỉnh hành vi sinh sản theo hướng có trách nhiệm, phù hợp với
mục tiêu phát triển bền vững về dân số.
Ngoài ra, cần chú trọng nâng cao nhận thức của chính phụ nữ về
quyền tự quyết sinh sản của mình, giúp họ tự tin hơn trong việc đưa ra các
quyết định liên quan đến sức khỏe và cuộc sống cá nhân. Điều này có thể đạt
được thông qua việc mở rộng tiếp cận thông tin, dịch vụ tư vấn, hỗ trợ pháp lý
và y tế thân thiện, an toàn.
Thứ hai,hoàn thiện chính sách, pháp luật bảo đảm
tính pháp lý để phụ nữ thực hiện tốt quyền tự quyết về sinh sản
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng
ghi nhận đầy đủ, rõ ràng quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ như một quyền
con người cơ bản, bảo đảm quyền quyết định có con hay không, số con, thời điểm
sinh con và khoảng cách sinh con mà không bị ép buộc, phân biệt đối xử. Việc
xây dựng và sửa đổi pháp luật cần bảo đảm hài hòa giữa tôn trọng quyền cá nhân
của phụ nữ và mục tiêu điều chỉnh mức sinh phù hợp với yêu cầu phát triển bền
vững, thích ứng linh hoạt với tình trạng mức sinh thấp, già hóa dân số và mất
cân bằng giới tính khi sinh.
Pháp luật cần có quy định nhằm tăng cường khả năng tiếp cận của
phụ nữ đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình
an toàn, chất lượng và bình đẳng. Nhà nước cần đầu tư mở rộng mạng lưới y tế cơ
sở, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, khu công nghiệp và khu vực có đông lao động
nữ di cư, nhằm bảo đảm mọi phụ nữ đều được cung cấp thông tin, tư vấn và dịch
vụ sinh sản phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình. Việc cung ứng dịch vụ
cần đặt trọng tâm vào nguyên tắc tự nguyện, tôn trọng quyền lựa chọn và bảo đảm
bí mật đời sống riêng tư, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dân số và giảm
thiểu các rủi ro về sức khỏe sinh sản.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt
các điều kiện ràng buộc để thực hiện thuận lợi việc đăng ký và quản lý khai
sinh bảo đảm tố hơn quyền sinh con, nuôi con của phụ nữ trong những hoàn cảnh
đặc biệt.
Thứ ba,bảo đảm nguồn lực, thúc đẩy an sinh xã hội
gắn với các điều kiện cụ thể bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ
Cần hoàn thiện các chính sách an sinh xã hội và hỗ trợ gia đình
nhằm tạo điều kiện để phụ nữ yên tâm thực hiện quyền sinh sản của mình. Các
chính sách về lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội, thai sản, chăm sóc trẻ em và
cân bằng giữa công việc và gia đình cần được thiết kế theo hướng thân thiện với
phụ nữ, giảm gánh nặng sinh sản và nuôi con, đặc biệt trong bối cảnh mức sinh
thấp và già hóa dân số. Đây là giải pháp quan trọng nhằm khuyến khích sinh đủ,
sinh có trách nhiệm trên cơ sở tôn trọng quyền tự quyết của phụ nữ. Tăng cường
vai trò phối hợp của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng
trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ. Việc giám
sát, đánh giá thực hiện chính sách dân số và quyền sinh sản cần được thực hiện
thường xuyên, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm quyền của phụ
nữ. Thông qua đó, có thể bảo đảm sự hài hòa giữa quyền tự quyết về sinh sản của
phụ nữ và mục tiêu phát triển bền vững về dân số, góp phần vào sự phát triển ổn
định, lâu dài của xã hội Việt Nam.
Cần hoàn thiện đồng bộ hệ thống
chính sách an sinh xã hội nhằm tháo gỡ các rào cản kinh tế - xã hội đang cản
trở việc thực hiện quyền tự quyết sinh sản. Các quy định pháp luật liên quan
đến nhà ở, giáo dục và việc làm cần được rà soát để chuyển từ trạng thái “ghi
nhận” sang các cơ chế bảo đảm các điều kiện vật chất thực tế. Trọng tâm là xây
dựng môi trường hỗ trợ phụ nữ cân bằng giữa gia đình và công việc, đồng thời
định hướng chính sách lao động theo hướng khuyến khích sự chia sẻ trách nhiệm
chăm sóc con cái từ phía nam giới và xã hội, thay vì chỉ tập trung gia tăng
quyền lợi thai sản cục bộ cho lao động nữ - điều có thể gây ra tác dụng ngược
về cơ hội việc làm.
Về kinh phí
thực hiện công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, ngoài nguồn kinh phí do ngân
sách nhà nước cấp, các bộ, ngành, địa phương cần chủ động huy động nguồn kinh
phí hỗ trợ của các tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế hoặc lồng ghép vào các
chương trình, dự án khác để có nguồn kinh phí bảo đảm thực hiện. Việt Nam cần
tiếp tục tranh thủ được nguồn đầu tư về tài chính và kỹ thuật từ các chương
trình, dự án của Quỹ Dân số Liên hợp quốc UNFPA, Plan, Marie Stopes
International Việt Nam và của các nước, các tổ chức
quốc tế khác cho công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, góp phần bảo đảm nguồn
lực để thực hiện các mục tiêu về công tác dân số nói chung, bảo đảm quyền tự
quyết của phụ nữ về sinh sản.
Thứ tư,cần có những chính sách đặc biệt để bảo đảm quyền của phụ nữ là dân tộc
thiểu số trong việc thực hiện quyền tự quyết về sinh sản
Bảo vệ các
dân tộc thiểu số trước hết là phải tạo năng lực phát triển để đồng bào
các dân tộc thiểu số nhanh chóng hòa nhập với sự phát triển, với xã hội; đồng
thời tạo
điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp cận được với các dịch vụ xã hội
cơ bản
và cơ hội để phát triển kinh tế. Để đồng bào các dân tộc thiểu số có năng lực
phát triển
và có cơ hội tiếp cận thì họ phải được trang bị kiến thức, kỹ năng thực hành
các hành
vi khoa học, đồng thời nhà nước cần phải ưu tiên đầu tư các chương trình, dự án
phát
triển kinh tế - xã hội, chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ tại vùng đồng bào dân
tộc
thiểu số để họ được tiếp cận thuận tiện, có chất lượng đáp ứng sự phát triển
của con
người, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Theo kết
quả Điều tra 53 dân tộc thiểu số cho thấy, đến nay đã có 88,0% phụ nữ
dân tộc thiểu số mang thai có đến các cơ sở y tế để khám thai trong lần sinh
gần nhất.
Tuy nhiên, mức độ này không đồng đều giữa các dân tộc. Một số dân tộc có tỷ lệ
khám
thai rất cao như dân tộc Thổ (98,3%), Tà Ôi (97,8%), Cờ Ho (97,6%), nhưng cũng
có
một số dân tộc có tỷ lệ khám thai thấp phư: La Hủ (45,3%), La Ha (63,5%), Mảng
65,9%). Nhưng nhìn chung tỷ lệ sinh con tại nhà và không có cán bộ chuyên môn
đỡ
vẫn còn cao ở một số dân tộc như Mảng, Mông, Cống và La Hủ (50,6%, 38,8%, 37,0%
và 36,5%). Thực trạng này là một trong các nguy cơ dẫn đến các tai biến khó
lường
như chết mẹ sau sinh, chết trẻ em dưới 1 tuổi hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe của
phụ nữ
và trẻ sơ sinh.[33] Từ
thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có nhiều giải pháp hữu hiệu, chính
sách sát thực, khả thi và nhân văn để bảo đảm tốt nhất quyền của phụ nữ là dân
tộc thiểu số trong việc thực hiện quyền tự quyết về sinh sản trong điều kiện
hiện nay.
4. Kết luận
Trong
tiến trình đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
trong việc bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực dân số, gắn với nỗ
lực thể chế hóa và thực thi các chuẩn mực quyền con người trong quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN[34].
Cách tiếp cận dân số ngày càng chuyển từ tư duy quản lý hành chính thuần túy
sang tiếp cận dựa trên quyền (rights-based approach), trong đó quyền con người,
bình đẳng giới và lợi ích chính đáng của cá nhân được đặt ở vị trí trung tâm.
Trong bối cảnh hiện nay, bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản của phụ nữ có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ với tư cách là một quyền con người cơ bản
mà còn là điều kiện để thực hiện bình đẳng giới thực chất và thúc đẩy phát
triển bền vững. Quyền này cho phép phụ nữ chủ động quyết định việc có con hay
không, thời điểm sinh con và số con, trên cơ sở cân nhắc tình trạng sức khỏe,
điều kiện kinh tế - xã hội và nguyện vọng cá nhân. Về bản chất, đó là sự khẳng
định quyền tự chủ cơ thể và quyền định đoạt đời sống riêng tư của phụ nữ trong
khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối diện với những biến động
nhân khẩu học đáng chú ý như mức sinh giảm dưới mức thay thế ở nhiều khu vực,
quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh, cùng với áp lực kinh tế - xã hội ngày
càng gia tăng. Bên cạnh đó, các định kiến giới và chuẩn mực văn hóa truyền
thống, đặc biệt là tâm lý trọng nam khinh nữ và kỳ vọng về vai trò sinh sản của
phụ nữ trong gia đình, vẫn tồn tại ở những mức độ khác nhau. Những yếu tố này
có thể tạo ra các áp lực trực tiếp hoặc gián tiếp, làm hạn chế khả năng thực
hiện quyền tự quyết sinh sản của phụ nữ trên thực tế, dù quyền này đã được pháp
luật ghi nhận.
Trong bối cảnh đó, việc điều chỉnh
và hoàn thiện chính sách dân số cần được định hướng theo nguyên tắc lấy quyền
và lợi ích của phụ nữ làm trung tâm, bảo đảm mọi biện pháp can thiệp của Nhà
nước đều tôn trọng quyền tự nguyện, không phân biệt đối xử và không mang tính
ép buộc. Đồng thời, cần chú trọng nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản; tăng cường giáo dục giới tính và giáo dục
bình đẳng giới; từng bước xóa bỏ các định kiến bất lợi đối với phụ nữ; và xây
dựng hệ thống chính sách xã hội hỗ trợ phụ nữ cân bằng giữa vai trò gia đình và
sự tham gia vào thị trường lao động. Chỉ khi quyền tự quyết về sinh sản của phụ
nữ được bảo đảm một cách thực chất - không chỉ trên phương diện pháp lý mà cả trong điều kiện
kinh tế, văn hóa và xã hội - thì các mục tiêu dân số mới có thể được thực hiện trên cơ
sở tự nguyện, nhân văn và bền vững, qua đó đóng góp tích cực cho sự phát triển
toàn diện của đất nước.
Tài
liệu tham khảo
1. Nghị quyết số 27-NQ/TW
về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai
đoạn mới
2. Báo cáo quốc gia về bảo
vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát
(UPR) chu kỳ IV.
3. Bộ Y tế, Báo cáo số
905/BC-BYT, ngày 7 tháng 7 năm 2025 về tổng kết thi hành Pháp lệnh Dân số.
4. Bộ Tư pháp, Báo cáo số
324/BCTĐ-BTP ngày 18 tháng 7 năm 2025 về thẩm định dự thảo Luật Dân số.
5. Quốc hội (Ủy ban Văn hóa
và Xã hội), Báo cáo số 1214/BC-UBVHXH15, ngày 21 tháng 10 năm 2025 về thẩm định
dự án Luật Dân số.
6. Nguyễn Thị Hồng Yến,
Quyền sinh sản của phụ nữ dưới góc độ quyền con người, Tạp chí Luật học, số 8
năm 2018.
7. UNFPA (2025), Cuộc khủng
hoảng thực sự về sinh sản: Theo đuổi quyền tự quyết về sinh sản trong một thế
giới đang thay đổi (Tình trạng dân số thế giới theo thống kê của Liên hợp quốc
năm 2025).
8. Becker, Gary.
(1991), A Treatise on the Family. Enlarged Edition, Harvard
University Press, Cam-bridge, Massachusetts.
9. Rotabi, K. S., &
Bromfield, N. F. (2012), The decline in intercountry adoptions and new
practices of global surrogacy: Global exploitation and human rights concerns, Affilia, 27(2), 129 – 141.
10. Mohr, S. and Koch, L.
(2016), Transforming Social Contracts: The social and cultural history of
IVF in Denmark, Reproductive Biomedicine & Society Online, 2, pp.
88-96.
11. Ý Yên (2023), Thiếu nhà
trẻ, mẫu giáo tại các khu công nghiệp, Tạp chí lao động đoàn thể, truy cập ngày
9/11/2025.
12. Thu Hằng (2024), Khan
hiếm nguồn cung nhà ở xã hội tại 2 thành phố lớn, Báo Tin tức và Dân tộc, truy
cập ngày 9/11/2025.
13. Linh La (theo AFP,
CNA), Thế giới cần tập trung cho quyền sinh sản của phụ nữ thay vì lo lắng
về dân số, Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, https://www.phunuonline.com.vn/the-gioi-can-tap-trung-cho-quyen-sinh-san-cua-phu-nu-thay-vi-lo-lang-ve-dan-so-a1489898.html.
14. Hồng Minh, “Bảo đảm
quyền tự quyết về sinh sản là phòng, chống bạo lực gia đình”, Báo pháp luật
ngày 21/7/2025, https://baophapluat.vn/bao-dam-quyen-tu-quyet-ve-sinh-san-la-phong-chong-bao-luc-gia-dinh.html.
15. Hoàng Tuấn Vũ, Những
chính sách đáng chú ý tại Luật Dân số 2025, Tạp chí Luật sư Việt Nam
(19/12/2025), https://lsvn.vn/nhung-chinh-sach-dang-chu-y-tai-luat-dan-so-2025-a167341.html.
16. Vân Thanh, “Quyền tự do
lựa chọn về sinh sản phải được tôn trọng”, Báo Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/quyen-tu-do-lua-chon-ve-sinh-san-phai-duoc-ton-trong-post203134.html.
17. Đỗ Thu Hiến (Học viện
Báo chí tuyên truyền), Quyền chủ động sinh con của phụ nữ ở Việt Nam - cơ
sở lý luận, thực tiễn và giải pháp, Tạp chí Quản lý nhà nước, 18/12/2025, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/18/quyen-chu-dong-sinh-con-cua-phu-nu-o-viet-nam-co-so-ly-luan-thuc-tien-va-giai-phap/.
18. Minh Hậu, Kết quả điều
tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2025-1-6/Ket-qua-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-giua-ky-nam-2024nbhom0.aspx.
19. Nguyễn Hoài Sơn (Viện Xã
hội học và Tâm lý học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Chính sách duy
trì mức sinh thay thế trong dự thảo Luật Dân số, Tạp chí Quản lý nhà nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/08/18/chinh-sach-duy-tri-muc-sinh-thay-the-trong-du-thao-luat-dan-so/.
* TS.GVC, Phó Trưởng
Khoa Luật học - Trường Đại học Vinh. Email: nvdaikl@gmail.com, ngày duyệt
đăng 26/3/2026.
[1] Điều 12 và Điều 16, Công ước xóa bỏ mọi hình
thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW 1979), Việt Nam gia nhập Công ước CEDAW
năm 1982
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam
(2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I.H.
NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 47, 231.
[3] Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua Luật Dân số 2025 Luật số
113/2025/QH15, Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
[4] Linh La (theo AFP, CNA), Thế
giới cần tập trung cho quyền sinh sản của phụ nữ thay vì lo lắng về dân số, Báo
Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, https://www.phunuonline.com.vn/the-gioi-can-tap-trung-cho-quyen-sinh-san-cua-phu-nu-thay-vi-lo-lang-ve-dan-so-a1489898.html.
[5]
Báo cáo của United Nations (Liên Hợp Quốc), World Bank và United Nations
Population Fund (UNFPA), năm 2021.
[6] Khi tăng tốc độ sinh phải đảm bảo điều kiện
nuôi dạy đứa trẻ cho đến khi đủ độ tuổi lao động. Theo các nghiên cứu trên thế
giới, dân số tăng 1% thì GDP phải tăng 4% mới đảm bảo mức sống và các dịch vụ
xã hội vì thời gian từ khi mang thai cho tới khi tham gia thị trường lao động
trung bình là 17,5 năm
[7] Theo https://vietnambiz.vn (Phát biểu của Thủ
tướng Chính phủ sáng 28/3/2021 tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng).
[8]
Minh Ngọc, “GDP năm
2025 tăng trưởng 8,02%, bình quân đầu người đạt 5.026 USD”, Báo điện tử
Chính phủ phủ, https://baochinhphu.vn/gdp-nam-2025-tang-truong-802-binh-quan-dau-nguoi-dat-5026-usd102260105152509472.htm?gidzl=Xf5qCzH10b29Xdqor5m5Keo0V3J8MGLHnj9wPPLP1rNFqtatmGu409ZGAMB03G43djPxPc9gwKvLtaa3NW.
[9]
Nguyễn Thị Hồng Yến, Quyền
sinh sản của phụ nữ dưới góc độ quyền con người, Tạp chí Luật học, số 8 năm
2018.
[10]
Mary Wollstonecraft:
Được xem là một trong những người đặt nền móng cho tư tưởng nữ quyền hiện đại
với tác phẩm A Vindication of the Rights of Woman (1792). Bà lập luận
rằng phụ nữ không kém nam giới về năng lực lý trí và cần được tiếp cận giáo dục
bình đẳng.
[11]
Simone de Beauvoir, The
Second Sex. Paris: Gallimard, 1949.
[12] Loretta Ross được xem là một trong những người
đặt nền móng cho khái niệm “reproductive justice”. Bà là đồng sáng lập tổ chức
SisterSong (1997) -
một mạng lưới phụ nữ da màu hoạt động vì quyền sinh sản. Rickie Solinger là học
giả có ảnh hưởng lớn trong việc hệ thống hóa và phát triển lý thuyết công bằng
sinh sản trong học thuật.
[13] UNFPA (2025), Cuộc khủng hoảng thực sự về sinh sản: Theo
đuổi quyền tự quyết về sinh sản trong một thế giới đang thay đổi (Tình
trạng dân số thế giới theo thống kê của Liên hợp quốc năm 2025), https://vietnam.unfpa.org/vi/publications/b%C3%A1o-c%C3%A1o-t%C3%ACnh-tr%E1%BA%A1ng-d%C3%A2n-s%E1%BB%91-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-2025, tr. 4.
[14] Nguyễn Hoài Sơn (Viện Xã hội học và Tâm lý học,
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Chính sách duy trì mức sinh thay thế
trong dự thảo Luật Dân số, Tạp chí Quản lý nhà nước
(https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/08/18/chinh-sach-duy-tri-muc-sinh-thay-the-trong-du-thao-luat-dan-so/).
[15] Becker, Gary. (1991). A Treatise on the
Family. Enlarged Edition. Harvard University Press. Cam-bridge,
Massachusetts.
[16] Mohr, S. and Koch, L. (2016). Transforming
Social Contracts: The social and cultural history of IVF in Denmark. Reproductive
Biomedicine & Society Online, 2, pp. 88-96.
[17] Xem thêm: Bài phát biểu của Tổng bí thư Tô Lâm
tại Lớp tập huấn bồi dưỡng cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban chấp hành Trung ương
Đảng Khóa XIV, ngày 31 tháng 10 năm 2024.
[18] UNFPA (2025), Cuộc khủng hoảng thực sự về sinh sản: Theo
đuổi quyền tự quyết về sinh sản trong một thế giới đang thay đổi (Tình
trạng dân số thế giới năm 2025), tlđd, tr.7.
[19] Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ
năm 2024 do Tổng cục Thống kê công bố ngày 6/1/2024.
[20] Minh Hậu, Kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa
kỳ năm 2024, https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2025-1-6/Ket-qua-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-giua-ky-nam-2024nbhom0.aspx.
[21] Vân Thanh, “Quyền tự do lựa chọn về sinh sản
phải được tôn trọng”, Báo Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/quyen-tu-do-lua-chon-ve-sinh-san-phai-duoc-ton-trong-post203134.html.
[22] Hoàng Tuấn Vũ, Những chính sách đáng chú ý tại
Luật Dân số 2025, Tạp chí Luật sư Việt Nam (19/12/2025):
https://lsvn.vn/nhung-chinh-sach-dang-chu-y-tai-luat-dan-so-2025-a167341.html.
[23] Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử chống lại phụ nữ năm 1979 (Công ước
CEDAW, Việt Nam là thành viên từ năm 1982) chỉ quy định nghĩa vụ của các quốc
gia thành viên
phải đảm bảo trên cơ sở bình đẳng nam nữ “quyền như nhau trong việc quyết định
một cách tự do và
có trách nhiệm về số con”, không quy định về “quyền sinh sản” (quyền tự do của
các cặp vợ chồng,
cá nhân trong việc quyết định số con và khoảng cách giữa các lần sinh). Khái
niệm quyền sinh sản
được nhắc đến trong một số văn kiện, tuyên bố tại các hội nghị quốc tế như
Tuyên bố Tehran tại Hội
nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1968, Chương trình hành động Hội nghị
Quốc tế về Dân
số và Phát triển năm 1994, Cương lĩnh Bắc Kinh tại Hội nghị Thế giới về phụ nữ
lần thứ 4 năm 1995..,
nhưng các văn bản này không phải điều ước quốc tế theo quy định của Công ước
Viên về Luật Điều
ước quốc tế năm 1969.
[24]
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, mức sinh ở các đô thị lớn thấp hơn
đáng kể so với mức trung bình cả nước; chẳng hạn, tổng tỷ suất sinh tại TP. Hồ
Chí Minh chỉ khoảng 1,39 con/phụ nữ, trong khi mức trung bình quốc gia khoảng
1,9 con (GSO, 2024).
[25] Vietnam Reports Fertility Rate Decline to 1.91
in 2024, Lowest Level So Far:
https://ngocentre.org.vn/mediahighlights/vietnam-reports-fertility-rate-decline-to-1-91-in-2024-lowest-level-so-far/?utm_source=chatgpt.com.
[26] Đỗ Thu Hiến, Quyền chủ động sinh con của phụ nữ ở Việt Nam - cơ sở lý luận,
thực tiễn và giải pháp, Tạp chí Quản lý nhà nước, 18/12/2025, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/18/quyen-chu-dong-sinh-con-cua-phu-nu-o-viet-nam-co-so-ly-luan-thuc-tien-va-giai-phap/.
[27] Bộ Y tế (2022). Báo cáo công tác dân số
và y tế sinh sản năm 2022.
[28] Rotabi, K. S., & Bromfield, N. F.
(2012). The decline in intercountry adoptions and new practices of
global surrogacy: Global exploitation and human rights concerns. Affilia,
27(2), 129 - 141.
[29] Hồng Minh, “Bảo đảm quyền tự quyết về sinh sản
là phòng, chống bạo lực gia đình”, Báo pháp luật ngày 21/7/2025, https://baophapluat.vn/bao-dam-quyen-tu-quyet-ve-sinh-san-la-phong-chong-bao-luc-gia-dinh.html.
[30] Báo cáo Công tác dân số và sức khỏe sinh sản
của Bộ Y tế năm 2024.
[31] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê và
Quỹ dân số Liên Hợp Quốc Tại việt Nam (2020), Báo cáo tóm tắt: Kết quả Điều
tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ tại Việt Nam năm 2019 - Hành trình để
thay đổi.
[32] Đỗ Thu Hiến (Học viện Báo chí tuyên truyền),
Quyền chủ động sinh con của phụ nữ ở Việt Nam - cơ sở lý luận, thực tiễn và giải pháp, Tạp
chí Quản lý nhà nước, 18/12/2025, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/18/quyen-chu-dong-sinh-con-cua-phu-nu-o-viet-nam-co-so-ly-luan-thuc-tien-va-giai-phap/.
[33] Bộ Y tế, Báo cáo số 905/BC-BYT, ngày 7 tháng 7
năm 2025 về tổng kết thi hành Pháp lệnh Dân số.
[34]
Nghị quyết số 27-NQ/TW
về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai
đoạn mới đã xác định rõ các đặc trưng về nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam,
trong đó nhấn mạnh đặc trưng: “Quyền con người, quyền công dân được công
nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật”.
(PLPT) - Bài viết phân tích xung đột pháp lý giữa “Quyền sửa chữa” (Right to Repair - R2R) và Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong bối cảnh chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn (KTTH) tại Việt Nam.
(PLPT) - Bài viết này, với tư cách là một nghiên cứu lý luận pháp lý, phân tích cấu trúc quy phạm của các cam kết đầu tư trong TEPA, làm rõ bản chất pháp lý của các nghĩa vụ, cơ chế giám sát và mối liên kết liên ngành giữa đầu tư và thương mại.
(PLPT) - Bài viết phân tích vấn đề tư cách pháp lý của sàn giao dịch bất động sản (SGDBĐS) từ góc độ thiết kế thể chế của chủ thể trung gian thị trường. Thay vì chỉ tiếp cận sàn giao dịch bất động sản như một mô hình kinh doanh dịch vụ hay một đối tượng quản lý hành chính.
(PLPT) Bài viết đề xuất một số khuyến nghị có thể vận dụng vào Việt Nam nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý chất thải điện tử.
(PLPT) Trên cơ sở phân tích Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược và các văn bản hướng dẫn chuyên ngành, đồng thời đối chiếu với kinh nghiệm của Liên minh châu Âu và Nhật Bản, bài viết làm rõ hạn chế của cách phân loại hiện hành, vốn chủ yếu dựa vào hình thức tổ chức thực hiện. Từ đó, bài viết đề xuất hoàn thiện khung pháp lý theo hướng phân loại dựa trên bản chất chế phẩm và mức độ can thiệp sinh học, nhằm xác định rõ ranh giới giữa kỹ thuật lâm sàng và sản phẩm trị liệu.
(PLPT) Ngày 26 tháng 10 năm 2025, Hoa Kỳ công bố hai hiệp định thương mại đối ứng đầu tiên với Malaysia và Campuchia, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong tư duy xây dựng các thỏa thuận thương mại quốc tế. Khác với mô hình hiệp định thương mại tự do truyền thống, các văn kiện này sử dụng thuế quan đối ứng như công cụ pháp lý chiến lược, nhằm thúc đẩy đồng bộ hóa chính sách, đảm bảo ổn định chuỗi cung ứng và bảo vệ an ninh kinh tế.
(PLPT) Từ việc phân tích và so sánh, bài viết đề xuất một số định hướng hoàn thiện các quy định về cấp phép SMR tại Việt Nam theo cách tiếp cận của pháp luật Hoa Kỳ, đảm bảo phù hợp với điều kiện thể chế, năng lực quản lý và bối cảnh phát triển năng lượng của nước ta.
(PLPT) - Bài viết này xem xét nền tảng lý thuyết của LIS và đánh giá thực trạng vận hành, công khai hệ thống này tại Việt Nam. Dựa trên khung phân tích so sánh, bài viết tham chiếu mô hình pháp lý, quản lý LIS ở một số quốc gia vận hành chính quyền địa phương hai cấp như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Pháp - trên một số lĩnh vực như định giá đất, phân bổ đất, thực thi quy định về công khai thông tin đất đai. Từ đó, bài viết đề xuất các khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về vận hành LIS hiệu quả tại Việt