Tóm tắt: Trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh chóng, các nền tảng số ngày càng nắm giữ quyền lực thị trường đáng kể, làm gia tăng nguy cơ các nền tảng số lạm dụng vị trí thống lĩnh làm bóp méo môi trường cạnh tranh, hạn chế cơ hội của đối thủ và gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Bài viết này phân tích cơ sở lý luận và khung pháp lý liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của các doanh nghiệp nền tảng số, xem xét kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc kiểm soát các hành vi lạm dụng của doanh nghiệp nền tảng, bao gồm việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cạnh tranh, tăng cường cơ chế thực thi và áp dụng các biện pháp quản lý đối với dữ liệu và thuật toán. Trên cơ sở đó, bài viết rút ra một số đề xuất cho Việt Nam nhằm hoàn thiện khung pháp lý về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trong môi trường số, nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực thị trường của các nền tảng số và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Từ khóa: nền tảng số, vị trí thống lĩnh, thị trường liên quan, cạnh tranh.
Abstract: In the context of the rapid development of the digital economy, digital platforms increasingly hold significant market power, which raises the risk of abusing dominant market positions and generating negative impacts on the competitive environment. This article analyzes the theoretical foundations and legal framework related to the abuse of dominant market position by digital platform enterprises. It also examines China’s experience in controlling abusive practices of platform companies, including the improvement of competition law, the strengthening of enforcement mechanisms, and the application of regulatory measures concerning data and algorithms. Based on this analysis, the article draws several lessons for Vietnam to improve its legal framework on competition in the digital environment, enhance the effectiveness of controlling the market power of digital platforms, and ensure a fair and healthy competitive environment.
Keyword: Digital platforms; Dominant market position, Relevant market; Competition.
I. Cơ sở lý luận và pháp luật về hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh trên nền tảng số
1.1. Khái niệm và nhận diện vị trí thống lĩnh thị
trường
Trong nền kinh tế thị
trường, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng diễn ra
bình đẳng, khi một số doanh nghiệp có thể nắm giữ sức mạnh vượt trội trên thị
trường. Chính trong bối cảnh đó, khái niệm “vị trí thống lĩnh thị trường” được
hình thành nhằm mô tả tình trạng một doanh nghiệp có khả năng chi phối đáng kể
đến giá cả, sản lượng hoặc các điều kiện giao dịch. Hiệp định thành lập Cộng
đồng châu Âu 1957, “vị trí thống lĩnh” được đề cập trong bối cảnh quy định về
kiểm soát hành vi lạm dụng. Theo đó, Hiệp định quy định việc một hoặc nhiều
doanh nghiệp nắm giữ vị trí thống lĩnh trên thị trường chung hoặc một phần đáng
kể của thị trường đó bị cấm lạm dụng, nếu hành vi này có thể ảnh hưởng đến
thương mại giữa các quốc gia thành viên[1]. Tuy nhiên, văn bản không
đưa ra định nghĩa cụ thể về “vị trí thống lĩnh”, mà chỉ sử dụng khái niệm này
như một căn cứ để áp dụng quy định cấm, đồng thời liệt kê các dạng hành vi lạm
dụng điển hình. Nội hàm của khái niệm này được hình thành và phát triển chủ yếu
thông qua thực tiễn xét xử của Tòa án Công lý EU, đặc biệt qua các án lệ sau
này như vụ Continental Can (1972), Tòa án Công lý EU khẳng định rằng “một
hành vi có thể bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh ngay cả khi không cần chứng
minh lỗi chủ quan, nếu doanh nghiệp nắm giữ sức mạnh thị trường thực hiện hành
vi dẫn đến việc loại bỏ hoặc gần như loại bỏ toàn bộ cạnh tranh, qua đó làm suy
giảm đáng kể quyền tự do lựa chọn của người tiêu dùng trên thị trường, thì hành
vi đó đã đủ để cấu thành lạm dụng[2]. Điều 102 của Hiệp ước về
Hoạt động của Liên minh châu Âu (TFEU) cấm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh,
song không đưa ra định nghĩa về khái niệm vị trí thống lĩnh. Trong thực tiễn ra
quyết định, các cơ quan của Liên minh châu Âu đã xác định: vị trí thống lĩnh
thị trường là một vị trí thể hiện sức mạnh kinh tế của một doanh nghiệp mà dựa
vào đó doanh nghiệp có thể làm cho cạnh tranh trên thị trường liên quan không
phát huy tác dụng và có thể hành xử độc lập ở mức độ đáng kể đối với các đối
thủ cạnh tranh, khách hàng và sau cùng là người tiêu dùng[3]. Trong Vụ án Hoffman La
Roche, Tòa án Công lý Châu Âu đã đưa ra định nghĩa về vị trí thống lĩnh thị
trường, định nghĩa này cho đến nay vẫn còn được sử dụng: vị trí thống
lĩnh là vị trí sức mạnh kinh tế mà một
doanh nghiệp nắm giữ, cho phép doanh nghiệp đó ngăn cản việc duy trì cạnh tranh
hiệu quả trên thị trường liên quan, bằng cách trao cho doanh nghiệp khả năng
hành xử ở một mức độ đáng kể một cách độc lập với các đối thủ cạnh tranh, khách
hàng của mình và cuối cùng là người tiêu dùng. Vị trí như vậy không loại trừ
hoàn toàn sự tồn tại của cạnh tranh như trong trường hợp độc quyền mà cho phép
doanh nghiệp được hưởng lợi từ vị trí đó, nếu không phải là quyết định thì ít
nhất cũng có ảnh hưởng đáng kể đến các điều kiện mà theo đó cạnh tranh sẽ phát
triển, và trong mọi trường hợp có thể hành động phần lớn không cần quan tâm đến
cạnh tranh, miễn là hành vi đó không gây bất lợi cho chính doanh nghiệp[4].
Luật Mẫu về cạnh tranh 2007
của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển The UNCTAD Model Law on
Competition 2007, sau đây gọi tắt là Luật Mẫu về cạnh tranh)[5] định nghĩa vị trí thống
lĩnh như một tiêu chí trung tâm trong việc đánh giá hành vi hạn chế cạnh:“Vị
trí thống lĩnh thị trường là tình trạng trong đó một doanh nghiệp, dù hoạt động
đơn lẻ hay cùng với một số doanh nghiệp khác, ở vào vị trí có thể kiểm soát thị
trường liên quan đối với một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể, hoặc một nhóm hàng
hóa hoặc dịch vụ”[6]. Trong pháp luật cạnh tranh
của Hoa Kỳ không đưa ra định nghĩa về vị trí thống lính mà tập trung vào thuật
ngữ "quyền lực độc quyền”. Khái niệm độc quyền chủ yếu được điều chỉnh
trong mục 2 Sherman Antitrust Act năm 1890[7]. Quyền lực độc quyền ở Hoa
Kỳ thường được hiểu là quyền kiểm soát giá cả và loại trừ cạnh tranh. Hai yếu
tố nêu trên đan xen nhau và đã được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xem xét như một thể
thống nhất. Không giống như Luật EU về lạm dụng vị trí thống lĩnh có các hướng
dẫn chi tiết về việc đánh giá thị trường liên quan và các ưu tiên thực thi khi
áp dụng Điều 102 TFEU đối với hành vi lạm dụng loại trừ của các doanh nghiệp
thống lĩnh, Hoa Kỳ không có các hướng dẫn chi tiết như vậy, Luật về độc quyền của Hoa Kỳ phải được diễn giải từ
chuỗi các phán quyết của Tòa án Tối cao Hoa
Kỳ và các tòa án phúc thẩm[8]. Trong pháp luật Hoa Kỳ,
độc quyền được nhìn nhận chủ yếu thông qua khái niệm quyền lực độc quyền và
hành vi lạm dụng quyền lực đó.
Tại Trung Quốc, vị trí
thống lĩnh được quy định trong Luật chống độc quyền 2007, bản sửa đổi bổ sung
2022 (sau đây gọi tắt là Luật chống độc quyền) tại Điều 22 đề cập đến vị trí
thị trường là việc một doanh nghiệp nắm giữ, cho phép doanh nghiệp đó kiểm soát
giá cả hoặc số lượng hàng hóa hoặc các điều kiện thương mại khác trên thị
trường liên quan, hoặc cản trở hoặc ảnh hưởng đến khả năng gia nhập thị trường
liên quan của các doanh nghiệp khác[9]. Ngoài ra, Luật chống độc
quyền cũng đề cập đến cách xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thông qua
sự kết hợp giữa các tiêu chí định lượng về thị phần và các yếu tố định tính về
sức mạnh kinh tế thực tế. Cụ thể, một doanh nghiệp được coi là có vị trí thống
lĩnh khi có khả năng kiểm soát giá cả, sản lượng hoặc các điều kiện giao dịch,
điều kiện tài chính, mức độ phụ thuộc của các chủ thể kinh doanh khác đối với
chủ thể đó trong các giao dịch v.v. Về mặt định lượng, luật thiết lập các
ngưỡng giả định thống lĩnh theo nguyên tắc suy đoán như sau: (1) Các doanh
nghiệp nắm giữ vị trí thống lĩnh thị trường khi thị phần của một doanh nghiệp
chiếm một nửa thị trường liên quan; (2) Khi thị phần chung của hai doanh nghiệp
chiếm hai phần ba thị trường liên quan; (3) Trong trường hợp thị phần chung của
ba doanh nghiệp chiếm ba phần tư của thị trường liên quan. Trong các trường hợp
được quy định tại mục (2) hoặc (3) của đoạn trước, nếu một trong các doanh
nghiệp có thị phần dưới một phần mười thì không được coi là doanh nghiệp đó nắm
giữ vị trí thống lĩnh thị trường[10]. Tuy nhiên, dù doanh nghiệp
đạt ngưỡng theo quy định nêu trên, doanh nghiệp vẫn có thể chứng minh rằng
mình không giữ vị trí thống lĩnh thị trường. Khi đó, doanh nghiệp sẽ không bị
xem là có vị trí thống lĩnh thị trường.
Bên cạnh đó, Điều 5 Luật
Bảo vệ Cạnh tranh của Liên bang Nga năm 2006 (sửa đổi năm 2024) cũng xác định
việc một doanh nghiệp (hoặc một nhóm doanh nghiệp) được coi là có vị trí thống
lĩnh khi họ ở vị trí đủ mạnh trên thị trường của một loại hàng hóa nhất định để
có thể chi phối thị trường, tức là quyết định hoặc tác động đáng kể đến giá cả,
số lượng, điều kiện mua bán chung; hoặc loại bỏ hoặc làm suy yếu đối thủ, khiến
các doanh nghiệp khác khó hoặc không thể tiếp tục hoạt động trên thị trường;
hoặc ngăn cản doanh nghiệp khác gia nhập thị trường, làm cho việc tham gia thị
trường trở nên khó khăn hoặc tốn kém[11]. Nói cách khác, doanh
nghiệp không cần phải độc quyền hoàn toàn, chỉ cần có sức mạnh thị trường đủ
lớn để kiểm soát hoặc ảnh hưởng đáng kể đến cách thị trường vận hành thì đã có
thể bị coi là có vị trí thống lĩnh.
Trong khi pháp luật cạnh
tranh của nhiều quốc gia chỉ sử dụng một trong hai thuật ngữ “vị trí thống lĩnh
thị trường” hoặc “độc quyền” để mô tả cùng một hiện tượng pháp lý, thì pháp
luật cạnh tranh Việt Nam lại tiếp cận theo hướng phân định rõ ràng giữa hai
khái niệm này. Theo quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành, cả
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường và doanh nghiệp độc quyền đều được
xác định là những chủ thể có sức mạnh thị trường đáng kể, với khả năng gây ra
những tác động hạn chế cạnh tranh thông qua hành vi của mình[12]. Theo Điều 24 của Luật
Cạnh tranh năm 2018 quy định doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có thể được
xác định là có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền dựa trên sức
mạnh thị trường và thị phần trên thị trường liên quan. Cụ thể, một doanh nghiệp
được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi có sức mạnh thị trường đáng kể
theo quy định tại Điều 26 Luật Cạnh tranh 2018 hoặc có thị phần từ 30% trở lên
trên thị trường liên quan. Đối với nhóm doanh nghiệp, vị trí thống lĩnh thị
trường được xác định khi các doanh nghiệp cùng hành động gây tác động hạn chế
cạnh tranh và có sức mạnh thị trường đáng kể hoặc có tổng thị phần đạt các
ngưỡng nhất định, gồm: hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên, ba
doanh nghiệp từ 65% trở lên, bốn doanh nghiệp từ 75% trở lên, và năm doanh
nghiệp trở lên từ 85% trở lên trên thị trường liên quan; tuy nhiên, trong nhóm
này không bao gồm doanh nghiệp có thị phần dưới 10%. Bên cạnh đó, theo Điều 25,
doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền khi không có doanh nghiệp nào khác
cạnh tranh về hàng hóa hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị
trường liên quan. Như vậy, doanh nghiệp chỉ được coi là có vị trí độc quyền khi
trên thị trường liên quan không tồn tại bất kỳ doanh nghiệp nào khác cung cấp
hàng hóa hoặc dịch vụ cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp đó. Điều này cho
thấy, độc quyền phản ánh trạng thái thị trường hoàn toàn vắng bóng cạnh tranh.
Ngược lại, trong trường hợp tồn tại doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường, mặc dù doanh nghiệp này có khả năng chi phối và kiểm soát thị trường ở
mức độ đáng kể, nhưng thị trường vẫn còn sự hiện diện của các đối thủ cạnh
tranh và duy trì một mức độ cạnh tranh nhất định.
Các hệ thống pháp luật cạnh
tranh tuy có sự khác biệt về cách tiếp cận nhưng đều có điểm chung khi nhìn
nhận “vị trí thống lĩnh thị trường” như sự biểu hiện của sức mạnh thị trường
đáng kể của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp đó kiểm
soát hoặc có thể gây tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan. Tuy
nhiên vẫn có một số điểm khác biệt, trong khi pháp luật cạnh tranh của Liên
minh châu Âu, Trung Quốc, Nga và Việt Nam đều thừa nhận khái niệm “vị trí thống
lĩnh”, kết hợp giữa các tiêu chí như khả năng chi phối thị trường, cản trở cạnh
tranh và trong nhiều trường hợp là các ngưỡng định lượng về thị phần để suy
đoán, thì pháp luật Hoa Kỳ lại không sử dụng khái niệm này mà tiếp cận thông
qua thuật ngữ “quyền lực độc quyền”, nhấn mạnh hai yếu tố cốt lõi là khả năng
kiểm soát giá và loại trừ cạnh tranh, được hình thành chủ yếu qua án lệ.
1.2. Khái niệm lạm dụng vị trí thống lĩnh
Việc doanh nghiệp nắm giữ
vị trí thống lĩnh không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó có hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh. Luật Mẫu
về cạnh tranh nhấn mạnh: “Việc chỉ đơn thuần nắm giữ vị
trí thống lĩnh không bị coi là hành vi chống cạnh tranh; cũng như việc đạt được
vị trí thống lĩnh thông qua cạnh tranh lành mạnh”[13] , mà các hành vi gây“(i)
giảm sản lượng và tăng giá; (ii) giảm chất lượng và sự đa dạng của dịch vụ/sản
phẩm; hoặc (iii) hạn chế đổi mới sáng tạo”[14] sẽ bị coi là hành vi hạn
chế cạnh tranh và chịu chế tài của pháp luật. Tức là pháp luật không điều chỉnh
hay trừng phạt khi doanh nghiệp đạt được vị trí thống lĩnh, mà hậu quả pháp lý
bất lợi có hay không sẽ phụ thuộc vào việc doanh nghiệp sử dụng vị trí thống
lĩnh đó vào mục đích gì và ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến thị trường. Tóm
lại trọng tâm điều chỉnh của luật cạnh tranh không nằm ở việc xác lập vị trí
thống lĩnh, mà ở tác động hạn chế cạnh tranh phát sinh từ việc lạm dụng quyền
lực thị trường. Án lệ Hoffmann-La Roche & Co.
AG v Commission là một trong những án lệ quan trọng của pháp luật cạnh
tranh châu Âu liên quan đến lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cũng xác định
khái niệm lạm dụng vị trí thống lĩnh, Công ty Hoffmann-La Roche
sản xuất vitamin quy mô lớn tại châu Âu, Ủy ban châu Âu xác định Roche có vị
trí thống lĩnh trên nhiều thị trường vitamin (A, B2, B6, C, E, H, v.v.). Roche
ký hợp đồng với khách hàng: Yêu cầu mua toàn bộ hoặc phần lớn nhu cầu từ Roche;
Áp dụng chiết khấu để giữ khách hàng. Ủy ban cho rằng đây là hành vi hạn chế
cạnh tranh và ra quyết định xử phạt[15]. Án lệ đã đưa ra khái niệm
về lạm dụng vị trí thống lĩnh được hiểu là hành vi “thông qua việc sử dụng
các phương thức khác với những phương thức chi phối cạnh tranh bình thường về
sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên các giao dịch của các chủ thể kinh doanh, có tác
dụng cản trở việc duy trì mức độ cạnh tranh vẫn còn tồn tại trên thị trường
hoặc sự phát triển của cạnh tranh đó”[16].
Tại Việt Nam, pháp luật
cạnh tranh Việt Nam thiết lập khuôn khổ pháp lý nhằm kiểm soát hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh, theo khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 định nghĩa lạm
dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền là hành vi của doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền gây tác động hoặc có khả năng
gây tác động hạn chế cạnh tranh[17]. Khoản 1 Điều 27 Luật Cạnh
tranh 2018 quy định cấm các doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh thị trường thực hiện những hành vi sau: (1) Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh. (2) Áp đặt giá mua, giá
bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt
hại cho khách hàng. (3) Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ hoặc giới
hạn thị trường nhằm gây thiệt hại cho khách hàng. (4) Áp dụng điều kiện thương
mại khác nhau đối với các giao dịch giống nhau, gây bất bình đẳng trong cạnh
tranh. (5) Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác khi ký kết hợp đồng, buộc họ
chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng hợp đồng. (6) Ngăn
cản việc tham gia hoặc mở rộng thị trường của doanh nghiệp khác. (7) Áp đặt các
điều kiện bất lợi cho khách hàng hoặc lợi dụng vị trí thống lĩnh để gây thiệt
hại cho khách hàng[18]. Như vậy, pháp luật cạnh
tranh Việt Nam không cấm việc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, mà
chỉ cấm việc doanh nghiệp lạm dụng vị trí đó để thực hiện các hành vi làm sai
lệch cạnh tranh, gây thiệt hại cho đối thủ hoặc người tiêu dùng.
Có thể nhận thấy rằng, pháp
luật cạnh tranh các quốc gia hoàn toàn không cấm việc doanh nghiệp đạt đến vị
trí thống lĩnh mà chỉ đưa ra các quy định cấm những hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh, làm suy yếu cạnh tranh bình thường của thị trường.
1.3. Hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh
Hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với môi trường cạnh
tranh lành mạnh cũng như sự vận hành hiệu quả của thị trường. Những tác động
này không chỉ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp đối thủ mà còn gây thiệt hại trực
tiếp cho người tiêu dùng và sự phát triển chung của nền kinh tế.
Thứ nhất, làm suy giảm hoặc loại bỏ
cạnh tranh trên thị trường. Khi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh sử dụng sức
mạnh thị trường để thực hiện các hành vi như bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
dưới giá thành nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh, áp đặt các điều kiện giao dịch
bất lợi hoặc ngăn cản doanh nghiệp khác gia nhập thị trường, các doanh nghiệp
đối thủ sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì và mở rộng hoạt động kinh doanh.
Điều này có thể dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp nhỏ hoặc mới gia nhập bị loại
khỏi thị trường, làm giảm số lượng chủ thể tham gia cạnh tranh và khiến cấu
trúc thị trường trở nên mất cân bằng.
Thứ hai, gây thiệt hại cho người
tiêu dùng. Khi cạnh tranh bị hạn chế, doanh nghiệp thống lĩnh có thể áp đặt giá
bán cao bất hợp lý, hạn chế sản lượng, giảm chất lượng hàng hóa hoặc dịch vụ,
hoặc áp đặt các điều kiện giao dịch bất lợi đối với khách hàng. Trong bối cảnh
thiếu sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp khác, người tiêu dùng sẽ có ít sự lựa
chọn hơn và buộc phải chấp nhận các điều kiện giao dịch do doanh nghiệp thống
lĩnh đặt ra, từ đó làm giảm phúc lợi của người tiêu dùng.
Thứ ba, làm biến dạng cơ chế vận
hành của thị trường. Cạnh tranh là cơ chế quan trọng giúp phân bổ nguồn lực
hiệu quả trong nền kinh tế. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống
lĩnh để duy trì quyền lực thị trường, các tín hiệu thị trường như giá cả, cung - cầu có thể bị bóp méo.
Điều này khiến quá trình phân bổ nguồn lực không còn phản ánh đúng nhu cầu của
thị trường, từ đó làm giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.
Thứ tư, tạo ra rào cản gia nhập
thị trường đối với doanh nghiệp mới. Các hành vi như ký kết hợp đồng độc quyền,
kiểm soát hệ thống phân phối, hoặc áp đặt các điều kiện thương mại bất lợi có
thể khiến các doanh nghiệp mới khó tiếp cận khách hàng hoặc nguồn cung đầu vào.
Điều này làm hạn chế khả năng gia nhập thị trường của các chủ thể mới, khiến
thị trường kém năng động và thiếu sự cạnh tranh cần thiết.
Thứ năm, làm suy giảm động lực đổi
mới và phát triển công nghệ. Trong một thị trường cạnh tranh lành mạnh, các
doanh nghiệp thường phải liên tục đổi mới, cải tiến công nghệ và nâng cao chất
lượng sản phẩm để duy trì vị trí của mình. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp thống
lĩnh lạm dụng quyền lực thị trường để duy trì vị trí mà không phải đối mặt với
áp lực cạnh tranh đáng kể, động lực đổi mới sáng tạo có thể bị suy giảm, từ đó
ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lâu dài của thị trường và nền kinh tế.
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường không chỉ làm suy giảm cạnh tranh lành
mạnh mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của người tiêu dùng và sự phát
triển ổn định, hiệu quả của thị trường.
II. Nhận diện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên nền tảng số
2.1. Đặc điểm thị trường nền tảng số
Sự xuất hiện của nền tảng số là một đặc trưng
quan trọng của nền kinh tế số. Theo định nghĩa rộng, nền tảng số là nơi các
tương tác xã hội và kinh tế diễn ra trực tuyến, thường thông qua các ứng dụng.
Nền tảng số là những khung kỹ thuật số nhiều mặt (multisided) định hình cách
thức các bên tham gia tương tác với nhau[19]. Các nền tảng số có chức
năng và cấu trúc rất đa dạng. Những nền tảng tiên phong đã làm thay đổi mạnh mẽ
nhiều ngành như bán lẻ, du lịch, hay giao thông, điển hình là Amazon,
Salesforce, Uber, Google và Facebook vừa là nền tảng cung cấp dịch vụ tìm kiếm,
mạng xã hội, vừa là hạ tầng để các nền tảng khác phát triển[20]. Trên nền tảng số, các chủ
thể kinh doanh có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh, và nền tảng số đóng
vai trò trung gian tương tác những người sản xuất - người tiêu dùng cuối cùng[21]. Trong bối cảnh chuyển đổi
số và sự phát triển mạnh mẽ của Internet, thị trường trên nền tảng số đã hình
thành với nhiều đặc điểm khác biệt so với thị trường truyền thống.
Các nền
tảng số thường vận hành theo cấu trúc thị trường đa chiều (multi-sided
market), trong đó nền tảng đóng vai trò trung gian kết nối nhiều nhóm người
dùng khác nhau như người bán, người mua và nhà quảng cáo, thay vì chỉ tồn tại
mối quan hệ giao dịch trực tiếp giữa người bán và người mua như trong thị
trường truyền thống. Theo một nghiên cứu của OECD, nền tảng đa phía là một nền
tảng kinh tế trung gian kết nối hai hoặc nhiều nhóm người dùng riêng biệt,
trong đó các nhóm người dùng này mang lại lợi ích mạng lưới cho nhau. Từ đó có
thể xuất hiện hiệu ứng mạng lưới gián tiếp (indirect network effect), nghĩa là
giá trị của nền tảng đối với một nhóm người dùng sẽ phụ thuộc vào số lượng
người tham gia ở nhóm còn lại. Khi một phía của nền tảng thu hút được nhiều
người dùng hơn, điều này sẽ làm cho nền tảng trở nên có giá trị hơn đối với
phía còn lại; kết quả là phía đó cũng có xu hướng thu hút thêm nhiều người
dùng hơn, và quá trình này tiếp tục lặp lại, khiến nền tảng ngày càng phát
triển[22].Thị trường nền tảng số cũng có những đặc điểm khác biệt so
với thị trường truyền thống, nổi bật là cấu trúc đa chiều kết nối nhiều nhóm
người dùng và tạo ra hiệu ứng mạng lưới, chi phí giao dịch và tìm kiếm thông
tin thấp nhờ công nghệ số, doanh nghiệp và người tiêu dùng tương tác với nhau
không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lí, cùng với vai trò then chốt của dữ
liệu và thuật toán trong việc tạo lợi thế cạnh tranh; những yếu tố này khiến
thị trường dễ tập trung cao, hình thành sức mạnh thị trường lớn và đặt ra
thách thức mới cho việc áp dụng pháp luật cạnh tranh. Vì vậy, có thể thấy rằng
sự khác biệt về cấu trúc và cơ chế vận hành của thị trường trên nền tảng số
đặt ra những thách thức mới cho việc đánh giá sức mạnh thị trường cũng như áp
dụng pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế số.
Pháp luật Việt Nam hiện nay
cũng đã đưa ra khái niệm về nền tảng số nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động
quản lý nhà nước đối với môi trường kinh doanh số. Cụ thể, khoản 2 Điều 3 của
Luật Thương mại điện tử năm 2025 quy định “nền
tảng thương mại điện tử là nền tảng số được thiết lập để thực hiện hoạt động
thương mại điện tử”[23], đồng thời phân loại thành các mô hình gồm: nền tảng
thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp, nền tảng thương mại điện tử trung
gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử và nền tảng thương mại điện tử
tích hợp. Trong đó, theo khoản 3 Điều 3: “nền
tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp là nền tảng do tổ chức, cá nhân
thiết lập để trực tiếp bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ”[24], còn theo khoản 4 Điều 3:
“nền tảng thương mại điện
tử trung gian là nền tảng cho phép các chủ thể khác đăng ký tài khoản để thực
hiện hoạt động giới thiệu, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên chính nền
tảng đó”[25]. Việc phân loại này có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường trên nền tảng số, bởi nền tảng trung gian thường có khả năng kiểm
soát dữ liệu, lưu lượng truy cập và khả năng tiếp cận khách hàng của các chủ
thể kinh doanh phụ thuộc vào nền tảng, từ đó dễ phát sinh các hành vi phản
cạnh tranh như áp đặt điều kiện giao dịch bất hợp lý, ưu tiên hiển thị sản
phẩm của chính nền tảng hoặc hạn chế khả năng tiếp cận thị trường của đối thủ
cạnh tranh. Đồng thời, Luật Thương mại điện tử năm 2025 cũng đặt ra các trách
nhiệm đối với chủ quản nền tảng số, như yêu cầu xây dựng hệ thống tiếp nhận
khiếu nại trực tuyến[26], cơ chế rà soát và gỡ bỏ
thông tin vi phạm, cũng như nghĩa vụ cung cấp dữ liệu và mô tả thuật toán
theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền[27].
Những quy định này cho thấy xu hướng tiếp cận của pháp
luật Việt Nam không chỉ dừng ở việc quản lý hoạt động thương mại điện tử mà
còn từng bước hình thành cơ sở pháp lý để kiểm soát sức mạnh thị trường và
các hành vi lạm dụng của các nền tảng số.
2.2. Một số hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh phổ
biến trên nền tảng số
Ngày càng có những dạng lạm
dụng vị trí thống lĩnh mới được nhận diện, đặc biệt gắn liền với môi trường kỹ
thuật số. Một số dạng lạm dụng vị trí thống lĩnh trên nền tảng số phổ biến có
thể kể đến như sau:
Một là, từ chối cho đối thủ
truy cập hạ tầng hoặc dữ liệu quan trọng. Trong thị trường số, cơ sở hạ tầng
thiết yếu không chỉ là đường sắt, điện, mạng viễn thông như trong cạnh tranh
truyền thống, mà còn bao gồm: API (Application Programming Interface), Dữ liệu
nền tảng (user data, usage data, clickstream), Kho ứng dụng (App Store, Google
Play), Công cụ thanh toán, đăng nhập, quảng cáo v.v. Hành vi này xuất phát từ
việc một doanh nghiệp lớn, nắm giữ vai trò thống lĩnh, không cho phép đối thủ
tiếp cận những yếu tố đầu vào quan trọng như công nghệ, dữ liệu, hay hệ thống
phân phối. Nền tảng số thường đóng vai trò “gatekeeper” (người gác cổng)[28], bởi họ kiểm soát những hạ
tầng hoặc dữ liệu mà các doanh nghiệp khác buộc phải dựa vào để cung cấp dịch
vụ. Khi từ chối cung cấp quyền truy cập, nền tảng có thể ngăn cản đối thủ tham
gia hoặc mở rộng thị trường, đồng thời khóa chặt hệ sinh thái khiến người dùng
và nhà cung cấp không có lựa chọn thay thế[29].
Hai là, bán phá giá hoặc
định giá mang tính chất hủy diệt[30]. Bán phá giá là chiến lược
của một doanh nghiệp lớn, chấp nhận chịu lỗ trong ngắn hạn để loại bỏ đối thủ
khỏi thị trường, sau đó sẽ tăng giá trở lại để bù đắp khoản lỗ. Trên nền tảng
số, việc xác định hành vi bán phá giá trở nên phức tạp hơn nhiều so với thị
trường truyền thống. Thứ nhất, chi phí biên của các sản phẩm số thường rất
thấp, thậm chí có trường hợp giá bằng 0 như trong mô hình “freemium”[31], khiến việc so sánh giá
với chi phí (price-cost test) không còn hiệu quả. Thứ hai, đặc thù của các nền
tảng đa chiều (multi-sided platforms) là chiến lược “trợ giá chéo”, tức chấp
nhận miễn phí hoặc giá rất thấp ở một phía thị trường nhằm thu hút người dùng,
rồi bù đắp chi phí từ phía khác[32] ví dụ Facebook để người
dùng dùng miễn phí hoàn toàn dịch vụ mạng xã hội, còn doanh nghiệp quảng cáo
trả tiền để tiếp cận người dùng. Vụ việc của Amazon như một ví dụ điển hình về
doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lược định giá dưới chi phí trong thời gian
dài để mở rộng thị phần và loại bỏ cạnh tranh trong thị trường số[33]. Mặc dù Amazon đã đạt được
mức tăng trưởng đáng kinh ngạc, công ty này lại tạo ra lợi nhuận khá khiêm tốn,
thay vào đó lựa chọn bán hàng dưới giá vốn và mở rộng hoạt động trên quy mô lớn[34].
Ba là, lạm dụng thông qua
hành vi lợi dụng cưỡng ép trên nền tảng (forced free riding), tức là một nền
tảng thống lĩnh sử dụng vị trí trung gian và dữ liệu có được từ các doanh
nghiệp phụ thuộc để chiếm đoạt sáng tạo, nội dung hoặc giá trị kinh doanh của
họ, từ đó hạn chế cạnh tranh[35]. Dạng hành vi này có thể
được thực hiện thông qua việc thu thập nội dung của các bên doanh nghiệp phụ
thuộc. Chẳng hạn, vào năm 2013, Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC) đã xem
xét liệu việc Google bị cáo buộc tiến hành “thu thập nội dung” có cấu thành một
phương thức cạnh tranh không công bằng hay không. Cụ thể, Google đã lấy nội
dung từ các nền tảng đánh giá nhà hàng và hiển thị trong các hộp kết quả tìm
kiếm chuyên biệt. Điều này khiến các đối thủ đó bị mất lượng truy cập web từ
công cụ tìm kiếm, và họ còn bị cho là đã bị Google đe dọa loại khỏi kết quả tìm
kiếm nếu dám phản đối hành vi này. Google sau đó đã đồng ý chấm dứt hành vi
trên và FTC không tiếp tục điều tra, vì vậy phân tích chi tiết và việc áp dụng
lý thuyết lạm dụng vị trí thống lĩnh đối với trường hợp này vẫn chưa được làm
rõ trong một quyết định chính thức[36]. Một dạng khác của hành vi
lợi dụng cưỡng ép trên nền tảng đó là lợi dụng dữ liệu về cả người mua và người
bán để tung ra các sản phẩm riêng của mình ngay trên chính nền tảng đó[37]. Hành vi lạm dụng có thể
phát sinh nếu nền tảng sử dụng vị trí trung gian giao dịch, cùng với việc nắm giữ lượng dữ liệu
khổng lồ của cả người mua và người bán người để nhằm
loại bỏ hoặc làm suy yếu đối thủ cạnh tranh.
Bốn là, lạm dụng vị trí thống lĩnh để ưu tiên
sản phẩm. Tự ưu tiên sản phẩm là việc
một nền tảng ưu tiên hiển thị hoặc thúc đẩy sản phẩm, dịch vụ của chính mình
hơn các sản phẩm, dịch vụ khác. Ví dụ gồm: thao túng thứ
hạng tìm kiếm và sử dụng dữ liệu giao dịch để quảng bá sản phẩm riêng[38]. Những hành vi này có thể
gây tác động tiêu cực đến người tiêu dùng và người bán. Từ góc độ lợi nhuận
doanh nghiệp, hành vi ưu tiên sản phẩm của các nền tảng có những tác động tích
cực, đó là thay vì phụ thuộc vào nhà kinh doanh bên ngoài, nền tảng có thể tự
quản lý, nhờ đó tiết kiệm chi phí giao dịch, kiểm soát chất lượng tốt hơn, đơn
giản hóa quy trình và giao hàng nhanh hơn[39]. Mặc dù việc nền tảng tự
ưu tiên sản phẩm của mình có thể mang lại một số lợi ích, nhưng trong nhiều
trường hợp, những nền tảng nắm giữ vai trò thống lĩnh thực hiện hành vì nhằm
mục đích loại bỏ đối thủ và củng cố vị trí của mình lại gây ra nhiều hệ quả
xấu. Trước hết, đối với các nhà kinh doanh bên thứ ba, nền tảng có thể lợi dụng
vai trò “người đặt luật chơi” để tạo rào cản, khiến họ gặp khó khăn khi kinh
doanh[40]. Ví dụ, trong vụ Google
Shopping (vụ án AT.39740), Tòa Công lý Liên minh châu Âu (ECJ) đã xác nhận rằng
Google đã ưu tiên hiển thị dịch vụ mua sắm của mình ở vị trí nổi bật trong kết
quả tìm kiếm, đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh của các dịch vụ tương tự
từ bên thứ ba[41].
Năm là, ràng buộc chính
sách quyền riêng tư. Đây là hành vi mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh áp đặt
các điều khoản thu thập dữ liệu đối với người tiêu dùng, cho phép họ sử dụng dữ
liệu đó trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Doanh nghiệp này có thể tận dụng dữ
liệu thu thập được từ thị trường mà họ đang thống lĩnh để thâm nhập sang một
thị trường mới có tập người dùng trùng lặp ngay cả khi các sản phẩm không liên
quan trực tiếp về mặt sử dụng. Hành vi này có thể được xem xét như một hình
thức lạm dụng sức mạnh thống lĩnh loại loại trừ, hoặc là sự kết hợp giữa lạm
dụng loại trừ và lạm dụng bóc lột (xét đến việc áp đặt các điều khoản sử dụng
dữ liệu rộng rãi đối với người tiêu dùng)[42]. Một ví dụ nổi bật là
quyết định của Bundeskartellamt (Cơ quan cạnh tranh Đức) năm 2019 đối với Meta.
Cơ quan này cho rằng Meta đã lạm dụng vị trí thống lĩnh của mạng xã hội
Facebook khi yêu cầu người dùng chấp nhận việc kết hợp dữ liệu cá nhân từ nhiều
nguồn, bao gồm Instagram, WhatsApp và dữ liệu thu thập từ các trang web bên
ngoài thông qua công cụ theo dõi của Facebook[43].
III. Kinh nghiệm từ pháp luật cạnh tranh của Trung Quốc và đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam
3.1. Pháp luật cạnh tranh của Trung Quốc điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường trên nền tảng số
Trung Quốc là một trong những nền kinh tế lớn
của thế giới với một số doanh nghiệp hàng đầu trong nền kinh tế số toàn cầu,
bao gồm Alibaba, Tencent và ByteDance (nhà phát triển TikTok), chính phủ Trung
Quốc đặc biệt quan tâm đến bất kỳ hành vi lạm dụng quyền lực thị trường hiện có
hoặc tiềm ẩn nào trong các thị trường công nghệ. Do đó, nước này đã thực hiện
một loạt biện pháp, bao gồm việc ban hành và thông qua các quy định về cạnh
tranh trong thị trường số, cùng với các dự thảo liên quan[44].
Khung
pháp lý của Trung Quốc về xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên nền
tảng số được cấu thành từ một hệ thống các văn bản pháp luật và hướng dẫn
chuyên biệt. Luật Chống Độc Quyền (Anti Monopoly Law - AML) ban hành năm 2007
và sửa đổi năm 2022 là nền tảng cơ bản, cấm các hành vi lạm dụng vị trí thị
trường, hạn chế cạnh tranh[45]. Điều 22, 23 và 24 của AML quy định về hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường. Trong đó, Điều 22 liệt kê các hành vi bị coi là lạm
dụng và bổ sung một khoản chung cho phép cơ quan chống độc quyền của Quốc vụ
viện xác định thêm các hành vi lạm dụng khác[46]. Điều 23 và 24 nêu rõ các tiêu chí để xác định một doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hay không. Cùng với sự phát triển của
các nền tảng số, Trung Quốc đã tăng cường lập pháp về các quy định chống độc
quyền và lạm dụng vị trí thống lĩnh trong thị trường nền tảng số[47]. Năm 2022, tại kỳ họp thứ
35 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nhân dân Toàn quốc khóa XIII, một bản sửa đổi
Luật Chống độc quyền đã được thông qua[48]. Trong bản sửa đổi, Điều 17 được chuyển thành Điều 22 và
bổ sung thêm một khoản quy định rằng: doanh nghiệp nắm giữ vị trí thống lĩnh
thị trường không được lợi dụng dữ liệu, thuật toán, công nghệ hay các quy tắc
vận hành nền tảng để thực hiện những hành vi lạm dụng đã nêu ở khoản trước[49]. Sự thay đổi lập pháp này
phản ánh sự chuyển biến rộng hơn trong triết lý quản lý của Trung Quốc đối với
nền kinh tế trên nền tảng số: từ giai đoạn mở rộng nhanh chóng nhưng thiếu
kiểm soát sang phát triển có trật tự; từ giám sát mang tính phản ứng sang quản
trị chủ động; từ các quy định rời rạc sang điều chỉnh có hệ thống; và từ mô
hình tăng trưởng dựa trên sự dung thứ sang cách tiếp cận cân bằng hơn giữa
thúc đẩy đổi mới và thực thi kỷ luật quản lý[50]. Vào tháng 12 năm 2020, Hội nghị Công tác Kinh tế Trung ương
đã nhấn mạnh rõ ràng việc tăng cường nỗ lực chống độc quyền và ngăn chặn sự mở
rộng hỗn loạn của vốn (việc các doanh nghiệp dùng tiền để bành trướng quá mức,
thiếu kiểm soát, gây mất cân bằng thị trường). Sau đó, vào tháng 2 năm 2021,
Ủy ban Chống Độc quyền của Quốc vụ viện đã ban hành Hướng dẫn chống độc
quyền cho lĩnh vực kinh tế nền tảng, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc đối xử
bình đẳng đối với tất cả các chủ thể tham gia thị trường và kêu gọi hoàn thiện
các tiêu chuẩn pháp lý để xác định vị trí thống lĩnh thị trường trong bối cảnh
các doanh nghiệp nền tảng[51]. Hướng dẫn nhằm bảo đảm
cạnh tranh công bằng trong nền kinh tế nền tảng, kiềm chế sự mở rộng vốn một
cách thiếu kiểm soát, và được xây dựng trong khuôn khổ pháp lý của Luật Chống
độc quyền, chứ không phải như một văn bản pháp luật độc lập[52]. Mục tiêu là xây dựng một
phương thức quản lý dựa trên cơ sở khoa học và hiệu quả, phù hợp với giai đoạn
phát triển, đặc điểm vận hành và cấu trúc của nền kinh tế nền tảng, đồng thời
bảo vệ các lợi ích hợp pháp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm điều kiện
thị trường công bằng[53]. Hướng dẫn được cấu trúc
thành bốn chương chính: thỏa thuận độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, tập trung kinh tế, và lạm dụng quyền lực hành chính để loại bỏ hoặc
hạn chế cạnh tranh. Điểm đáng chú ý là Hướng dẫn định nghĩa nền tảng số theo cách
khá rộng, vì vậy bao gồm nhiều loại hình doanh nghiệp hoạt động dựa trên nền
tảng là các công ty công nghệ lớn trong nước như Alibaba, Tencent,
Baidu và Meituan[54]. Như vậy có thể thấy rằng,
định hướng thực tiễn và mục tiêu chính sách của Hướng dẫn này đó là thiết lập
một khuôn khổ cho việc quản lý các giới hạn hành vi của các doanh nghiệp “siêu
nền tảng” thông qua một văn bản hướng dẫn có phạm vi áp dụng rộng rãi. Mặc dù
Hướng dẫn không nêu đích danh bất kỳ công ty nào, nhưng các mô hình kinh doanh,
hành vi thị trường và việc sử dụng các nguồn lực cạnh tranh như dữ liệu và
thuật toán được đề cập trong văn bản lại gắn chặt với thực tiễn vận hành của
những doanh nghiệp nền tảng hàng đầu này[55]. Đối với việc xác định thị
trường liên quan trên nền tảng số, cơ quan cạnh tranh không áp dụng phương
pháp SSNIP truyền thống (kiểm tra tác động của việc tăng giá 5–10%) vì các
sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng số thường được phân biệt rất rõ và cạnh tranh
chủ yếu diễn ra thông qua chất lượng dịch vụ, đổi mới công nghệ và trải
nghiệm người dùng hơn là giá cả. Thay vào đó, cơ quan quản lý sử dụng phương
pháp SSNDQ (Small but Significant Non-transitory Decrease in Quality), tức
đánh giá phản ứng của người dùng khi chất lượng dịch vụ bị giảm đáng kể và
kéo dài. Bên cạnh đó, việc xác định sức mạnh thị trường còn xem xét hiệu ứng
mạng (càng nhiều người tham gia, nền tảng càng có giá trị), hiệu ứng hai
chiều giữa các nhóm người dùng khác nhau trên nền tảng (ví dụ người mua và
người bán), cũng như vai trò của dữ liệu trong các mô hình kinh doanh dựa
trên dữ liệu. Ngoài ra, lợi thế kinh tế theo quy mô cũng được chú trọng vì
nền tảng có lượng người dùng lớn thường có lợi thế cạnh tranh vượt trội. Thị
trường liên quan có thể bao gồm các nền tảng cung cấp dịch vụ tương tự như
thương mại điện tử, giao đồ ăn, gọi xe hoặc mạng xã hội[56]. Cách tiếp cận này đã được áp dụng trong nhiều vụ việc
lớn, trong đó có các vụ xử phạt đối với Alibaba[57].
Bên
cạnh đó, Trung Quốc cũng tham khảo cách tiếp cận của Liên minh châu Âu (EU), đặc
biệt là Đạo luật Thị trường Kỹ thuật số (DMA), trong quản lý nền kinh tế nền
tảng. Điều này thể hiện qua việc Tổng cục Quản lý Giám sát Thị trường (SAMR)
công bố hai dự thảo văn bản quản lý vào cuối năm 2021. Nếu AML và Hướng dẫn chống độc quyền cho
lĩnh vực kinh tế nền tảng tập trung vào giám sát hậu kiểm thì bản dự thảo Hướng
dẫn Phân loại và xếp hạng các nền tảng Internet và Hướng dẫn về việc các
nền tảng Internet thực hiện trách nhiệm chính lại thiên về quy định tiền
kiểm[58]. Trong đó, Hướng dẫn về
phân loại và xếp hạng các nền tảng Internet, ban hành tháng 10 năm 2021, đề
xuất hệ thống phân loại nhiều cấp cho các nền tảng dựa trên chức năng và quy mô
thị trường. Đáng chú ý, văn bản này đưa ra định nghĩa định lượng về “siêu nền
tảng” dựa trên các chỉ số như: có trên 500 triệu người dùng trong nước hoạt
động trong năm liền kề, hoạt động cốt lõi trải dài ít nhất hai trong sáu lĩnh
vực lớn, giá trị vốn hóa thị trường hoặc định giá vượt quá 1 nghìn tỷ Nhân dân
tệ, và khả năng hạn chế đáng kể quyền tiếp cận người dùng cuối của các thương
nhân[59]. Dự thảo Hướng dẫn về
việc các nền tảng Internet thực hiện trách nhiệm chính, công bố tháng
11/2021, quy định nghĩa vụ khác nhau cho từng loại nền tảng, trong đó áp đặt
trách nhiệm nghiêm ngặt hơn đối với các nền tảng siêu lớn[60]. Các dự thảo hướng dẫn này
thể hiện nỗ lực áp dụng phương thức quản lý dựa trên rủi ro và phân cấp, nhằm
chủ động kiểm soát tác động hệ thống từ các nền tảng số thống lĩnh. Cách tiếp
cận định danh bằng tiêu chí định lượng này có nét tương đồng với Đạo luật Thị
trường Kỹ thuật số (DMA) của EU, vốn xác định “người gác cổng” dựa trên các
tiêu chí phản ánh vị trí thị trường vững chắc và tầm ảnh hưởng hệ thống. Cả hai
mô hình quản lý đều hướng sự giám sát vào các nền tảng siêu lớn có sức mạnh cấu
trúc và ảnh hưởng đáng kể đến hệ sinh thái số. Tuy nhiên, điểm khác biệt quan
trọng là ở địa vị pháp lý: trong khi DMA đã được ban hành và đã có hiệu lực
ràng buộc ở cấp độ EU, thì hai dự thảo hướng dẫn của Trung Quốc vẫn đang ở giai
đoạn tham vấn và chưa chính thức được thông qua hay áp dụng.
Bên cạnh
các quy định của Luật Chống độc quyền, trong bối cảnh nền kinh tế số, ranh
giới giữa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và hành vi cạnh tranh
không lành mạnh ngày càng có sự giao thoa đáng kể. Trên thực tế, nhiều hành vi
của các nền tảng số như áp đặt điều kiện giao dịch bất hợp lý, hạn chế khả
năng tiếp cận dữ liệu của đối thủ, ưu tiên hiển thị sản phẩm của chính nền
tảng hoặc áp dụng cơ chế “chọn một trong hai” không chỉ có dấu hiệu của hành
vi hạn chế cạnh tranh mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự cạnh tranh công
bằng trên thị trường. Do đó, Trung Quốc hiện áp dụng cơ chế phối hợp giữa Luật
Chống độc quyền và Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh nhằm nâng cao hiệu
quả kiểm soát các hành vi phản cạnh tranh trên nền tảng số. Ngày 27 tháng 6 năm 2025,
Trung Quốc đã thông qua bản sửa đổi của Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh (Against Unfair
Competition Law - AUCL), sẽ có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 2025. Là
một trong hai trụ cột của khung pháp lý cạnh tranh tại Trung Quốc bên cạnh Luật
Chống Độc Quyền (Anti Monopoly Law - AML), AUCL nhắm đến nhiều hành vi kinh
doanh không lành mạnh, bao gồm quảng cáo gây hiểu lầm, hối lộ thương mại, chiếm
đoạt bí mật kinh doanh và hành vi sai phạm trên thị trường số. Trong khi AML
điều chỉnh các thỏa thuận độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh, kiểm soát tập
trung kinh tế và các hạn chế cạnh tranh từ phía cơ quan hành chính, AUCL đóng
vai trò bổ trợ bằng cách tập trung vào các hành vi gian dối và phản cạnh tranh
nằm ngoài phạm vi của luật chống độc quyền truyền thống[61]. Bản sửa đổi năm 2025 của
AUCL đã mở rộng và cập nhật đáng kể nhằm đối phó với những thách thức mới nổi
cả trong thị trường truyền thống lẫn thị trường số, mở rộng phạm vi hành vi
được điều chỉnh từ "phương tiện kỹ thuật" sang bao gồm các hoạt động
dựa trên dữ liệu và thuật toán, cũng như việc sử dụng các quy tắc nền tảng -
điều chỉnh khuôn khổ pháp lý phù hợp hơn với thực tế quản trị nền tảng và mô
hình kinh doanh thuật toán[62]. AUCL cũng quy định không
được sử dụng dữ liệu, thuật toán, công nghệ, quy tắc nền tảng, v.v. để tác động
đến lựa chọn của người dùng hoặc các biện pháp khác để thực hiện các hành vi
gây cản trở hoặc phá vỡ hoạt động bình thường của các sản phẩm hoặc dịch vụ
mạng do nhà điều hành khác cung cấp hợp pháp[63]. AUCL được dùng như công cụ
hỗ trợ để xử lý các hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành lạm dụng thống lĩnh nhưng
vẫn gây tổn hại cạnh tranh trên nền tảng số.
Các hành vi đi được điều chỉnh bao gồm: Một
là, hành vi thu thập dữ liệu trái phép. Lần đầu tiên, AUCL quy định rõ ràng
việc cấm thu thập hoặc sử dụng trái phép dữ liệu do các doanh nghiệp khác nắm
giữ thông qua các phương thức không hợp pháp, chẳng hạn như vượt qua các biện
pháp bảo vệ kỹ thuật. Đây là bước phát triển quan trọng đối với các công ty dựa
vào tổng hợp dữ liệu, thu thập dữ liệu tự động (scraping) hoặc phân tích tình
báo cạnh tranh, đồng thời phù hợp với định hướng rộng hơn của Trung Quốc trong
việc làm rõ quyền dữ liệu thương mại. Một trong những bổ sung quan trọng trong
bản sửa đổi AUCL năm 2025 là Điều 13(4), trong đó nghiêm cấm việc thu thập và
sử dụng dữ liệu không công bằng do các nhà điều hành khác nắm giữ: “Các nhà
điều hành không được thu thập hoặc sử dụng dữ liệu do các nhà điều hành khác
nắm giữ một cách hợp pháp thông qua các biện pháp gian lận, ép buộc, bỏ qua
hoặc làm hỏng các biện pháp quản lý kỹ thuật, cũng như không được gây tổn hại
đến quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà điều hành khác hoặc phá vỡ sự cạnh
tranh trên thị trường”[64].
Hai là, lạm dụng quy tắc nền tảng và can
thiệp giao dịch mang tính ác ý: Điều 13(4) quy định: “Các nhà điều hành không
được lạm dụng các quy tắc nền tảng để trực tiếp hoặc chỉ đạo người khác tham
gia vào các giao dịch gian lận, đánh giá giả mạo hoặc trả lại hàng hóa có ác ý,
gây tổn hại đến quyền lợi hợp pháp của các nhà điều hành khác và làm gián đoạn
cạnh tranh trên thị trường.” Quy định này phản ánh tình hình ngày càng phổ biến
trong thương mại điện tử tại Trung Quốc, nơi mức độ cạnh tranh rất khốc liệt.
Để giành thị phần, nhiều nền tảng đưa ra các chính sách mạnh nhằm thu hút và
giữ chân người dùng, chẳng hạn như hoàn tiền nhanh hoặc cơ chế trả hàng thuận
tiện. Các nền tảng cũng sử dụng xếp hạng của thương nhân, độ tin cậy của giao
dịch và tỷ lệ trả hàng làm dữ liệu cho thuật toán quyết định vị trí hiển thị và
thứ hạng của thương nhân. Một số đối thủ đã lợi dụng các cơ chế này để gây bất
lợi cho đối phương, ví dụ đặt đơn hàng giả, tạo đánh giá giả để khiến nền tảng
áp dụng hình phạt hoặc làm tăng tỷ lệ trả hàng bằng cách mua số lượng lớn rồi
trả lại. Khác với những hình thức gây tổn hại danh tiếng truyền thống, những
chiêu thức này biến hệ thống kiểm soát của nền tảng thành công cụ để hạn chế khả
năng hiển thị của đối thủ và làm gián đoạn hoạt động kinh doanh bình thường của
họ[65].
Ba là, hành vi buộc các thương nhân bán hàng
dưới giá thành. Điều 14 của AUCL 2025 đưa ra một điều khoản mới giải quyết mối
quan ngại thường trực trong nền kinh tế nền tảng của Trung Quốc: “Các nhà vận
hành nền tảng không được ép buộc hoặc gián tiếp ép buộc thương nhân trên nền
tảng phải bán sản phẩm dưới giá thành theo quy tắc định giá của nền tảng, gây
rối loạn cạnh tranh trên thị trường.” Quy định này nhằm kiềm chế một dạng cạnh
tranh quá mức, trong đó các nền tảng để tìm kiếm lưu lượng truy cập hoặc gia
tăng thị phần đã gây áp lực buộc thương nhân phải hạ giá một cách không bền
vững. Các chiến thuật thường gặp bao gồm giảm giá dựa trên thuật toán, tự động
khớp giá thấp hơn và yêu cầu gắn nhãn “giá thấp nhất trên internet”. Những thực
tiễn này bóp méo cạnh tranh công bằng, làm xói mòn biên lợi nhuận và cuối cùng
làm suy giảm chất lượng cũng như sự đa dạng của sản phẩm trên thị trường[66]. Bằng việc cấm áp đặt giá
bán dưới giá thành, bản sửa đổi năm 2025 củng cố nguyên tắc nền tảng của AUCL:
cạnh tranh trên thị trường phải dựa trên chất lượng sản phẩm, đổi mới và dịch
vụ chứ không phải các cuộc chiến giá mang tính hủy diệt. Tuy nhiên, quy định
này được thiết kế có phạm vi hẹp để duy trì sự linh hoạt thương mại và tránh
tình trạng điều chỉnh quá mức. Nó chỉ áp dụng trong những trường hợp sau: (1)
Có hành vi ép buộc từ phía nền tảng, ví dụ thay đổi giá mà không có sự đồng ý
của thương nhân hoặc áp dụng chế tài khi không tuân thủ. (2) Giá bán thực sự
thấp hơn giá thành, chứ không chỉ ở mức lợi nhuận thấp hoặc hòa vốn. (3) Hành
vi đó gây rối loạn cạnh tranh trên thị trường, chứ không chỉ ảnh hưởng đến việc
định giá của từng thương nhân riêng lẻ[67]. Cách tiếp cận điều chỉnh
này cho thấy nỗ lực của nhà làm luật trong việc thiết lập sự cân bằng, một mặt
nhằm kiểm soát các hành vi lạm dụng quyền lực về giá, mặt khác vẫn mở không
gian cho các nền tảng và nhà kinh doanh triển khai những chiến lược khuyến mại
hợp pháp trong phạm vi thương mại hợp lý.
Về chế tài, quy định mới trong AUCL nâng đáng
kể mức phạt tối đa, thể hiện xu hướng thực thi quyết liệt hơn. Cụ thể, mức phạt
có thể lên tới 5 triệu nhân dân tệ đối với hành vi cạnh tranh số không lành mạnh
theo Điều 13; 2 triệu nhân dân tệ đối với hành vi ép buộc bán dưới giá thành
hoặc ép buộc “chọn một” theo Điều 14; và 5 triệu nhân dân tệ đối với hành vi
lạm dụng kéo dài vị trí thương lượng vượt trội theo Điều 15[68]. Những thay đổi này phản
ánh định hướng chính sách mới nhằm tăng tính răn đe và thúc đẩy tuân thủ ngay
từ khâu thiết kế, khuyến khích doanh nghiệp củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ
và chủ động hợp tác với cơ quan quản lý để giảm thiểu rủi ro pháp lý.
Từ các khung pháp lý trên có thể thấy rằng,
quan điểm của Trung Quốc coi phát triển kinh tế thông qua nền tảng số vừa là
động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới, vừa tiềm ẩn những rủi ro mang tính hệ
thống. Cơ quan quản lý Trung Quốc không áp dụng một khung pháp lý cứng nhắc
hoặc đồng nhất cho tất cả các trường hợp doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh mà
giới hạn quyền lực của các nền tảng được xác định thông qua các vụ việc cụ thể
và quá trình quản lý linh hoạt vì nếu quy định các quy tắc có tính cố định có
nguy cơ trở nên lỗi thời khi công nghệ và mô hình kinh doanh thay đổi liên tục,
dẫn đến việc quản lý không còn phù hợp và có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát
triển của các doanh nghiệp mới.
3.2. Đề xuất cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm của Trung
Quốc có thể thấy rằng, việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
trên nền tảng số không thể tiếp cận theo mô hình pháp luật cạnh tranh truyền
thống vốn chủ yếu dựa trên tiêu chí giá cả, thị phần và ranh giới thị trường
hữu hình. Sự phát triển của nền kinh tế số với đặc trưng đa phương, phụ
thuộc dữ liệu, hiệu ứng mạng lưới và thuật toán đã làm thay đổi bản chất của
cạnh tranh thị trường, đòi hỏi pháp luật cạnh tranh Việt Nam cần được điều
chỉnh theo hướng linh hoạt và phù hợp hơn với đặc thù của môi trường số.
Trên cơ sở đó, có thể đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật Việt
Nam như sau:
Thứ nhất, cần hoàn thiện quy định
về xác định thị trường liên quan trong môi trường nền tảng số. Hiện nay,
Luật Cạnh tranh năm 2018 và các văn bản hướng dẫn vẫn chủ yếu được xây dựng trên
nền tảng lý thuyết của thị trường truyền thống, trong đó việc xác định thị
trường liên quan chủ yếu dựa vào khả năng thay thế về giá và đặc điểm hàng
hóa, dịch vụ.
Khoản 6, Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 quy định: “Thị trường liên quan là thị
trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục
đích sử dụng và giá cả trong khu vực địa lý cụ thể có các điều kiện cạnh
tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận”[69].
Theo Nghị định 35/2020/NĐ-CP, phương pháp xác định thị trường liên quan được
thực hiện bằng cách xác định thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa
lý liên quan. Cơ quan cạnh tranh đánh giá khả năng thay thế của hàng hóa, dịch
vụ dựa trên đặc tính, mục đích sử dụng, giá cả và phản ứng của người tiêu dùng
khi giá thay đổi, đồng thời xem xét khả năng các doanh nghiệp khác chuyển đổi
sang cung cấp sản phẩm tương tự. Đối với thị trường địa lý, việc xác định dựa
trên khu vực có điều kiện cạnh tranh tương đồng thông qua các yếu tố như chi phí
vận chuyển, rào cản gia nhập thị trường, tập quán tiêu dùng và quy định pháp
luật. Kết quả của quá trình này là xác định phạm vi thị trường mà các doanh
nghiệp thực sự cạnh tranh với nhau, làm cơ sở để tính thị phần và đánh giá sức
mạnh thị trường[70].
Tuy nhiên, cách tiếp cận này bộc lộ nhiều hạn chế khi áp
dụng đối với nền tảng số, nơi nhiều dịch vụ được cung cấp miễn phí và cạnh
tranh chủ yếu diễn ra thông qua dữ liệu, lưu lượng truy cập và khả năng duy
trì hệ sinh thái người dùng. Do đó, pháp luật Việt Nam cần bổ sung các tiêu
chí đặc thù để xác định thị trường liên quan trong nền kinh tế số, như hiệu
ứng mạng lưới, mức độ phụ thuộc dữ liệu, khả năng chuyển đổi nền tảng của
người dùng, mức độ kiểm soát lưu lượng truy cập và mối quan hệ tương tác
giữa các nhóm người dùng trong thị trường đa phương. Từ
kinh nghiệm của Trung Quốc, có thể áp dụng phương pháp xác định thị trường
liên quan SSNDQ, đây là phương pháp được sử dụng trong luật cạnh tranh để xác
định thị trường liên quan, đặc biệt trong các thị trường số hoặc các thị
trường mà giá không phải là yếu tố cạnh tranh chính. Phương pháp này kiểm tra
xem liệu một doanh nghiệp giả định độc quyền có thể giảm chất lượng sản phẩm
hoặc dịch vụ một cách đáng kể nhưng không tạm thời mà vẫn giữ được khách hàng
hay không. Nếu khi chất lượng giảm, người tiêu dùng chuyển sang các sản phẩm
hoặc dịch vụ khác với số lượng đáng kể, thì các sản phẩm hoặc dịch vụ đó được
coi là có khả năng thay thế cho nhau và thuộc cùng một thị trường liên quan.
Ngược lại, nếu khách hàng vẫn tiếp tục sử dụng sản phẩm dù chất lượng giảm,
phạm vi thị trường có thể được xác định hẹp hơn. SSNDQ được xem là sự bổ sung
cho phương pháp SSNIP. Trong khi SSNIP phù hợp với các thị trường truyền
thống, nơi giá cả là yếu tố cạnh tranh chủ yếu, thì SSNDQ đặc biệt hữu ích đối
với các nền tảng số, mạng xã hội, công cụ tìm kiếm hoặc các dịch vụ trực tuyến
miễn phí, nơi người dùng không phải trả tiền trực tiếp. Trong những trường hợp
này, chất lượng dịch vụ, mức độ bảo vệ dữ liệu cá nhân, tốc độ xử lý, khả năng
hiển thị nội dung hoặc trải nghiệm người dùng thường là những yếu tố cạnh
tranh quan trọng hơn giá cả.
Thứ hai, cần đổi mới phương pháp đánh giá vị trí thống lĩnh thị
trường của doanh nghiệp nền tảng số. Theo Điều 24 Luật Cạnh tranh năm 2018, doanh nghiệp được
coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có sức mạnh thị trường đáng kể
hoặc có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan[71]. Bên cạnh đó, Điều 26 quy định việc xác định sức mạnh thị
trường đáng kể dựa trên nhiều yếu tố như tương quan thị phần, sức mạnh tài
chính, rào cản gia nhập thị trường, khả năng kiểm soát hệ thống phân phối
hoặc nguồn cung, lợi thế công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ và các yếu tố đặc
thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh[72]. Tuy nhiên, trong bối cảnh
kinh tế số, các tiêu chí hiện hành vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Mặc dù
Điều 26 đã cho phép xem xét lợi thế công nghệ và các yếu tố đặc thù của
ngành, nhưng các quy định này còn mang tính khái quát và chưa được cụ thể hóa
đối với thị trường nền tảng số. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp nền tảng có
thể chưa đạt ngưỡng thị phần theo cách tính truyền thống nhưng vẫn nắm giữ
sức mạnh thị trường đáng kể nhờ khả năng kiểm soát dữ liệu người dùng, vận
hành thuật toán phân phối, khai thác hiệu ứng mạng lưới và tạo ra chi phí
chuyển đổi cao đối với người dùng cũng như đối tác kinh doanh. Vì vậy, nếu
chỉ dựa vào các tiêu chí truyền thống hoặc thiếu hướng dẫn đánh giá các yếu
tố đặc thù của môi trường số thì cơ quan cạnh tranh có thể gặp khó khăn trong
việc nhận diện chính xác vị trí thống lĩnh của các doanh nghiệp nền tảng.
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy việc xác định vị trí thống lĩnh trong thị
trường nền tảng số cần vượt ra ngoài tiêu chí thị phần doanh thu truyền
thống. Hướng dẫn chống độc quyền trong lĩnh vực kinh tế nền tảng của Trung
Quốc yêu cầu xem xét các yếu tố như quy mô người dùng, khả năng kiểm soát dữ
liệu, hiệu ứng mạng lưới, mức độ khóa chặt người dùng, khả năng kiểm soát lưu
lượng truy cập và quyền tiếp cận thị trường của các chủ thể khác. Những yếu
tố này phản ánh chính xác hơn bản chất của quyền lực thị trường trong môi
trường số, nơi dữ liệu và khả năng kết nối giữa các nhóm người dùng trở thành
nguồn lực cạnh tranh quan trọng.
Từ những kinh nghiệm đó, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện
các quy định hướng dẫn thi hành Điều 24 và Điều 26 theo hướng bổ sung các
tiêu chí chuyên biệt để đánh giá sức mạnh thị trường của doanh nghiệp nền
tảng số. Cụ thể, cần quy định rõ việc xem xét số lượng người dùng hoạt động,
mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp và người tiêu dùng vào nền tảng, khả năng
thu thập và khai thác dữ liệu, hiệu ứng mạng lưới, chi phí chuyển đổi, mức độ
kiểm soát thuật toán và quyền tiếp cận dữ liệu hoặc hạ tầng số thiết yếu.
Đồng thời, cần chính thức thừa nhận phương pháp phân tích thị trường đa diện
trong hoạt động thực thi pháp luật cạnh tranh nhằm đánh giá đầy đủ các mối
quan hệ cạnh tranh diễn ra đồng thời giữa nhiều nhóm người dùng khác nhau
trên cùng một nền tảng. Việc hoàn thiện các tiêu chí này sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả nhận diện doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, tạo cơ sở
pháp lý vững chắc cho việc kiểm soát các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường
trong nền kinh tế số.
Thứ ba, cần bổ sung quy định điều
chỉnh trực tiếp các hành vi lạm dụng trên nền tảng số dựa trên dữ liệu và
thuật toán. Định hướng này đã được ghi nhận bước đầu
trong Luật Thương mại điện tử 2025 thông qua việc thiết lập các nghĩa vụ minh
bạch và trách nhiệm quản lý đối với chủ quản nền tảng thương mại điện tử. Cụ
thể, Điều 15 yêu cầu chủ quản nền tảng phải công khai các tiêu chí lựa chọn
chính được sử dụng khi áp dụng thuật toán hoặc các biện pháp nhằm hạn chế hoặc
ưu tiên hiển thị hàng hóa, dịch vụ[73]. Đối với
các nền tảng số lớn, Điều 17 còn quy định nghĩa vụ cung cấp cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền dữ liệu giao dịch và mô tả thuật toán, bao gồm thiết kế,
lô-gíc và cơ chế vận hành liên quan đến hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật[74].
Những quy định này cho thấy pháp luật Việt Nam đã bước đầu thừa nhận vai trò
của dữ liệu và thuật toán như những yếu tố có khả năng tạo lập và duy trì sức
mạnh thị trường trong môi trường số. Tuy nhiên, Luật Thương mại điện tử 2025
chủ yếu tiếp cận dưới góc độ quản lý nền tảng và bảo vệ người tiêu dùng, trong
khi Luật Cạnh tranh vẫn chưa có các quy định chuyên biệt để xử lý những hành vi
lạm dụng sức mạnh thị trường thông qua dữ liệu và thuật toán. Trong khi đó, kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy việc sửa
đổi AML và AUCL theo hướng bổ sung trực tiếp các hành vi sử dụng dữ liệu,
thuật toán và quy tắc nền tảng để hạn chế cạnh tranh đã tạo cơ sở pháp lý rõ
ràng cho hoạt động thực thi. Do đó, cần tiếp tục hoàn
thiện Luật Cạnh tranh theo hướng quy định rõ các hành vi như tự ưu tiên
(self-preferencing), thao túng kết quả hiển thị, phân biệt đối xử bằng thuật
toán, hạn chế khả năng tiếp cận dữ liệu của đối thủ hoặc khai thác dữ liệu
người dùng nhằm gây bất lợi cho các chủ thể kinh doanh phụ thuộc vào nền tảng.
Việc bổ sung các quy định này sẽ góp phần tạo lập cơ sở pháp lý đầy đủ hơn để
kiểm soát các hành vi lạm dụng vị thế thống lĩnh trong nền kinh tế số, đồng
thời bảo đảm sự đồng bộ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật thương mại điện
tử.
Thứ
tư,
hiện nay, pháp luật Việt Nam đã thiết lập cơ chế xử phạt với hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền, theo quy định tại Nghị định
75/2019/NĐ-CP, doanh nghiệp vi phạm có thể bị phạt từ 1% đến 10% tổng doanh thu
trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành
vi vi phạm đối với các hành vi như áp đặt giá bất hợp lý, hạn chế sản xuất hoặc
phân phối, áp dụng điều kiện giao dịch phân biệt đối xử, cản trở doanh nghiệp
khác gia nhập hoặc mở rộng thị trường, hoặc áp đặt các điều kiện giao dịch bất
lợi. Ngoài hình thức phạt tiền, doanh nghiệp còn có thể bị tịch thu khoản lợi
nhuận thu được từ hành vi vi phạm và bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
như loại bỏ điều khoản vi phạm trong hợp đồng, khôi phục điều kiện cạnh tranh
hoặc cơ cấu lại doanh nghiệp[75].
Tuy nhiên, các chế tài hiện hành chủ yếu được thiết kế cho các hành vi lạm dụng
truyền thống và chưa phản ánh đầy đủ những phương thức lạm dụng mới trong môi
trường số dựa trên dữ liệu và thuật toán. Bên cạnh đó, cơ chế thực thi vẫn
thiên về xử lý hậu quả sau khi vi phạm xảy ra hơn là phòng ngừa từ sớm. Kinh
nghiệm của Trung Quốc trong việc tăng cường chế tài và nhấn mạnh cơ chế tiền
kiểm cho thấy vai trò của cơ chế răn đe và phòng ngừa. Do đó, cần nghiên cứu bổ
sung các chế tài chuyên biệt đối với hành vi lạm dụng dựa trên dữ liệu, thuật
toán và quyền kiểm soát nền tảng số, đặc biệt đối với các nền tảng có vị thế
thống lĩnh hoặc vai trò trung gian kết nối thị trường. Bên cạnh đó, Việt Nam
nên tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc để xây dựng cơ chế tiền kiểm, theo đó
yêu cầu các nền tảng số lớn thiết lập chương trình tuân thủ pháp luật cạnh
tranh nội bộ, đánh giá định kỳ tác động cạnh tranh của thuật toán và báo cáo
các thay đổi quan trọng trong cơ chế hiển thị, xếp hạng hoặc phân phối dữ liệu.
Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế cam kết và biện pháp khắc phục tự nguyện, cho
phép doanh nghiệp chủ động chấm dứt hành vi và khôi phục cạnh tranh trước khi
cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt chính thức. Cách tiếp cận này
không chỉ nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh mà còn giúp phát hiện
và ngăn ngừa sớm các hành vi lạm dụng trong nền kinh tế số.
Cuối
cùng, một bài học quan trọng từ kinh nghiệm của Trung Quốc là sự chuyển đổi từ
mô hình quản lý mang tính phản ứng sang mô hình quản trị chủ động nhưng linh
hoạt trong thực thi pháp luật cạnh tranh. Trước đây, cơ quan quản lý thường
chỉ can thiệp sau khi hành vi vi phạm đã xảy ra và gây ra những tác động đáng
kể đến thị trường. Tuy nhiên, trong nền kinh tế số, cách tiếp cận này bộc lộ
nhiều hạn chế do tốc độ phát triển của công nghệ, dữ liệu và nền tảng số nhanh
hơn rất nhiều so với quá trình điều tra và xử lý vi phạm. Trung Quốc đã chuyển
sang mô hình quản trị chủ động thông qua việc ban hành các hướng dẫn chuyên
ngành đối với nền tảng số, tăng cường giám sát các doanh nghiệp công nghệ lớn,
yêu cầu đánh giá tác động cạnh tranh của thuật toán và áp dụng các cơ chế cảnh
báo sớm nhằm phát hiện nguy cơ vi phạm trước khi hậu quả xảy ra. Đồng thời, sự
chủ động này vẫn được duy trì trong khuôn khổ linh hoạt, thể hiện ở việc sử
dụng các cơ chế cam kết, khắc phục tự nguyện, đối thoại với doanh nghiệp và
điều chỉnh chính sách theo sự thay đổi nhanh chóng của thị trường công nghệ.
Đối với Việt Nam, việc
chuyển từ mô hình quản lý mang tính phản ứng sang quản trị chủ động nhưng linh
hoạt cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của nền
kinh tế số và năng lực thực thi của cơ quan cạnh tranh. Trước hết, cần xây dựng
cơ chế giám sát thường xuyên đối với các nền tảng số có sức mạnh thị trường
đáng kể thông qua nghĩa vụ báo cáo định kỳ về dữ liệu người dùng, thay đổi
thuật toán có tác động lớn đến cạnh tranh, chính sách hiển thị và xếp hạng sản
phẩm hoặc dịch vụ. Thứ hai, cơ quan cạnh tranh cần phát triển hệ thống đánh
giá rủi ro cạnh tranh trong lĩnh vực số để nhận diện sớm các dấu hiệu lạm dụng
như tự ưu tiên sản phẩm của nền tảng, phân biệt đối xử bằng thuật toán hoặc
hạn chế khả năng tiếp cận dữ liệu của đối thủ. Thứ ba, cần hoàn thiện cơ chế
cam kết và khắc phục tự nguyện, cho phép doanh nghiệp chủ động điều chỉnh hành
vi, thay đổi thuật toán hoặc loại bỏ các điều khoản hạn chế cạnh tranh trước
khi cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp xử phạt chính thức.
IV. Kết luận
Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số đã làm
gia tăng vai trò và quyền lực thị trường của các nền tảng số, đồng thời đặt ra
nhiều thách thức mới đối với pháp luật cạnh tranh trong việc kiểm soát hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Thông qua việc phân tích cơ sở lý luận,
khung pháp lý hiện hành và kinh nghiệm thực tiễn của Trung Quốc trong việc quản
lý các doanh nghiệp nền tảng, bài viết cho thấy tầm quan trọng của việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật cạnh tranh nhằm thích ứng với đặc thù của thị trường
số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng cho Việt Nam, bao gồm
việc hoàn thiện quy định pháp luật về xác định thị trường liên quan và vị trí
thống lĩnh trong môi trường số, tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật cạnh
tranh, cũng như chú trọng quản lý các yếu tố mới như dữ liệu và thuật toán.
Những giải pháp này góp phần bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, đồng thời
thúc đẩy sự phát triển bền vững của kinh tế số tại Việt Nam.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. China Updates Its Anti-Unfair Competition Law to Address “Involutionary” Competition and Abuses of Superior Bargaining Power. (n.d.). JD Supra. Retrieved September 10, 2025, from https://www.jdsupra.com/legalnews/china-updates-its-anti-unfair-5905605/
2. Choudary, S., Alstyne, M. W. van, & Parker, G. G. (2016, March 28). Platform Revolution: How Networked Markets Are Transforming the Economy--and How to Make Them Work for You. https://www.semanticscholar.org/paper/Platform-Revolution%3A-How-Networked-Markets-Are-the-Choudary-Alstyne/108041751271defd1ec505ffb93b2ec598d434f8
3. Condorelli, D., & Padilla, J. (2019). Harnessing Platform Envelopment in the Digital World. https://doi.org/10.2139/ssrn.3504025
4. Daniele Schilirò. (2023). Digital platforms and digital transformation. MPRA Paper, No. 118006. https://doi.org/http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3504025
5. Europemballage Corporation and Continental Can Company Inc v Commission of the European Communities, Case 6-72 (ECJ February 21, 1973). https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex:61972CJ0006
6. Federal Law No. 135-FZ on Protection of Competition, July 26, 2006, as amended by Federal Law No. 344-FZ, Oct. 14, 2024 (Russ.)., 135-FZ (2006). https://www.wipo.int/wipolex/en/legislation/details/22926
7. Fischer, E., Hornkohl, L., & Imgarten, N. (2025). Discriminatory Leveraging Plus: The Standard for Independent Self-Preferencing Abuses after Google Shopping (C-48/22 P). European Papers - A Journal on Law and Integration, 2025 10(1), 25–44. https://doi.org/10.15166/2499-8249/823
8. Gawer, A. (2022). Digital platforms and ecosystems: Remarks on the dominant organizational forms of the digital age. Innovation, 24(1), 110–124. https://doi.org/10.1080/14479338.2021.1965888
9. Guidelines for Anti-Monopoly in the Platform Economy (2020). https://www.china-briefing.com/news/china-releases-anti-monopoly-guidelines-for-its-platform-economy/
10. Hoffmann-La Roche & Co AG v Commission of the European Communities, Case 85/76 (European Court of Justice February 13, 1979). https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex:61976CJ0085
11. Hướng dẫn dành cho các nền tảng Internet thực hiện trách nhiệm chính (Bản thảo để lấy ý kiến)—Trung tâm dịch vụ dữ liệu về mã tín dụng xã hội thống nhất của Tổ chức quốc gia. (n.d.). Retrieved September 8, 2025, from https://www.cods.org.cn/c/2021-10-29/15261.html
12. JetDeng, B. D. L. O. L.- & KenDai. (2025, August 8). China Updates Its Anti-Unfair Competition Law to Address “Involutionary” Competition and Abuses of Superior Bargaining Power. Lexology.
https://www.lexology.com/library/detail.aspx?g=1601e9a6-12e9-41ca-ad80-c17021ab4a6d
13. Khan, L. (2017). Amazon’s Antitrust Paradox (SSRN Scholarly Paper No. 2911742). Social Science Research Network. https://papers.ssrn.com/abstract=2911742
14. Kittaka, Y., Sato, S., & Zennyo, Y. (2023). Self-preferencing by platforms: A literature review. Japan and the World Economy, 66, 101191. https://doi.org/10.1016/j.japwor.2023.101191
15. Lisha, Q. (n.d.). How China and the European Union Regulate the Abuse of Market Dominance in the Platform Economy [LUND UNIVERSITY]. Retrieved https://lup.lub.lu.se/luur/download?func=downloadFile&recordOId=9194723&fileOId=9194724
16. Luật Thương Mại Điện Tử, Luật số: 122/2025/QH15.
17. Multi-Sided Perspectives on Multi-Sided Markets | Canadian Bar Association. (n.d.). Retrieved March 5, 2026, from https://cba.org/sections/competition-law-and-foreign-investment-review/member-articles/multi-sided-perspectives-on-multi-sided-markets/
18. Nghị Định 35/2020/NĐ-CP Quy Định Chi Tiết Một Số Điều Của Luật Cạnh Tranh.
19. Nghị Định 75/2019/NĐ-CP Quy Định về Xử Phạt vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Cạnh Tranh (2026). https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-dinh-75-2019-ND-CP-quy-dinh-ve-xu-phat-vi-pham-hanh-chinh-trong-linh-vuc-canh-tranh-425023.aspx
20. OECD. (2021). Abuse of dominance in Digital Markets. https://www.oecd.org/en/publications/abuse-of-dominance-in-digital-markets_4c36b455-en.html
21. Pablo, J. (2023, March 15). CeCo | Antimonopoly regulation of digital platforms in China. https://centrocompetencia.com/anti-monopoly-regulation-of-digital-platforms-in-china/?utm_source=chatgpt.com
22. Quốc Hội. (2018). Luật Cạnh Tranh 2018 (Ban Hành Ngày 12/06/2018 Số 23/2018/QH14).
23. SAMR Imposed Record Fine on Alibaba for Abuse of Dominant Position. (n.d.). Retrieved June 1, 2026, from https://cms.law/en/chn/legal-updates/SAMR-Imposed-Record-Fine-on-Alibaba-for-Abuse-of-Dominant-Position
24. Shelanski, H. (2013). Information, Innovation, and Competition Policy for the Internet. University of Pennsylvania Law Review, 161(6), 1663. https://scholarship.law.upenn.edu/penn_law_review/vol161/iss6/6
25. Singh, V. K. (2017). Competition Law: Dominant Position and Its Abuse: Abuse of Dominant Position in US and EU. SSRN.
26. Standing Committee of the National People’s Congress. (n.d.). Anti-monopoly Law of the People’s Republic of China. Retrieved March 5, 2026, from https://www.lawinfochina.com/display.aspx?id=39637&lib=law&EncodingName=big5
27. Stapp K. S. (2019, May 7). Is Amazon Guilty of Predatory Pricing? Truth on the Market. https://truthonthemarket.com/2019/05/07/is-amazon-guilty-of-predatory-pricing/
28. Translate, C. L. (2022, June 27). Anti-Monopoly Law (2022 Edition). China Law Translate. https://www.chinalawtranslate.com/anti-monopoly-law-2022/
29. Translation: Guidelines for Internet Platform Categorization and Grading (Draft for Comment) – Oct. 2021. (n.d.). DigiChina. Retrieved September 8, 2025, from https://digichina.stanford.edu/work/translation-guidelines-for-internet-platform-categorization-and-grading-draft-for-comment-oct-2021/
30. Treaty Establishing the European Economic Community. Retrieved March 23, 2026, from https://treaties.un.org/Pages/showDetails.aspx?objid=08000002801413d5
31. United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD). (2010). Model Law on Competition (2010) – Chapter IV: Acts or behaviour constituting an abuse of a dominant position of market power. 3.
32. United States Congress. (1890). Sherman Anti-Trust Act. In National Archives. https://www.archives.gov/milestone-documents/sherman-anti-trust-act
33. Wininger, A. (2025, June 27). China’s National People’s Congress Passes Amended Anti-Unfair Competition Law. China IP Law Update. https://www.chinaiplawupdate.com/2025/06/chinas-national-peoples-congress-passes-amended-anti-unfair-competition-law/
34. XuRui Wang. (2025). SELF-PREFERENTIAL TREATMENT OF DIGITAL PLATFORMS AND ITS ANTI-MONOPOLY REGULATION. World Journal of Sociology and Law, 3(1). https://doi.org/10.61784/wjsl3023
Nghiên
cứu này là một phần của đề tài Nghiên cứu khoa học cấp cơ sở do Trường Đại học
Kinh Tế - ĐHĐN tài trợ với mã số đề tài T2026-04-02.
* TS, Khoa Luật,
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng, ngày duyệt đăng 29/06/2026.
** Ths, Khoa Luật,
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Email: thuy.ltb@due.edu.vn.
[1] Treaty Establishing the European Economic
Community.(1957). Article 86.
[2] Case 6-72, Europemballage Corporation and
Continental Can Company Inc v Commission of the European Communities (ECJ
1973).
[3] Vijay
Kumar Singh, Competition Law:
Dominant Position and Its Abuse: Abuse of Dominant Position in US and EU.
(2017).
[4] Hoffmann-La Roche & Co AG v Commission of
the European Communities (European Court of Justice 1979).
[5] UNCTAD Model Law on Competition, Luật Mẫu về
Cạnh tranh của UNCTAD (Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển) là
bộ quy tắc hướng dẫn quốc tế, cung cấp khung pháp lý tham khảo giúp các quốc
gia, đặc biệt là nước đang phát triển, xây dựng hoặc hoàn thiện luật cạnh tranh
quốc gia. Tài liệu này bao gồm các quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh,
lạm dụng vị trí độc quyền/thống lĩnh, và kiểm soát tập trung kinh tế. UNITED
NATIONS CONFERENCE ON TRADE AND DEVELOPMENT, MODEL LAW ON COMPETITION (2010),
Link tại:
https://unctad.org/system/files/official-document/tdrbpconf7d8_exerpt_en.pdf.
[6] Điểm (b) khoản I Chương 2. Nguyên văn: “(b
)“Dominant position of market power” refers to a situation where an enterprise,
either by itself or acting together with a few other enterprises, is in a
position to control the relevant market for a particular good or service or
group of goods or services.”
[7] United States Congress, Sherman Anti-Trust
Act, National Archives (1890),
https://www.archives.gov/milestone-documents/sherman-anti-trust-act.
[8] Singh,
supra note 3.
[9] Standing
Committee of the National People’s Congress, Anti-Monopoly Law of the People’s Republic of China, Article
22 https://www.lawinfochina.com/display.aspx?id=39637&lib=law&EncodingName=big5
(last visited Mar. 5, 2026).
[10] Standing
Committee of the National People’s Congress, supra note 9.
[11] Federal Law No. 135-FZ on Protection of
Competition, July 26, 2006, as amended by Federal Law No. 344-FZ, Oct. 14, 2024
(Russ.). of 2006, 135-FZ. Article 5 (1)
[12] Quốc Hội,
Luật Cạnh Tranh 2018 (Ban Hành Ngày
12/06/2018 Số 23/2018/QH14) (2018).
[13] United Nations Conference on Trade and
Development (UNCTAD), Model Law on Competition (2010) – Chapter IV: Acts or
Behaviour Constituting an Abuse of a Dominant Position of Market Power3
(2010).
[14] Id.
[15] Hoffmann-La Roche & Co AG v Commission
of the European Communities.
[16] Id.
[17] Quốc Hội,
supra note 13. khoản 5 Điều 3
[18] Id.
[19] Annabelle Gawer, Digital Platforms and
Ecosystems: Remarks on the Dominant Organizational Forms of the Digital Age,
24 Innovation 110 (2022),
https://doi.org/10.1080/14479338.2021.1965888.
[20] Daniele Schilirò, Digital Platforms and
Digital Transformation, No. 118006 MPRA
Pap. (2023), https://mpra.ub.uni-muenchen.de/id/eprint/118006.
[21] S. Choudary, Marshall W. van Alstyne &
Geoffrey G. Parker, Platform Revolution: How Networked Markets Are
Transforming the Economy--and How to Make Them Work for You (2016),
https://www.semanticscholar.org/paper/Platform-Revolution%3A-How-Networked-Markets-Are-the-Choudary-Alstyne/108041751271defd1ec505ffb93b2ec598d434f8.
[22] Multi-Sided Perspectives on Multi-Sided
Markets | Canadian Bar Association,
https://cba.org/sections/competition-law-and-foreign-investment-review/member-articles/multi-sided-perspectives-on-multi-sided-markets/
(last visited Mar. 5, 2026).
[23]
Khoản 2 Điều 3 Luật Thương Mại Điện Tử, Luật số: 122/2025/QH15.
[24]
Khoản 3 Điều 3
Id.
[25]
Khoản 4, Điều
3 Id.
[26]
Khoản 1, Điều
11 Id.
[27]
Khoản 2 Điều
17 Id.
[28] Gatekeeper” (người gác cổng): Thuật ngữ
"người gác cổng" do Ủy ban Châu Âu (EC) định nghĩa dùng để chỉ các
tập đoàn công nghệ lớn vận hành một hoặc nhiều dịch vụ nền tảng cốt lõi (CPS) .
Các CPS này cũng được EC xác định dựa trên quy mô người dùng, khối lượng dữ
liệu được tạo ra và xử lý, cũng như tầm ảnh hưởng của chúng đối với thị trường
kỹ thuật số và người tiêu dùng. 23 CPS này bao gồm trình duyệt web, nền tảng
mạng xã hội, trợ lý giọng nói, công cụ tìm kiếm, hệ điều hành, nền tảng video,
và nhiều hơn nữa. Bằng cách cung cấp các dịch vụ nền tảng cốt lõi, các nhà cung
cấp dịch vụ trung gian đóng vai trò là những cánh cửa quan trọng giúp doanh
nghiệp tiếp cận người dùng cuối. Họ thu thập và quản lý lượng dữ liệu người
dùng khổng lồ, kiểm soát quyền truy cập vào các dịch vụ phổ biến và được cho là
thiết yếu, và có khả năng sử dụng vị thế của mình để kìm hãm cạnh tranh và đổi
mới. Những người gác cổng có khả năng định hình bối cảnh trực tuyến và tác động
đến sự thành công của các doanh nghiệp hoạt động trong đó. Với phạm vi tiếp cận
rộng lớn và lượng người dùng khổng lồ, những người gác cổng đã trở thành những
nhân tố chủ chốt trong thị trường kỹ thuật số.
[29] OECD,
Abuse of Dominance in Digital Markets
(2021), https://www.oecd.org/en/publications/abuse-of-dominance-in-digital-markets_4c36b455-en.html.
[30] Định giá hủy diệt: là việc các doanh nghiệp có
quyền lực thị trường ấn định giá bán sản phẩm quá thấp trong một khoảng thời
gian đủ dài nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường hoặc (và) ngăn
cản không cho các đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường. Sau khi hoàn tất
mục đích ngăn cản hoặc loại bỏ, doanh nghiệp sẽ tăng giá một cách đáng kể nhằm
bù đắp lại các khoản lỗ và các khoản lợi nhuận đã bỏ qua bởi mức độ cạnh tranh
trên thị trường đã bị giảm.
[31] Freemium được ghép từ hai từ “free” (miễn phí)
và “premium” (cao cấp). Đây là một mô hình kinh doanh cung cấp các tính năng cơ
bản của sản phẩm hoặc dịch vụ miễn phí cho người dùng. Tuy nhiên, sau này công
ty sẽ tính phí cho các tính năng bổ sung hoặc nâng cao tùy theo nhu cầu của
người sử dụng.
[32] OECD,
supra note 30.
[33] Stapp Kristian Stout, Is Amazon Guilty of
Predatory Pricing?, Truth on the
Market (May 7, 2019),
https://truthonthemarket.com/2019/05/07/is-amazon-guilty-of-predatory-pricing/.
[34]
Id.
[35] Howard Shelanski, Information, Innovation,
and Competition Policy for the Internet, 161 Univ. Pa. Law Rev. 1663 (2013),
https://scholarship.law.upenn.edu/penn_law_review/vol161/iss6/6.
[36] Id.
[37] Lina Khan, Amazon’s Antitrust Paradox (Jan. 31,
2017), https://papers.ssrn.com/abstract=2911742.
[38] Yuta Kittaka, Susumu Sato & Yusuke Zennyo, Self-Preferencing
by Platforms: A Literature Review, 66 Jpn.
World Econ. 101191 (2023),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0922142523000178.
[39] XuRui Wang, SELF-PREFERENTIAL TREATMENT OF
DIGITAL PLATFORMS AND ITS ANTI-MONOPOLY REGULATION, 3 World J. Sociol. Law (2025),
http://www.upubscience.com/News11Detail.aspx?id=1489&proid=51.
[40] Id.
[41] Eva Fischer, Lena Hornkohl & Nils Imgarten,
Discriminatory Leveraging Plus: The Standard for Independent
Self-Preferencing Abuses after Google Shopping (C-48/22 P), 2025 10 Eur. Pap. - J. Law Integr. 25 (2025),
https://www.europeanpapers.eu/en/e-journal/discriminatory-leveraging-plus-standard-independent-self-preferencing-abuses-after-google-shopping.
[42] Daniele Condorelli & Jorge Padilla, Harnessing
Platform Envelopment in the Digital World (2019),
http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3504025.
[43] Stapp, supra note 34.
[44] Juan Pablo, CeCo | Antimonopoly regulation
of digital platforms in China, (Mar. 15, 2023),
https://centrocompetencia.com/anti-monopoly-regulation-of-digital-platforms-in-china/?utm_source=chatgpt.com.
[45] China Law Translate, Anti-Monopoly Law (2022
Edition), China Law Translate
(June 27, 2022), https://www.chinalawtranslate.com/anti-monopoly-law-2022/.
[46] Id.
[47] Id.
[48] Id.
[49] Id.
[50] Qing Lisha, How China and the European Union
Regulate the Abuse of Market Dominance in the Platform Economy (LUND
UNIVERSITY),
https://lup.lub.lu.se/luur/download?func=downloadFile&recordOId=9194723&fileOId=9194724.
[51] Guidelines for Anti-Monopoly in the Platform
Economy of 2020.
[52] Id.
[53] Id.
[54] Id.
[55] Lisha, supra note 51.
[56]
[CSL STYLE ERROR: reference with no printed form.].
[57]
SAMR Imposed Record Fine on Alibaba for Abuse of Dominant Position,
https://cms.law/en/chn/legal-updates/SAMR-Imposed-Record-Fine-on-Alibaba-for-Abuse-of-Dominant-Position
(last visited June 1, 2026).
[58] Pablo, supra note 45.
[59] Translation: Guidelines for Internet
Platform Categorization and Grading (Draft for Comment) – Oct. 2021, DigiChina,
https://digichina.stanford.edu/work/translation-guidelines-for-internet-platform-categorization-and-grading-draft-for-comment-oct-2021/
(last visited Sept. 8, 2025).
[60] Hướng Dẫn Dành Cho Các Nền Tảng Internet
Thực Hiện Trách Nhiệm Chính (Bản Thảo Để Lấy ý Kiến) - Trung Tâm Dịch vụ Dữ
Liệu về Mã Tín Dụng Xã Hội Thống Nhất Của Tổ Chức Quốc Gia,
https://www.cods.org.cn/c/2021-10-29/15261.html (last visited Sept. 8, 2025).
[61] China Updates Its Anti-Unfair Competition
Law to Address “Involutionary” Competition and Abuses of Superior Bargaining
Power, JD Supra, https://www.jdsupra.com/legalnews/china-updates-its-anti-unfair-5905605/
(last visited Sept. 10, 2025).
[62] Beijing Dacheng Law Offices LLP- JetDeng &
KenDai, China Updates Its Anti-Unfair Competition Law to Address
“Involutionary” Competition and Abuses of Superior Bargaining Power, Lexology (Aug. 8, 2025),
https://www.lexology.com/library/detail.aspx?g=1601e9a6-12e9-41ca-ad80-c17021ab4a6d.
[63] Aaron Wininger, China’s National People’s
Congress Passes Amended Anti-Unfair Competition Law, China IP Law Update (June 27, 2025),
https://www.chinaiplawupdate.com/2025/06/chinas-national-peoples-congress-passes-amended-anti-unfair-competition-law/.
[64] Id.
[65] JetDeng and KenDai, supra note 63.
[66] Id.
[67] Id.
[68] Wininger, supra note 64.
[69]
Quốc Hội, supra note 13.
[70]
Điều 3, Điều 4 Nghị Định 35/2020/NĐ-CP Quy Định Chi Tiết Một Số Điều Của Luật Cạnh
Tranh.
[71]Điều 24, Quốc Hội, supra note 13.
[72]
Điều 26 Id.
[73]
Khoản 1, Điều 15 Luật Thương mại điện tử
[74]
Khoản 3, Điều 17 Luật Số 1222025QH15.
[75]
Điều 8, Điều 9 Nghị Định 75/2019/NĐ-CP Quy Định về Xử Phạt vi Phạm Hành Chính
Trong Lĩnh Vực Cạnh Tranh .