Nghiên cứu lý luận

Các luồng nghiệp vụ mới trong quá trình lựa chọn nhà thầu qua mạng

Nguyễn Ngọc Hoàng Thứ năm, 25/07/2024 - 05:54

(PLPT) - Hiện nay, chủ đầu tư khi đăng tải kết quả lựa chọn nhà thầu phải đăng tải danh mục hàng hóa trúng thầu. Từ khối dữ liệu đầu vào này, Hệ thống tạo ra cơ sở dữ liệu về danh mục hàng hóa, dịch vụ dùng cho mua sắm trực tuyến. Danh mục này được trích xuất từ kết quả lựa chọn nhà thầu của những gói thầu mua sắm tập trung.

1. Tổ chuyên gia lập E-HSMQT, E-HSMST, E-HSMT trên Hệ thống

Trong quá trình lựa chọn nhà thầu qua mạng, Tổ chuyên gia do chủ đầu tư hoặc đơn vị tư vấn được thuê thành lập, thực hiện trách nhiệm lập, đánh giá hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu.

Sơ đồ khái quát việc phân công tổ chuyên gia trên Hệ thống

Hiện nay, việc lập một bộ e-HSMT được thực hiện theo một trong 2 cách, quá trình lập, trình, thẩm định, phê duyệt hoàn toàn offline và sau đó thể hiện lại trên Hệ thống trước khi thực hiện đăng tải, phát hành; Hoặc bước lập e-HSMT được thực hiện trên Hệ thống bằng tài khoản với vai trò là Bên mời thầu. Cả 2 cách mà người dùng hiện nay đang thực hiện đều chưa thể hiện rõ được vai trò của Tổ chuyên gia trong khâu lập e-HSMT trên Hệ thống. Do vậy, trong thời gian sắp tới, Hệ thống sẽ bổ sung luồng lập e-HSMT bằng tài khoản của Tổ chuyên gia. Có một số điểm chúng ta cần quan tâm trong luồng nghiệp vụ này như:

- Chủ đầu tư có thể tạo ra danh sách chuyên gia, và khi tạo tài khoản Tổ chuyên gia có thể lấy các chuyên gia này vào thành viên của Tổ. Chức năng này hiện Hệ thống đã có và đang áp dụng khi lập Tổ chuyên gia để đánh giá.

- Tài khoản của Tổ chuyên gia là tài khoản nghiệp vụ, gắn với cá nhân tổ trưởng Tổ chuyên gia. Như vậy có nghĩa, tài khoản này được tạo bởi tài khoản tham gia Hệ thống của chủ đầu tư, hoặc đơn vị tư vấn được thuê làm bên mời thầu.

- Sau khi tài khoản Tổ chuyên gia lập e-HSMT trên Hệ thống hoàn thiện, toàn bộ dữ liệu số hóa này sẽ được Hệ thống lưu giữ và chuyển sang cho tài khoản với vai trò Bên mời thầu/Chủ đầu tư.

Do vậy, dù thời điểm này chưa triển khai việc phê duyệt e-HSMT trên Hệ thống, tuy nhiên chúng ta đã có được một nguyên tắc, bộ e-HSMT in ra để phê duyệt, luôn được in từ hệ thống, vì vậy sẽ hạn chế được tình trạng sai khác giữa bản phê duyệt và bản phát hành.

2. Phê duyệt hồ sơ, kết quả trên Hệ thống

Đối với gói thầu áp dụng lựa chọn nhà thầu qua mạng, việc phê duyệt hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia được thực hiện kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2024.

Hệ thống sẽ bổ sung luồng tạo tài khoản cùng nhóm quyền cho người có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ, kết quả. Tài khoản này cũng là tài khoản nghiệp vụ, gắn với cá nhân là người đứng đầu hoặc người được ủy quyền.

Trong luồng nghiệp vụ phê duyệt này, Hệ thống cũng bổ sung thêm các màn hình nghiệp vụ của Tổ thẩm định để đính kèm báo cáo thẩm định và nhập ý kiến thẩm định lên Hệ thống, đây cũng là điểm khác so với hiện nay

Luồng chức năng sẽ đáp ứng cho việc bên mời thầu chỉnh sửa thông tin dự thảo e-HSMT khi chưa chuyển sang chủ đầu tư phê duyệt, và Hệ thống cũng sẽ lưu giữ lại các lịch sử, sản phẩm của các bên.

3. Chào giá trực tuyến

Đối với việc lựa chọn nhà thầu qua mạng, chào giá trực tuyến là hình thức mới, nhà thầu chào lặp lại nhiều lần mức giá, làm cơ sở để Hệ thống tự động xếp hạng. Chào giá trực tuyến bao gồm chào giá trực tuyến theo quy trình thông thường và chào giá trực tuyến theo quy trình rút gọn.

Chào giá trực tuyến theo quy trình thông thường được áp dụng trong các trường hợp: Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản; hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và tương đương nhau về chất lượng; tiêu chuẩn đánh giá quan trọng nhất là giá, không có hoặc ít có yếu tố tác động của chi phí vòng đời;

Chào giá trực tuyến theo quy trình rút gọn đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ phi tư vấn có giá trị không quá 300 triệu đồng đối với dự toán mua sắm; không quá 01 tỷ đồng đối với các gói thuộc vốn chi đầu tư;

Thời điểm kết thúc chào giá trực tuyến phải trong giờ hành chính. Giá chào không được cao hơn giá gói thầu và không được cao hơn giá chào thấp nhất đối với trường hợp giá là yếu tố duy nhất được chào lại.

4. Bảo lãnh điện tử

Việc thực hiện đính kèm bảo lãnh dự thầu khi tham dự trên Hệ thống tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nhà thầu như đính kèm nhầm file, thiếu file hoặc các yếu tố khác từ phía ngân hàng hoặc nhà thầu dẫn đến bảo lãnh dự thầu đính kèm không hợp lệ như sai tên đơn vị thụ hưởng, giá trị, thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu không đáp ứng yêu cầu của HSMT; bất tiện trong các công tác tổ chức lựa chọn nhà thầu của bên mời thầu, chủ đầu tư như đánh giá tính hợp lệ của bảo đảm dự thầu trên bản scan (không phải bản gốc), tịch thu, giải tỏa bảo đảm dự thầu.

Bảo lãnh điện tử cung cấp phương án kỹ thuật, quy trình cấp phát, thu hồi bảo lãnh điện tử trên Hệ thống, hướng tới số hóa, tự động hóa các khâu liên quan đến bảo lãnh dự thầu. Là giải pháp tiện ích giúp tối giản thủ tục, thời gian và chi phí cho nhà thầu trong quá trình tham dự thầu qua mạng; Rút ngắn thời gian trong quá trình đánh giá; Giúp Hệ thống e-GP có thể tự động đánh giá về giá trị, thời hạn của bảo lãnh dự thầu; Tránh những sai sót gặp phải so với cách thức thực hiện bảo lãnh giấy truyền thống.

Sơ đồ luồng phát hành và Sơ đồ luồng giải tỏa

Phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu, áp dụng cho các gói thầu hàng hóa, dịch vụ thuộc dự toán mua sắm có giá gói thầu không quá 100 triệu. Đối với các gói thầu hàng hóa, dịch vụ sử dụng nguồn vốn dự án đầu tư, dự án theo Luật Đầu tư công có giá không quá 01 tỷ đồng.

Hiện nay chủ đầu tư khi đăng tải kết quả lựa chọn nhà thầu phải đăng tải danh mục hàng hóa trúng thầu. Từ khối dữ liệu đầu vào này, Hệ thống tạo ra cơ sở dữ liệu về danh mục hàng hóa, dịch vụ dùng cho mua sắm trực tuyến. Danh mục này được trích xuất từ kết quả lựa chọn nhà thầu của những gói thầu mua sắm tập trung. Khi Bên mời thầu có nhu cầu mua sắm trực tuyến sẽ lựa chọn hàng hóa, dịch vụ trong danh mục này để tạo thành các đơn hàng. Hệ thống tự động gửi thông báo cho nhà thầu đã trúng thầu trong mua sắm tập trung trước đó. Nhà thầu có trách nhiệm xác nhận đơn hàng hoặc từ chối đơn hàng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu đặt hàng.

Cùng chuyên mục

Vận dụng học thuyết frustration của Anh để hoàn thiện Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015: Từ khung phân bổ rủi ro đến mô hình hai tầng điều chỉnh

Vận dụng học thuyết frustration của Anh để hoàn thiện Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015: Từ khung phân bổ rủi ro đến mô hình hai tầng điều chỉnh

Nghiên cứu lý luận -  1 tuần trước

(PLPT) Bài viết tiếp cận Điều 420 BLDS 2015 trên nền tảng lý thuyết phân bổ rủi ro hợp đồng, qua đó làm rõ rằng các biến động phát sinh sau khi giao kết không mang tính đồng nhất, mà cần được phân loại theo mức độ tác động đối với nghĩa vụ và cơ sở tồn tại của giao dịch. Trong khuôn khổ đó, học thuyết frustration của pháp luật Anh không được sử dụng như một trục lý luận độc lập, mà chỉ như một công cụ chẩn đoán nhằm nhận diện ngưỡng mà tại đó rủi ro vượt khỏi phạm vi phân bổ và chuyển hóa thành sự phá vỡ nền tảng giao dịch.

Xác định tình trạng khẩn cấp trong quan hệ quốc tế khi viện dẫn ngoại lệ an ninh trong Hiệp định GATT 1994: Một số bài học từ tranh chấp DS597 giữa Hoa Kỳ và Hong Kong, Trung Quốc

Xác định tình trạng khẩn cấp trong quan hệ quốc tế khi viện dẫn ngoại lệ an ninh trong Hiệp định GATT 1994: Một số bài học từ tranh chấp DS597 giữa Hoa Kỳ và Hong Kong, Trung Quốc

Nghiên cứu lý luận -  1 tuần trước

(PLPT) Trên cơ sở phân tích phán quyết của Ban Hội thẩm trong vụ DS597 và đối chiếu với án lệ trước đó, bài viết làm rõ cách tiếp cận Ban Hội thẩm trong việc xác định khái niệm “tình trạng khẩn cấp trong quan hệ quốc tế”, điều kiện quan trọng để viện dẫn ngoại lệ an ninh.

Khái niệm 'Người gác cổng' (gatekeeper) trong Đạo luật Thị trường số của Liên minh Châu Âu và khả năng tiếp nhận vào pháp luật cạnh tranh Việt Nam

Khái niệm "Người gác cổng" (gatekeeper) trong Đạo luật Thị trường số của Liên minh Châu Âu và khả năng tiếp nhận vào pháp luật cạnh tranh Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  1 tuần trước

(PLPT) - Từ mô hình “người gác cổng” trong Đạo luật Thị trường số của EU, công trình luận giải nhu cầu hoàn thiện pháp luật cạnh tranh Việt Nam trước quyền lực nền tảng số xuyên biên giới.

Phát triển bền vững dưới góc độ Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Phát triển bền vững dưới góc độ Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Nghiên cứu lý luận -  1 tuần trước

(PLPT) - Tiếp cận Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 từ yêu cầu phát triển bền vững, bài viết khẳng định bước tiến mới, đồng thời kiến nghị hoàn thiện cơ chế thực thi.

Điều chỉnh “Sharenting” trong môi trường số dưới góc độ quyền trẻ em

Điều chỉnh “Sharenting” trong môi trường số dưới góc độ quyền trẻ em

Nghiên cứu lý luận -  1 tuần trước

(PLPT) - Trước sự bùng nổ của sharenting trong môi trường số, bài viết nhận diện rủi ro xâm hại quyền trẻ em, chỉ ra khoảng trống pháp luật Việt Nam và đề xuất khung điều chỉnh kịp thời.

Hoàn thiện pháp luật về quyền bí mật đời sống riêng tư của trẻ em dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em

Hoàn thiện pháp luật về quyền bí mật đời sống riêng tư của trẻ em dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em

Nghiên cứu lý luận -  1 tuần trước

(PLPT) - Trong bối cảnh số hóa dữ liệu, bài viết kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền riêng tư của trẻ em, lấy lợi ích tốt nhất của trẻ làm chuẩn mực bảo vệ thù.

Hài hòa hóa “quyền sửa chữa” và quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm công nghệ: kinh nghiệm từ EU và định hướng cho Việt Nam

Hài hòa hóa “quyền sửa chữa” và quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm công nghệ: kinh nghiệm từ EU và định hướng cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Bài viết phân tích xung đột pháp lý giữa “Quyền sửa chữa” (Right to Repair - R2R) và Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong bối cảnh chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn (KTTH) tại Việt Nam.

Hiệp định Ấn Độ – EFTA và vấn đề tái định hình tiêu chuẩn đầu tư bền vững: Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Hiệp định Ấn Độ – EFTA và vấn đề tái định hình tiêu chuẩn đầu tư bền vững: Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Bài viết này, với tư cách là một nghiên cứu lý luận pháp lý, phân tích cấu trúc quy phạm của các cam kết đầu tư trong TEPA, làm rõ bản chất pháp lý của các nghĩa vụ, cơ chế giám sát và mối liên kết liên ngành giữa đầu tư và thương mại.