Thời hạn góp vốn khi thành lập công ty cổ phần là bao lâu?
Yến Nhi
Chủ nhật, 22/12/2024 - 08:54
(PLPT) - Góp vốn thành lập công ty không chỉ là việc tạo vốn điều lệ cho công ty mà còn là cơ sở để xác lập quyền, nghĩa vụ của các cổ đông. Do đó, Luật Doanh nghiệp đã đặt ra quy định về thời hạn cổ đông phải hoàn thành việc góp vốn khi thành lập công ty. Vậy, khi thành lập công ty cổ phần, cổ đông phải góp vốn trong thời hạn bao lâu?
Khoản
1 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Các
cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ
công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn.
Trường hợp cổ đông góp vốn bằng tài sản thì thời gian vận chuyển nhập khẩu, thực
hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản đó không tính vào thời hạn
góp vốn này.”
Theo
quy định trên, trường hợp các cổ đông có thỏa thuận về thời hạn góp vốn và ghi nhận nội dung này tại Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần và thời hạn đó ngắn
hơn thời hạn Luật Doanh nghiệp
2020 quy định thì các cổ đông phải thanh toán đủ số
cổ phần đăng ký mua trong thời hạn đã quy định tại Điều lệ công ty hoặc hợp đồng
đăng ký mua cổ phần.
Trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần
không quy định thời hạn góp vốn thì các
cổ đông của công ty có nghĩa vụ góp vốn theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 113
của Luật Doanh nghiệp 2020. Nếu các cổ đông có thỏa thuận về thời hạn góp vốn
nhưng thời hạn này vượt quá thời hạn luật định thì thỏa thuận này được coi là
không phù hợp với quy định pháp luật và cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần
đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp.
Trường hợp cổ đông góp vốn bằng tài sản thì thời hạn góp vốn được gia hạn bằng
thời gian vận chuyển nhập khẩu, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở
hữu tài sản góp vốn từ quyền sở hữu của cổ đông sang công ty. Đây là quy định mới
của Luật Doanh nghiệp 2020 so với các Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Doanh nghiệp
2005.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020, ngoài góp vốn bằng tiền, cổ
đông được quyền góp vốn bằng các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt
Nam. Để hoàn thành việc góp vốn, cổ đông phải hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở
hữu tài sản góp vốn cho công ty.
Theo quy định pháp luật, để chuyển quyền sở hữu
một số tài sản nhất định như quyền sử dụng đất thì cổ đông phải thực hiện các
thủ tục hành chính. Do vậy, cổ đông sẽ mất thời gian để thực hiện thủ tục hoàn
tất việc chuyển quyền sở hữu cho công ty.
Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp không hạn chế việc góp vốn bằng tài sản nhập
khẩu. Trường hợp này, cổ đông sẽ mất thời gian để vận chuyển tài sản và thực hiện
thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam. Vì các lý do trên, Luật Doanh nghiệp 2020 đã
cho phép không tính thời gian vận chuyển nhập khẩu, thời gian thực hiện thủ tục
hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản vào thời hạn góp vốn theo quy định.
Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định rõ ràng, cụ thể về việc cung cấp hồ
sơ chứng minh thời gian vận chuyển nhập khẩu và thời gian thực hiện thủ tục
hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn. Do đó, để bảo đảm việc góp vốn
đúng hạn, cổ đông cần lưu giữ các hồ sơ, chứng từ hợp lệ chứng minh cho việc thực
hiện các thủ tục trên.
Độc giả còn vướng mắc có thể đóng góp ý kiến tại phần "Bình luận" phía dưới; liên hệ Đường dây nóng tư vấn pháp luật: 0899.515.999 hoặc gửi câu hỏi cho tòa soạn tại đây để được hỗ trợ.
(PLPT) - Chiều ngày 10/9 Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chủ trì cuộc họp nghe báo cáo tiếp thu ý kiến thành viên Chính phủ đối với Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2024, tập trung tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, đưa chính sách đất đai phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường hiện nay.
(PLPT) - Việc quản lý và vận hành chung cư đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo quyền lợi của cư dân. Tiêu chuẩn thành viên Ban Quản trị chung cư là gì? Người có tiền án, tiền sự có được ứng cử vào Ban Quản trị chung cư hay không?
(PLPT) - Thủ tục đăng ký, cấp biển số xe lần đầu thực hiện bằng dịch vụ công một phần hoặc trực tiếp thực hiện tại cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp xã gồm 7 bước.