Áp dụng BASEL III tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Phan Đăng Hải*
Thứ năm, 26/03/2026 - 14:23
(PLPT) Bài viết tập trung phân tích thực trạng áp dụng Basel III tại Việt Nam dưới góc độ pháp lý, làm rõ những khoảng trống và thách thức trong hệ thống pháp luật hiện hành, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về an toàn hoạt động ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo đảm sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tóm
tắt: Chuẩn mực Basel III được Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ban hành
nhằm tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các cú sốc tài
chính, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Tại Việt Nam, việc tiếp cận và áp dụng các chuẩn
mực Basel III đang được triển khai từng bước, mặc dù đã đạt được một số kết quả
nhất định, song khuôn khổ pháp luật về an toàn hoạt động ngân hàng vẫn còn tồn
tại những hạn chế, bất cập so với các yêu cầu của Basel. Bài viết tập trung
phân tích thực trạng áp dụng Basel III tại Việt Nam dưới góc độ pháp lý, làm rõ
những khoảng trống và thách thức trong hệ thống pháp luật hiện hành, từ đó đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về an toàn hoạt động ngân hàng,
góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo đảm sự phát triển an toàn,
bền vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Từ
khóa: Basel III; an
toàn hoạt động ngân hàng; pháp luật ngân hàng; quản trị rủi ro
Abstract: Basel III standards, issued by the Basel Committee on
Banking Supervision (BCBS), aim to strengthen the resilience of the banking
system against financial shocks, particularly in the aftermath of the 2008-2009 global financial crisis. In Viet Nam, the
adoption and implementation of Basel III standards have been carried out in a
phased manner. Although specific achievements have been made, the legal
framework governing banking safety and soundness still exhibits limitations and
shortcomings relative to the Basel requirements. This article analyzes the
current state of Basel III implementation in Vietnam from a legal perspective,
clarifying existing gaps and challenges in the legal system. Based on this
analysis, the article proposes several solutions to improve banking safety and
soundness regulations, thereby enhancing the effectiveness of state management
and ensuring the safe and sustainable development of Vietnam’s banking system.
Ngân hàng là trung gian tài chính cốt lõi của nền kinh
tế, giữ vai trò huy động và phân bổ vốn. Nếu cơ chế tín dụng vận hành thiếu
kiểm soát, rủi ro nợ xấu, mất khả năng thanh khoản hoặc đổ vỡ dây chuyền có thể
xảy ra, gây tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ thống kinh tế - tài chính. An toàn vốn, quản trị rủi ro và minh bạch
tài chính là nền tảng để hệ thống ngân hàng duy trì sự ổn định và phát triển
bền vững[1].
Kể từ sau
khủng hoảng 2008, các cơ quan quốc tế đã thống nhất những khung quy định chặt
chẽ nhằm tăng cường vốn, thanh khoản và quản trị rủi ro của ngân hàng. Tiêu
biểu là Basel II và sau đó là Basel III[2]
- một bộ biện pháp toàn cầu
nhằm tăng cường quản lý, giám sát và quản trị rủi ro của ngân hàng. Các tiêu
chuẩn Basel III được hoàn thiện vào năm 2017, và theo Ban Ủy ban Basel (BCBS)
chúng “sẽ khiến các ngân hàng kiên cường hơn và khôi phục niềm tin vào hệ
thống ngân hàng”[3]. Ở
Việt Nam, vấn đề này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nợ xấu vẫn là thách
thức thường trực. Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (2023) cho thấy tỷ lệ nợ xấu
nội bảng có xu hướng tăng sau đại dịch COVID-19, đặc biệt ở các lĩnh vực bất
động sản và tiêu dùng[4].
Chính bởi tầm quan trọng của các tiêu chuẩn Basel, mặc dù việc áp dụng tiêu
chuẩn Basel II, Basel III là không hề dễ dàng, thậm chí phải hy sinh một phần
nguồn vốn để tăng mức độ an toàn nhưng nhiều ngân hàng Việt Nam đã ráo riết
thử nghiệm chuẩn mực này từ rất lâu[5].
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, bài viết tập trung vào nội dung giới thiệu về Basel
III; phân tích thực trạng pháp luật
Việt Nam, nhấn mạnh về mức
độ nội luật hoá các yêu cầu của Basel III trong hệ thống pháp luật; đánh giá thực
tiễn thi hành pháp luật và thực
tiễn áp dụng Basel III tại Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm
nâng cao hiệu quả áp dụng Basel III, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân
hàng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường tài chính Việt Nam.
II. Giới thiệu về Basel III
Ủy ban Basel được thành lập với tên gọi là Ủy ban về
Quy định Ngân hàng và Thực tiễn Giám sát bởi các Thống đốc Ngân hàng Trung
ương của các quốc gia thuộc G10[6] vào
cuối năm 1974, trong bối cảnh xảy ra những xáo trộn nghiêm trọng trên thị
trường tiền tệ và ngân hàng quốc tế (đặc biệt là sự sụp đổ của Ngân hàng
Bankhaus Herstatt tại Tây Đức)[7].
Ủy ban Basel được nhóm họp 4 lần trong một năm với 25 nhóm kỹ
thuật và một số bộ phận khác được nhóm họp thường xuyên để
thực hiện các nội dung công việc của Ủy ban. Hội đồng thư ký của
ủy ban Basel được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS)
gồm có 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng
chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các quốc gia thành viên.
Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những
kết luận không có tính pháp lý cũng như yêu cầu tuân thủ đối
với việc giám sát hoạt động ngân hàng. Ủy ban thực hiện các báo
cáo cho thống đốc Ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động
ngân hàng của nhóm G10. Một mục tiêu quan trọng của Ủy ban là thu
hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản: (1)
không ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà không có sự
giám sát; và (2) việc giám sát phải tương xứng. Để đạt
được mục tiêu đề ra, kể từ 1975 đến nay, Ủy ban Basel đã ban hành
rất nhiều văn bản, tài liệu liên quan đến vấn đề này.
(1)Quá
trình hình thành các chuẩn mực an toàn vốn Basel I và Basel II
Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu
Tiêu
chuẩn vốn Basel hay Basel I (International Convergence of Capital
Measurement and Capital Standards). Basel I cung cấp khung đo lường rủi ro
tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu là 8%[8].
Từ năm 1988, Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia
thành viên mà còn ở hầu hết các nước với ngân hàng hoạt động
quốc tế. Vào tháng 6/1999, ủy ban Basel đã ban hành đề xuất khung đo
lường mới với 3 trụ cột chính: (1)
yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (2) việc giám
sát quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các ngân hàng;
và (3) sử dụng hiệu quả việc công bố thông tin nhằm đảm bảo kỷ
luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát.Sau những thảo luận với các ngân hàng, các nhóm ngành và các
cơ quan giám sát không phải thành viên của Ủy ban, Basel II được
ban hành vào ngày 26/06/2004[9]
(sau đó tài liệu này được hợp nhất, hoàn chỉnh vào năm 2006)[10].
Không chỉ kế thừa hai mục tiêu chủ chốt của Basel I, Basel II có
thêm mục tiêu thứ ba, đó là hướng đến một sự điều tiết mà sẽ
dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình.
Nhìn chung, tại thời điểm đi vào thực hiện, Basel II là khung đánh
giá rủi ro ngân hàng thương mại khá toàn diện. Tuy nhiên, cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 đã cho thấy Basel II bộc lộ một
số nhược điểm nhất định.
(2) Basel
III và những cải cách về an toàn vốn, đòn bẩy và thanh khoản ngân hàng
Xuất phát từ lý do trên, ngày 12/09/2010, Ủy ban Basel đã chính thức công bố Basel III về các tiêu chuẩn
an toàn vốn tối thiểu như một phiên bản bổ sung, hoàn thiện và
khắc phục những nhược điểm của Basel II. Hai tài liệu quan trọng nhất
của Basel III là Basel III: Khung quy định toàn cầu hướng đến các ngân hàng và
hệ thống ngân hàng vững mạnh hơn (Basel III: A global regulatory framework for
more resilient banks and banking system -
ban hành tháng 06/2011[11]) và Basel
III: Khung quy định quốc tế về đo lường, chuẩn mực và giám sát rủi ro thanh
khoản (Basel III: International framework for liquidity risk measurement,
standards, and monitoring - ban hàng
tháng 01/2013)[12]. Mục tiêu
hướng tới của Basel III này là: i) cải thiện khả năng chống chọi của hệ thống
ngân hàng trước khủng hoảng kinh tế tài chính; ii) cải thiện các hoạt động giám
sát và quản trị rủi ro; và iii) tăng cường minh bạch và công bố thông tin của
các ngân hàng. Trong khi đó, các cải tiến hướng tới hai cấp độ:
- Cấp độ ngân hàng hoặc vi mô: các quy định nhằm tăng
khả năng chống chọi của từng ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng;
- Cấp độ vĩ mô: các rủi ro trên toàn hệ thống ngân
hàng cũng như cộng hưởng từ các chu kỳ kinh tế.
Một số nội dung thay đổi trong khuôn khổ của Basel III
có thể kể đến như nâng tỷ trọng và chất lượng vốn. Basel III nâng tỷ lệ an toàn
vốn tối thiểu đối với vốn cổ phần lên 4,5% và quy định thêm mức đệm bảo toàn
vốn (CCB) ≥ 2,5% và đệm phản chu kỳ (CCyB) từ 0-2,5%, từ đó nâng tổng mức an
toàn vốn tối thiểu đối với vốn cổ phần lên 7% và tỷ lệ an toàn vốn và các bộ
đệm cũng tăng lên tới tối thiểu 10,5%. Ngoài ra, việc Basel III đưa ra các tỷ
lệ an toàn riêng cho vốn cổ phần, vốn cấp 1 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của
chất lượng và sự lành mạnh của cấu trúc vốn tự có của các ngân hàng, thay vì
chỉ quan tâm đến tổng giá trị vốn.
Basel III cũng đưa ra các yêu cầu mới về đòn bẩy và
thanh khoản để bảo vệ các ngân hàng khỏi tình trạng cho vay quá mức và rủi ro,
đồng thời đảm bảo các ngân hàng có đủ thanh khoản trong giai đoạn căng thẳng
tài chính. Tỷ lệ này được tính bằng vốn cấp 1 chia cho tổng tài sản của ngân
hàng, với yêu cầu tỷ lệ tối thiểu là 3%. Ngoài ra, Basel III tăng cường giám
sát an toàn thanh khoản, đưa ra 2 chỉ số bao gồm LCR và NSFR. Tỷ lệ LCR hướng
tới mục tiêu thúc đẩy khả năng chống chịu của ngân hàng trước tình huống căng
thẳng ngắn hạn thông qua việc yêu cầu các ngân hàng duy trì nắm giữ đầy đủ tài
sản có tính thanh khoản cao để đáp ứng nhu cầu dòng tiền ra trong vòng 30 ngày
khủng hoảng. Tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) hướng tới bổ trợ và khuyến
khích các ngân hàng duy trì nguồn vốn huy động ổn định giúp đáp ứng các nhu cầu
dòng tiền trong một năm tới và tỷ lệ này phải đạt tối thiểu 100%[13].
Có thể nói, Basel III là chuẩn mực quản trị rủi ro uy
tín được áp dụng rộng rãi trên quốc tế và đang được hệ thống ngân hàng các quốc
gia hướng đến, thông qua việc nâng cao chất lượng về vốn và năng lực thanh
khoản theo yêu cầu của chuẩn mực, giúp các ngân hàng thương mại trang bị khả
năng chống đỡ tốt hơn trước những căng thẳng thanh khoản; đồng thời tạo nền
tảng cho một hệ thống ngân hàng bền vững có sức chống chịu biến cố, khả năng
phục hồi sau biến cố và góp phần ngăn ngừa những tổn thất hệ thống có thể xảy
ra.
Ngày 07/12/2017, Ngân hàng Thanh
toán quốc tế (BIS) đã công bố kết quả cải cách các quy định Basel III và lùi thời
hạn áp dụng bắt đầu sang năm 2022 nhằm giúp các ngân hàng có đủ thời gian để
triển khai thực hiện[15]. Cải cách 2017
tiếp tục khắc phục những yếu kém của hệ thống ngân hàng, nhất là xung quanh
thời điểm xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009[16]. Bên cạnh các yêu cầu về thanh khoản và đòn bẩy,
cải cách hoàn thiện Basel III tập
trung giải quyết triệt để vấn đề độ
tin cậy và tính so sánh được của tài sản tính theo rủi ro (RWA). Theo đó, khung khổ pháp lý mới
thiết lập cơ chế sàn vốn đầu ra
(output floor) nhằm giới hạn lợi
ích của việc sử dụng mô hình nội bộ, đảm bảo mức vốn yêu cầu không được thấp
quá mức so với phương pháp chuẩn hóa, qua đó ngăn chặn tình trạng tối ưu hóa
mô hình để giảm vốn. Đối với rủi ro hoạt động, chuẩn mực mới loại bỏ hoàn toàn các mô hình đo lường nội bộ phức
tạp trước đây để chuyển sang một phương pháp tiếp cận chuẩn hóa duy nhất dựa
trên quy mô kinh doanh và lịch sử tổn thất thực tế, giúp phản ánh chính xác
hơn hồ sơ rủi ro của ngân hàng. Ngoài ra, Basel III cũng yêu cầu tách biệt
và bổ sung vốn cho rủi ro điều chỉnh
giá trị tín dụng (CVA) đối với các giao dịch phái sinh, đồng thời giảm sự phụ thuộc cơ học
vào xếp hạng tín nhiệm bên ngoài trong việc đánh giá rủi ro tín dụng nhằm
tăng cường tính chủ động và thận trọng trong quản trị.
III. Thực trạng xây dựng pháp luật hướng tới áp dụng Basel III ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại, đối với Basel
III, hiện chưa có bất kì quy định nào bắt buộc phải áp dụng tiêu chuẩn này cho
các ngân hàng ở Việt Nam. Tuy nhiên, với định hướng áp dụng Basel tại Việt Nam,
trên cơ sở nâng dần tiêu chuẩn theo Basel I, II và tương lai là Basel III được
thể hiện rất rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ.
Cách đây hơn 20 năm, tuy các văn bản chính thức chưa
nhắc đến chuẩn mực Basel, nhưng Quyết định 297/1999/QĐ-NHNN ban hành tháng
8-1999 đã bước đầu có quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động đơn giản.
Phải đến tháng 5/2006, Quyết định 112/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng phê duyệt Đề án
phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 mới
chính thức nhắc đến các chuẩn mực Basel trong định hướng phát triển hệ thống
giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước. Đối mặt với những bất ổn của hệ
thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2009-2010, Quyết định 254/QĐ-TTg của Thủ
tướng ban hành năm 2012 đã một lần nữa nhắc đến các chuẩn mực Basel như định
hướng giải pháp cơ cấu lại tài chính, hoạt động và quản trị của các TCTD. Quyết
định này đã đề cập đến cả ba trụ cột của Basel II, gồm: (i) ban hành chuẩn mực
an toàn vốn (ii) phát triển hệ thống quản trị rủi ro và (iii) quy định công bố
thông tin phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực của Ủy ban Basel với thời hạn
thực hiện là cuối năm 2015.
Ở thời điểm hiện tại, bám sát với các nội dung của 3
trụ cột tại Basel II, Basel III, các cơ quan lập pháp ở Việt Nam đã bước đầu
xây dựng khung khổ pháp lý cần thiết hướng dẫn các ngân hàng triển khai các trụ
cột của cácchuẩn mực Basel. Có thể khái quát khung pháp lý hiện hành
theo bảng sau:
Bên cạnh văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh chung
là Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), các nội dung liên
quan đến từng Trụ cột tại Basel II, hướng tới Basel III đã được điều chỉnh
trong các văn bản pháp luật khác nhau:
- Đối với trụ cột I, ngày 30/6/2025, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn
vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để thay thế
cho Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016. Thông tư mới không chỉ điều
chỉnh kỹ thuật tính CAR mà còn tiếp thu các nguyên tắc của Basel
III về vốn, minh bạch và kiểm soát rủi ro, đánh dấu bước tiến quan trọng trong
hiện đại hóa hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Có thể nói, Thông tư số 14/2025/TT-NHNN đánh dấu bước
chuyển đổi quan trọng trong định hướng quản trị vốn và rủi ro của hệ thống ngân
hàng Việt Nam, phản ánh sự dịch chuyển rõ nét từ mô hình giám sát hình thức
sang tiếp cận thực chất, dựa trên nguyên tắc thận trọng và khả năng hấp thụ rủi
ro theo chuẩn mực Basel III. Việc siết chặt các tiêu chí công nhận vốn tự có,
tái cấu trúc hệ số rủi ro tài sản và nâng cao yêu cầu đối với chất lượng tài
sản bảo đảm, không chỉ nhằm tăng cường năng lực chống chịu của hệ thống tổ chức
tín dụng, mà còn giúp định hình lại cấu trúc vốn theo hướng ổn định và bền vững
hơn. Những điều chỉnh này góp phần bảo đảm an toàn hệ thống trong dài hạn cũng
như phù hợp với kỳ vọng của thị trường tài chính quốc tế về tính minh bạch,
hiệu quả và năng lực quản trị rủi ro nội tại[17].
- Đối với trụ cột II, NHNN đã xây dựng, ban hành Thông
tư 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương
mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số
40/2018/TT-NHNN, Thông tư 14/2023/TT-NHNN, Thông tư 09/2024/TT-NHNN). Về cơ bản, Thông tư
13/2018/TT-NHNN đã tạo lập một khung khổ pháp lý cơ bản và đồng bộ trong công tác giám sát của quản
lý cấp cao, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, đánh giá nội bộ về mức đủ vốn và
kiểm toán nội bộ của các ngân hàng thương mại. Thông tư 13/2018/TT-NHNN giúp
các ngân hàng tuân thủ theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, góp phần nâng
cao hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với
các ngân hàng thương mại, nhằm giảm bớt tổn thất, nguy cơ mất khả năng thanh
toán, đổ vỡ của hệ thống ngân hàng[18].
Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, khi Luật Các
tổ chức tín dụng 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025) ra đời cũng như cơ cấu tổ chức
của Ngân hàng nhà nước thay đổi, Thông tư 13/2018/TT-NHNN và các văn bản sửa
đổi, bổ sung đã bộc lộ những điểm chưa phù hợp. Một số nội dung khi so sánh với
quy định của Basel còn thiếu như: quản lý rủi ro mô hình, yêu cầu về dữ liệu
rủi ro, kiểm tra sức chịu đựng và hướng dẫn đo lường rủi ro lãi suất trên sổ
ngân hàng. Việc thay đổi căn bản về cấu trúc và phương pháp tiếp cận đối với
Thông tư 13/2018/TT-NHNN là vô cùng cần thiết. Những thay đổi này sẽ hướng tới
tiệm cận thông lệ quốc tế, xử
lý các khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, tăng tính minh bạch và bảo đảm an toàn cho hoạt
động của hệ thống ngân hàng[19].
- Đối với trụ cột III, ngoài chịu sự điều chỉnh của
Luật Chứng khoán 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành về chế độ công bố thông
tin trên thị trường chứng khoán, các quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng,
Thông tư 14/2025/TT-NHNN, Thông tư 13/2018/TT-NHNN cũng thể hiện quyết tâm của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc tăng cường yêu cầu các ngân hàng thực
hiện báo cáo, công bố thông tin đối với kết quả tính vốn, thực trạng kiểm soát,
quản lý rủi ro, việc xác định khẩu vị rủi ro, kết quả đánh giá nội bộ về mức độ
đủ vốn, kế hoạch sử dụng vốn... Đây là cơ sở để cơ quan quản lý giám sát khẩu
vị rủi ro, đánh giá mức độ an toàn hoạt động[20].
Kết luận
lại, khung pháp luật về an toàn vốn và quản trị rủi ro ngân hàng ở Việt Nam
trong thời gian qua đã đạt được những thành công quan trọng, thể hiện rõ quyết
tâm của các cơ quan lập pháp trong việc tiếp cận và nội luật hóa các chuẩn mực
Basel II, từng bước hướng tới Basel III. Hệ thống văn bản pháp luật, với Luật
Các tổ chức tín dụng năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) làm trụ cột, cùng
các thông tư chuyên ngành như Thông tư 14/2025/TT-NHNN và Thông tư
13/2018/TT-NHNN, đã hình thành một khung khổ bao quát cả ba Trụ cột của Basel. Các quy định này
góp phần nâng cao chất lượng vốn, củng cố hệ thống quản trị và kiểm soát rủi
ro, tăng cường minh bạch thông tin và kỷ luật thị trường, qua đó cải thiện
năng lực chống chịu của hệ thống ngân hàng và nâng cao mức độ tiệm cận với
thông lệ quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, khung
pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Các quy định liên
quan đến từng Trụ cột còn được ban hành rải rác ở nhiều văn bản khác nhau,
thiếu sự thống nhất và liên kết chặt chẽ về mặt cấu trúc và phương pháp tiếp
cận. Một số nội dung cốt lõi theo chuẩn mực Basel III vẫn chưa được quy định
đầy đủ hoặc mới dừng ở mức nguyên tắc.
Mặc dù Thông tư 14/2025/TT-NHNN đã đặt
nền móng cho chuẩn mực vốn mới, nhưng Trụ cột 1
vẫn đối mặt với thách thức lớn về chất lượng vốn thực chất và các rào cản kỹ thuật nâng cao. Cụ thể, cấu trúc vốn của
nhiều ngân hàng Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào vốn cấp 2 (trái phiếu dài hạn)
thay vì vốn cấp 1 (CET1) cốt lõi có khả năng hấp thụ rủi ro tốt nhất. Bên
cạnh đó, các quy định hiện hành vẫn cần hướng dẫn chi tiết hơn về cơ chế kích
hoạt vùng đệm vốn phản
chu kỳ để điều tiết tăng
trưởng nóng, cũng như áp dụng mức sàn đầu ra (output floor) đối với các ngân hàng sử dụng mô hình nội bộ nhằm ngăn chặn
việc tối ưu hóa rủi ro để giảm vốn yêu cầu. Song song đó, Trụ cột 2 về quy trình đánh giá nội bộ vẫn còn
khoảng cách lớn so với thông lệ quốc tế do các quy định tại Thông tư
13/2018/TT-NHNN chưa được cập nhật đầy đủ các kỹ thuật của Basel III. Quy
trình đánh giá mức đủ vốn (ICAAP) và kiểm tra sức chịu đựng (Stress Test) tại
nhiều ngân hàng vẫn mang tính hình thức, thiếu các kịch bản vĩ mô giả định
thống nhất (về tỷ giá, lãi suất) để lượng hóa chính xác nhu cầu vốn trong
điều kiện căng thẳng. Đặc biệt, các rủi ro phức tạp như rủi ro lãi suất trên sổ ngân hàng
(IRRBB) thiếu các mô
hình hành vi để xử lý tiền gửi không kỳ hạn, và rủi ro tập trung chưa bao quát hết được mối quan hệ phụ
thuộc về lợi ích kinh tế giữa các khách hàng liên quan theo chuẩn mực mới.
Bên cạnh đó, yêu cầu công bố thông tin theo Trụ cột III tuy đã được
tăng cường nhưng mức độ chi tiết, chuẩn hóa và khả năng so sánh giữa các ngân
hàng còn hạn chế. Những tồn tại này cho thấy khung pháp luật hiện nay vẫn đang
trong quá trình chuyển tiếp, cần tiếp tục được rà soát, sửa đổi và hoàn thiện
theo hướng đồng bộ, hiện đại và phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn cũng như
yêu cầu hội nhập tài chính - ngân hàng
quốc tế.
IV. Triển khai thực hiện pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu của Basel III tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Để áp dụng Basel III, các ngân hàng phải chuẩn bị một
lượng vốn dồi dào, chấp nhận mức đệm dự phòng lớn hơn để giảm rủi ro trong hoạt
động. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại phải đáp ứng được những tiêu chuẩn,
chuẩn mực nhằm đảm bảo khả năng nắm bắt rủi ro. Trên thực tế, chi phí để áp
dụng Basel III cao và khả năng tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam
còn có hạn. Việc triển khai và thực hiện các trụ cột theo Basel III đòi hỏi
nhiều chi phí. Với gánh nặng phải tuân thủ các chuẩn mực Basel III, các ngân
hàng ở châu Âu đã được ước tính phải bỏ ra hàng chục triệu USD để thực thi
Basel III[21]. Đây là
những thách thức lớn, phải là những ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh mới có
thể đáp ứng.
Theo thống kê vào đầu năm 2024,
đã có 10 ngân hàng thương mại tại Việt Nam tuyên bố hoàn thành triển khai Basel
III - chuẩn mực quản trị rủi ro trong hoạt động
ngân hàng. Nhiều ngân hàng khác cũng đã ứng dụng một phần các yêu cầu của Basel
III, như áp dụng tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản (Liquidity Coverage Ratio -
LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (Net Stable Funding Ratio - NSFR) trong
giám sát rủi ro định kỳ. Điều này cho thấy nỗ lực rất đáng ghi nhận của các
ngân hàng trong việc từng bước nâng cấp chất lượng kiểm soát rủi ro, tỷ lệ an
toàn vốn và sự ổn định của thị trường tài chính[22].
Ở những số liệu cụ thể,
tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là một trong những chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá về
hoạt động an toàn và quản trị rủi ro của các ngân hàng theo tiêu chuẩn Basel III. Theo số
liệu của Ngân hàng Nhà nước cuối tháng 10/2022, có sự chênh lệch đáng kể về tỷ
lệ an toàn vốn giữa các ngân hàng hiện nay, đặc biệt giữa nhóm ngân hàng thương
mại nhà nước (9,04%), ngân hàng thương mại cổ phần (12,29%) và ngân hàng nước
ngoài (18,61%)[23]. Trước đó,
theo công bố định kỳ, một số ngân hàng ghi nhận tỷ lệ an toàn vốn ở mức rất cao
trên 15%, gấp khoảng 2 lần so với yêu cầu tối thiểu 8%. Các ngân hàng quốc
doanh như Vietcombank, VietinBank và BIDV đang là những ngân hàng có tỷ lệ an
toàn vốn thấp nhất trong các ngân hàng niêm yết trên HoSE, tuy nhiên vẫn đáp
ứng yêu cầu trên 8%. Tuy nhiên, cần lưu ý, theo Bloomberg (2022), hiện tỷ lệ an
toàn vốn CAR của các nước trong khu vực ASEAN đều cao hơn khá nhiều so với Việt
Nam. Chẳng hạn, CAR bình quân của Indonesia là 22,6%, của Philippines là 17,2%,
của Singapore là 17,1%, Thái Lan 19,6%, Malaysia 18,5%[24].
Có thể thấy, việc hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng Việt ở mức thấp so
với khu vực là một trong những thách thức lớn trong quá trình đáp ứng tiêu chuẩn Basel III nói riêng và
yêu cầu hội nhập quốc tế nói chung.
Về hệ
thống kiểm soát nội bộ, bộ phận kiểm toán nội bộ về cơ bản đều được thành lập
ở tất cả các ngân hàng thương mại, tuy nhiên, cán bộ thuộc bộ phận này thường
không đảm bảo số lượng phù hợp với quy mô của ngân hàng. Hoạt động của bộ phận
kiểm toán nội bộ đã tiến hành kiểm tra một số hoạt động, một số đơn vị tại
ngân hàng và phát hiện tồn tại, thiếu sót và kiến nghị các biện pháp khắc
phục. Số đơn vị được kiểm toán so với mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương
mại cho thấy hoạt động kiểm toán còn mỏng, chưa kiểm tra được nhiều đơn vị
trong hệ thống và nội dung kiểm tra chưa toàn diện, nên chưa đánh giá tổng
quát được hoạt động của ngân hàng, chưa ngăn chặn kịp thời các vi phạm, tồn
tại. Các ngân hàng thương mại mặc dù đã có quy định về thực hiện đánh giá hệ
thống kiểm soát nội bộ định kỳ nhưng vẫn tồn tại những báo cáo chưa đi sâu
đánh giá các nguyên tắc căn bản của hệ thống kiểm soát nội bộ mà chủ yếu mô tả
cơ cấu tổ chức của ngân hàng, tóm tắt tình hình thực hiện kế hoạch kiểm toán
trong năm; rà soát hệ thống các văn bản, quy định nội bộ…; vai trò của các đơn
vị trong hệ thống quản trị rủi ro còn hạn chế.
Ngoài ra, để có thể thực thi các quy định pháp luật
hiện hành, cần một cơ quan giám sát đủ thẩm quyền bao quát toàn bộ thị trường
tài chính để kịp thời đưa ra các quyết định nhằm hạn chế rủi ro trong hệ thống
ngân hàng. Theo kinh nghiệm quốc tế, để giám sát mức độ an toàn về hoạt động
của các ngân hàng, các nước có xu hướng sử dụng một trong hai mô hình giám sát
cơ bản là cơ quan giám sát hợp nhất và cơ quan giám sát chuyên ngành. Chức
năng giám sát các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm được tập trung vào
một cơ quan giám sát duy nhất đối với cơ quan giám sát hợp nhất và có một cơ
quan giám sát riêng thuộc ngân hàng trung ương đối với cơ quan giám sát chuyên
ngành. Thực hiện giám sát ngân hàng theo mô hình cơ quan giám sát hợp nhất sẽ
hiệu quả hơn trong trường hợp các ngân hàng muốn mở rộng quy mô hoạt động ra
nhiều lĩnh vực như chứng khoán, bảo hiểm. Tuy nhiên, mô hình giám sát này dễ
dẫn đến rủi ro về lạm dụng quyền, do tập trung quá nhiều quyền lực vào một cơ
quan giám sát[25]. Đối với
mô hình cơ quan giám sát ngân hàng chuyên ngành, tính độc lập của các cơ quan
giám sát là một ưu điểm và tạo điều kiện nhằm hướng đến hệ thống giám sát hiệu
quả. Hơn nữa, việc ủy thác thanh tra, giám sát ngân hàng cho ngân hàng trung
ương là cần thiết vì sẽ hỗ trợ kịp thời cho ngân hàng trung ương trong việc đưa
ra các quyết định cũng như nâng cao khả năng dự báo chính xác của ngân hàng
trung ương[26]. Một số
vấn đề khác như hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực đáp ứng hoạt động triển khai
áp dụng Basel III cũng bộc lộ nhiều hạn chế.
V. Một số kiến nghị, giải pháp
Xuất phát
từ những phân tích về thực trạng khung pháp luật cũng như thực tiễn triển khai
áp dụng và thực hiện Basel III tại Việt Nam, tác giả xin đưa ra một số kiến
nghị, giải pháp như sau:
Thứ nhất,
tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý hướng tới các tiêu chuẩn của Basel III
Có thể khẳng định, lợi ích, xu hướng toàn cầu của
Basel III là vấn đề không cần bàn cãi, từ đó, bất kỳ quốc gia nào cũng cần phải
có phương hướng và kế hoạch triển khai thực hiện. IMF (2018) cho rằng, không
nhất thiết phải triển khai đầy đủ Basel I/II mới thực hiện một số đổi mới Basel
III nhưng trình tự thực hiện phải được cân nhắc kĩ lưỡng. Do tính chất module
của khuôn khổ Basel III nên có thể cho phép các khu vực pháp lí xem xét một
cách linh hoạt trong việc triển khai dựa trên đặc điểm của khu vực tài phán, sự
phát triển tài chính, rủi ro của ngành Ngân hàng, năng lực giám sát, lợi ích và
thách thức triển khai Basel III của quốc gia[27]. Theo
đó, về mức độ ưu tiên thực hiện, các lựa chọn đều được triển khai các module
theo cấu trúc từ đơn giản, ít tác động đến phức tạp, nhiều tác động. Đối với
các công cụ phức tạp nên áp dụng khi đáp ứng đủ điều kiện cần thiết.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng áp dụng Basel III tại
Việt Nam xem xét kinh nghiệm của các nước trong việc triển khai Basel II và
III, một lộ trình phù hợp với nền kinh tế Việt Nam nói chung và thực trạng hệ
thống ngân hàng nói riêng là cần thiết để đảm bảo việc áp dụng hiệu quả Basel
III. Về cơ bản, Basel III là bản bổ sung, nâng cấp các điều kiện, tiêu chuẩn
của Basel II. Chính vì vậy, ngay cả khi chưa hoàn thành khuyến nghị của Basel
II thì Việt Nam cũng hoàn toàn có khả năng áp dụng Basel III. Với các điều kiện
hiện tại, còn quá sớm để có thể yêu cầu tất cả các ngân hàng thương mại ở Việt
Nam áp dụng Basel III, tuy nhiên, trong những giai đoạn tiếp theo[28], vấn đề
này là hoàn toàn khả thi.
Về kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, một số nội dung
cần lưu tâm cụ thể như sau:
Đối với Trụ cột 1: Cần có những hướng dẫn chi tiết về cơ
chế kích hoạt và vận hành các lớp đệm vốn bảo toàn và lớp
đệm vốn phản chu kỳ.
Thay vì chỉ quy định tỷ lệ an toàn vốn cứng, pháp luật cần thiết lập cơ chế
linh hoạt cho phép cơ quan quản lý điều chỉnh yêu cầu vốn bổ sung dựa trên
các chỉ số vĩ mô về tăng trưởng tín dụng, giúp hệ thống ngân hàng tích lũy
vốn trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng nóng để dự phòng cho giai đoạn suy
thoái. Ngoài ra, để
đảm bảo tính công bằng và ngăn chặn việc lạm dụng mô hình quản trị rủi ro
nội bộ nhằm giảm thiểu mức vốn yêu cầu, cần bổ sung quy định pháp lý về ngưỡng sàn tối thiểu đối với tài sản tính theo rủi ro. Quy
định này sẽ giới hạn mức độ chênh lệch kết quả tính vốn giữa mô hình nội bộ
và phương pháp chuẩn hóa, đảm bảo mức vốn tự có phải phản ánh thận trọng rủi
ro thực tế. Bên cạnh đó, cần sớm ban hành quy định pháp lý chính thức áp
dụng các chỉ số thanh khoản theo chuẩn Basel III (LCR và NSFR) để thay thế
cho các tỷ lệ thanh khoản truyền thống hiện hành.
Đối với Trụ cột 2: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần gấp rút đẩy nhanh
tiến trình xây dựng và ban hành Thông tư thay thế Thông tư 13/2018/TT-NHNN
trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đối mặt với nhiều sức ép rủi ro mới. Cần
lưu ý cách thức tiếp cận chỉ nên quy định ở mức nguyên tắc đối với mô hình
quản trị để đảm bảo tính linh hoạt, tránh đi quá sâu vào chi tiết vi mô gây
vướng mắc khi triển khai thực tế. Tuy nhiên, để khắc phục các khoảng trống kỹ
thuật hiện nay, Thông tư mới cần chuẩn hóa các tiêu chuẩn định lượng cốt lõi, bao gồm: ban hành bộ kịch bản vĩ mô mẫu cho hoạt
động kiểm tra sức chịu đựng (Stress Test) để đảm bảo tính thống nhất của kết quả đánh giá;
hướng dẫn xây dựng mô hình hành vi để đo lường rủi ro lãi suất trên sổ ngân hàng (IRRBB); và cập nhật định nghĩa rủi ro tập trung dựa trên mối quan hệ lợi ích kinh tế thay vì chỉ
dựa trên quan hệ sở hữu. Các quy định này phải được thiết kế trên cơ sở
nhận diện rõ mô hình quản trị rủi ro của từng ngân hàng để tránh chồng chéo,
đồng thời đảm bảo tính nhất quán với hệ thống pháp luật hiện hành và giải
thích rõ ràng các thuật ngữ mới theo thông lệ quốc tế để các tổ chức tín dụng
dễ dàng triển khai.
Đối với Trụ cột 3: Việc hoàn thiện các quy địnhnâng
cao kỷ luật thị trường cũng là yêu cầu bắt buộc, đặc biệt nâng cao các yêu
cầu công bố thông tin. Ví dụ như cần
bổ sung vào quy chế công bố thông tin yêu cầu bắt buộc các ngân hàng phải
công khai cơ chế, chính sách lương thưởng của nhân sự chủ chốt gắn liền với
rủi ro và kết quả kinh doanh dài hạn, thay vì chỉ công bố các chỉ tiêu tài
chính định lượng. Điều này thúc đẩy sự minh bạch lớn hơn về hoạt
động quản trị rủi ro của ngân hàng ngoài các tỷ lệ an toàn đơn thuần, qua đó
nâng cao sự tín nhiệm và tin cậy cho các đơn vị liên quan tham gia thị trường
tài chính.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật đáp ứng các yêu cầu của Basel III
Đối với cơ quan quản lý nhà nước, để hỗ trợ triển
khai áp dụng các văn bản pháp luật hướng tới các tiêu chuẩn Basel một cách
thống nhất và kịp thời trong toàn hệ thống, NHNN nên sớm ban hành bộ tài liệu
hướng dẫn thực hành, sổ tay áp dụng hoặc tài liệu kỹ thuật tham khảo, trong đó
giải thích rõ các khái niệm kỹ thuật, ví dụ thực tiễn và cách xử lý các tình
huống phổ biến. Bộ tài liệu đóng vai trò như công cụ tra cứu nhanh, giúp cán bộ
nghiệp vụ tại các tổ chức tín dụng có thể chủ động xử lý các vấn đề kỹ thuật
trong quá trình triển khai. Một yếu tố then chốt khác là thiết lập cơ chế phản
hồi chính sách hai chiều, thông qua việc duy trì các diễn đàn đối thoại định kỳ
với đại diện các tổ chức tín dụng, hiệp hội ngân hàng và các chuyên gia độc
lập.
Cơ quan quản lý nhà nước cần ưu tiên tổ
chức các chương trình đào tạo chuyên sâu và có tính hệ thống, tập trung vào các
nội dung cốt lõi như phương pháp tính toán CAR, RWA, phân loại tài sản bảo đảm,
cũng như cơ chế xác định và giám sát các cấu phần vốn cấp 1, vốn cấp 2 theo
tiêu chuẩn mới. Điều này đặc biệt cần thiết đối với các tổ chức tín dụng chưa
hoàn tất việc triển khai Basel II, Basel III hoặc có nền tảng quản trị rủi ro
còn yếu, để thu hẹp khoảng cách thực thi giữa các nhóm ngân hàng.
Bên cạnh đó, như đã đề cập, hoạt động thanh tra, giám
sát tại Việt Nam vẫn còn khoảng trống khá lớn giữa các quy định với thực tế
thực hiện, nhất là trong điều kiện các quy định về quyền xử lý vi phạm của các
cơ quan nhà nước chưa hoàn thiện, gây nên những tiền lệ xấu trong kỷ luật giám
sát. Chính vì vậy, mặc dù có nhiều quy định liên quan trực tiếp đến nguyên tắc
giám sát theo Basel, nhưng khi đánh giá khách quan thực tế triển khai các quy
định đó thì các ngân hàng thương mại Việt Nam mới chỉ tuân thủ một phần, rất ít
tiêu chí được tuân thủ toàn bộ. Có thể thấy, để đáp ứng các yêu cầu theo chuẩn
mực quốc tế thì hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng tại Việt Nam cần tiếp
tục chuẩn hóa, hoàn thiện hơn không chỉ ở khía cạnh pháp lý mà còn cả trong
thực tiễn triển khai quy định. Cụ thể cần tái cấu trúc tổ chức của các cơ quan
giám sát để có thể thực hiện giám sát hợp nhất; Gia tăng tính độc lập và hiệu
quả hoạt động cho cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng. trong đó, cần hạn chế
việc trùng lắp giữa chức năng giám sát và chức năng quản lý; Thay đổi phương
pháp thanh tra, giám sát, trong đó chú trọng vào giám sát từ xa và giám sát
phòng ngừa.
Đối với các ngân hàng thương mại, để triển khai Basel III hiệu quả, các ngân
hàng cần tiếp tục các hoạt động soạn thảo, điều chỉnh các quy định, triển khai
các nội dung liên quan; nâng cao năng lực cơ quan trong việc áp dụng khung pháp
lí mới; lập kế hoạch đầu tư bổ sung hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, công
nghệ; tăng cường phối hợp với cơ quan quản lí[29].
Bên cạnh đó, cần tiếp tục nâng cao nguồn vốn và đảm bảo tỷ lệ an toàn nhằm đáp
ứng tiêu chuẩn của Basel III. Các ngân hàng thương mại cần tiếp tục quan tâm
cải thiện hiệu suất kinh doanh, tăng lợi nhuận sau thuế, tăng vốn đệm, đặc biệt
chú trọng hệ số an toàn vốn. Bên cạnh đó, quan tâm hơn đến việc xử lí rủi ro
tín dụng; tính thị trường của các rủi ro liên quan đến tài sản ngân hàng đang
nắm giữ, sau đó tiến đến một lộ trình phù hợp để triển khai thực hiện Basel
III.
Các ngân hàng cần liên tục rà soát nhằm đảm bảo hệ
thống kiểm soát nội bộ có đầy đủ các thành phần theo thông lệ, cũng như quy
định trong Thông tư số 13/2018/TT-NHNN và các văn bản sửa đổi, bổ sung. Từ đó,
giúp cho ngân hàng thiết lập mục tiêu rõ ràng và đầy đủ để có cơ sở xác định và
đánh giá các rủi ro phát sinh ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu của ngân
hàng; đồng thời xác định các rủi ro cần được quản lý như thế nào. Các ngân hàng
cần cân nhắc lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát để giảm thiểu các
rủi ro, từ đó đạt được mục tiêu của ngân hàng; đồng thời, tổ chức triển khai
hoạt động kiểm soát thông qua nội dung các chính sách đã được thiết lập và
triển khai chính sách thành các hành động cụ thể; tăng cường giám sát các kiểm
soát và nâng cao hiệu quả của kiểm toán nội bộ cũng như kiểm tra, kiểm soát nội
bộ nhằm ngăn ngừa và phát hiện gian lận[30].
Các ngân hàng thương mại phải chuẩn bị một nền tảng
công nghệ thông tin và nền tảng dữ liệu tốt để phục vụ xây dựng những mô hình
trước hết theo chuẩn mực Basel II và xa hơn là Basel III. Không chỉ đối với
hoạt động quản lý thông tin, hoạt động động công khai thông tin cũng cần phải
đảm bảo theo quy định pháp luật và Basel III. Các NHTM cần xây dựng và hoàn
thiện hệ thống cơ sở dữ liệu đảm bảo chuẩn hóa các thông tin được công bố, từ
đó đẩy nhanh quá trình đáp ứng các tiêu chuẩn của Basel III, giảm thiểu các rủi
ro liên quan đến thông tin không minh bạch dẫn đến sai sót trong quá trình phân
tích và đánh giá.
Các ngân hàng thương mại cần tiếp tục chủ động xây
dựng chiến lược đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực trung và dài hạn có đủ khả
năng đón đầu phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian
tới. Cần có những chế độ ưu đãi cần thiết đối với những chuyên viên, cán bộ
trong lĩnh vực ngân hàng cũng cần được quan tâm, tránh để xảy ra tình trạng
chảy máu chất xám trong điều kiện Việt Nam hiện nay, đồng thời, nâng cao đạo
đức nghề nghiệp và trách nhiệm của cán bộ ngân hàng./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồng Anh, Ngân hàng tăng cường
“bộ đệm” vốn, Báo Nhân dân, (16/12/2025), https://nhandan.vn/ngan-hang-tang-cuong-bo-dem-von-post746200.html.
2. Nguyễn Thị Lan Anh, Thực
tiễn Áp dụng tiêu chuẩn Basel II tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Tài chính,
(22/10/2023), https://tapchitaichinh.vn/thuc-tien-ap-dung-tieu-chuan-basel-ii-tai-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam.html.
3. Abrams, R.K. and M.W. Taylor, Assessing the Case for Unified
Sector Supervision, Paper Presented at the 2001 Risk Management and
Insurance International Conference, 2001.
4. Nguyễn Thị Ngọc Ánh, Nguyễn Thị
Diễm, Basel III: Quá trình thực hiện tại Việt Nam và một số khuyến nghị, Tạp
chí Ngân hàng số 5, 25-31 (2023)
5. Bank for International Settlements
– BIS, History of the Basel Committee and Its Membership, BIS, (March
2001), https://www.bis.org/publ/bcbsc101.pdf.
6. Basel Committee on Banking
Supervision - BCBS, International Convergence of Capital Measurement and
Capital Standards, BIS, (July 1988), https://www.bis.org/publ/bcbs04a.pdf.
7. Basel Committee on Banking
Supervision - BCBS, International Convergence of Capital Measurement and
Capital Standards, BIS, (June 2004), https://www.bis.org/publ/bcbs107.pdf.
8. Basel Committee on Banking
Supervision - BCBS, International Convergence of Capital Measurement and
Capital Standards (Comprehensive Version), BIS, (June 2006), https://www.bis.org/publ/bcbs128.pdf.
9. Basel Committee on Banking
Supervision - BCBS, Basel III: International Regulatory Framework for more
resilient banks, BIS, (December 2017), https://www.bis.org/bcbs/publ/d424.pdf.
10. BCBS, Basel III: A global regulatory framework for more
resilient banks and banking systems, December 2010, BIS, (July
1988), https://www.bis.org/publ/bcbs189.pdf.
11. BCBS, Basel III: International framework for liquidity risk
measurement, standards, and monitoring, BIS, (January 2013), https://www.bis.org/publ/bcbs238.pdf.
12. BIS, Basel III: International Regulatory Framework For Banks, BIS
(September 2007), https://www.bis.org/bcbs/basel3.htm#:~:text=Basel%20III%20is%20an%20internationally,and%20risk%20management%20of%20banks.
14. Claessens, S., & Kodres, L, The Regulatory Responses to the
Global Financial Crisis: Some Uncomfortable Questions, IMF Working Paper,
Research Department and Institute for Capacity Development (March 2014).
15. IMF, Global Financial Stability Report 2018: A Decade after the
Global Financial Crisis: Are We Safer?, IMF, (October 2018), IMF, (October 2018), .
16. Hoàng Công Gia Khánh, Hiệp ước Basel – Từ quy định đến thực
tiễn áp dụng ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh,
163 (2018),
17. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo thường
niên ngành Ngân hàng 2022–2023, (14/08/2023).
18. Nguyễn Trung Kiên, Chuẩn hóa tỷ lệ an toàn vốn: Bước tiến mới
trong quản lý rủi ro và nâng cao sức chống chịu của hệ thống ngân hàng, Tạp
chí Ngân hàng, (06/08/2025), https://tapchinganhang.gov.vn/chuan-hoa-ty-le-an-toan-von-buoc-tien-moi-trong-quan-ly-rui-ro-va-nang-cao-suc-chong-chiu-cua-he-thong-ngan-hang-16379.html.
19. Nguyễn Thị Thu Hà, Nâng cao năng lực cạnh tranh và mức
độ ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (13/03/2024).
20. Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Định hướng hoàn thiện hệ thống kiểm
soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Tài chính, (Tháng 6/2021), https://tapchitaichinh.vn/dinh-huong-hoan-thien-he-thong-kiem-soat-noi-bo-tai-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam.html.
21. Nguyễn Khương, Đào Văn Hà, Nguyễn Vũ Phương, Nguyễn Thu Hường và
cộng sự, Phương
hướng tiếp cận thực hiện BASEL III ở một số khu vực, quốc gia và hàm ý đối với
Việt Nam, Tạp
chí Ngân hàng, (11/12/2023).
22. Chi Mai, Triển khai Thông tư 13/2018/TT-NHNN: Thách thức và cơ
hội, Báo Đầu tư, (03/01/2019), https://baodautu.vn/trien-khai-thong-tu-132018tt-nhnn-thach-thuc-va-co-hoi-d93465.html.
23.
Võ Quốc Khánh, Nguyễn Huy Cường
(2024), Cơ hội và thách thức cho các ngân hàng khi triển khai Basel III, Tin
nhanh Chứng khoán, (09/02/2024), https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/co-hoi-va-thach-thuc-cho-cac-ngan-hang-khi-trien-khai-basel-iii-post338970.html.
24. Peek, J., E. S. Rosengren and G
.M. B. Tootle, Is Bank Supervision Central to Central Banking?,
Quarterly Journal of Economics, 629-653 (1999).
25.
Xuân Thanh, Một số điểm cơ bản về cải cách
Basel III, Cổng
thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(04/01/2018),https://sbv.gov.vn/vi/w/sbv322201?p_l_back_url=%2Fvi%2Ftim-kiem%3Fq%3Dc%25E1%25BA%25A3i%2Bc%25C3%25A1ch%2Bbasel&p_l_back_url_title=T%C3%ACm+ki%E1%BA%BFm.
26. Tạp chí điện tử Lao động và Công đoàn, Basel III là điều kiện cần
để ngành Ngân hàng hội nhập quốc tế, Tạp chí Lao động đoàn thể, (08/08/2023).
27. Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, Quản trị rủi ro
ngân hàng: Tầm nhìn mới từ dự thảo sửa đổi Thông tư 13/2018/TT-NHNN và Thông tư
41/2016/TT-NHNN, (16/07/2025), https://thitruongtaichinhtiente.vn/quan-tri-rui-ro-ngan-hang-tam-nhin-moi-tu-du-thao-sua-doi-thong-tu-13-2018-tt-nhnn-va-thong-tu-41-2016-tt-nhnn-68941.html
28. Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/08/2018 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định
hướng đến năm 2030.
* TS, Khoa Luật - Học viện Ngân hàng,
Email: haipd@hvnh.edu.vn, ngày duyệt
đăng 26/3/2026.
[1] Claessens, S., & Kodres, L,
The Regulatory Responses to the Global Financial Crisis: Some Uncomfortable
Questions, IMF Working Paper, Research Department and Institute for Capacity
Development (March 2014).
[2] Basel Committee on Banking
Supervision - BCBS, Basel III: International Regulatory Framework for more
resilient banks, BIS, (December 2017), https://www.bis.org/bcbs/publ/d424.pdf.
[3] BIS, Basel III: International
Regulatory Framework For Banks, BIS (September 2007) https://www.bis.org/bcbs/basel3.htm#:~:text=Basel%20III%20is%20an%20internationally,and%20risk%20management%20of%20banks.
[4] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo
cáo thường niên ngành Ngân hàng 2022–2023, (14/08/2023).
[5] Tạp chí điện tử Lao
động và Công đoàn, Basel III là điều kiện cần để ngành Ngân hàng hội nhập
quốc tế, Tạp chí Lao động đoàn thể, (08/08/2023), https://laodongcongdoan.vn/basel-iii-la-dieu-kien-can-de-nganh-ngan-hang-hoi-nhap-quoc-te-98898.html.
[6] Bao gồm: Anh, Bỉ, Canada, Đức,
Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy
Sỹ và Ý.
[7] Bank for International
Settlements -
BIS, History of the Basel Committee and Its Membership, BIS, (March
2001), https://www.bis.org/publ/bcbsc101.pdf.
[8] Basel Committee on Banking
Supervision - BCBS, International Convergence of Capital Measurement and
Capital Standards, BIS, (July 1988), https://www.bis.org/publ/bcbs04a.pdf.
[9] Basel Committee on Banking
Supervision - BCBS, International Convergence of Capital Measurement and
Capital Standards, BIS, (June 2004), https://www.bis.org/publ/bcbs107.pdf.
[10] Basel Committee on Banking
Supervision - BCBS, International Convergence of Capital Measurement and
Capital Standards (Comprehensive Version), BIS, (June 2006), https://www.bis.org/publ/bcbs128.pdf.
[11] BCBS, Basel III: A global regulatory framework for more resilient banks and banking systems, December 2010, BIS, (July 1988), https://www.bis.org/publ/bcbs189.pdf.
[12] BCBS, Basel III: International
framework for liquidity risk measurement, standards, and monitoring, BIS,(January 2013), https://www.bis.org/publ/bcbs238.pdf.
[13] Tạp Chí Thị trường Tài chính Tiền
tệ, Quản trị rủi ro ngân hàng: Tầm nhìn mới từ dự thảo sửa đổi Thông tư
13/2018/TT-NHNN và Thông tư 41/2016/TT-NHNN, (16/7/2025),
https://thitruongtaichinhtiente.vn/quan-tri-rui-ro-ngan-hang-tam-nhin-moi-tu-du-thao-sua-doi-thong-tu-13-2018-tt-nhnn-va-thong-tu-41-2016-tt-nhnn-68941.html.
[14] Hoàng Công Gia Khánh, Hiệp ước
Basel – Từ quy định đến thực tiễn áp dụng ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia
TP. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 163 (2018).
[16] Xuân Thanh, Một số điểm cơ bản về cải cách Basel III, Cổng thông tin điện tử Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam
(04/01/2018), https://sbv.gov.vn/vi/w/sbv322201?p_l_back_url=%2Fvi%2Ftim-kiem%3Fq%3Dc%25E1%25BA%25A3i%2Bc%25C3%25A1ch%2Bbasel&p_l_back_url_title=T%C3%ACm+ki%E1%BA%BFm.
Nguyễn
Thị Ngọc Ánh, Nguyễn Thị Diễm, Basel III: Quá trình thực hiện tại Việt Nam
và một số khuyến nghị, Tạp chí Ngân hàng số 5, 25-31 (2023).
[17] Nguyễn Trung Kiên, Chuẩn hóa
tỷ lệ an toàn vốn: Bước tiến mới trong quản lý rủi ro và nâng cao sức chống
chịu của hệ thống ngân hàng, Tạp chí Ngân hàng, (06/08/2025), https://tapchinganhang.gov.vn/chuan-hoa-ty-le-an-toan-von-buoc-tien-moi-trong-quan-ly-rui-ro-va-nang-cao-suc-chong-chiu-cua-he-thong-ngan-hang-16379.html.
[18] Chi Mai, Triển khai Thông tư
13/2018/TT-NHNN: Thách thức và cơ hội, Báo Đầu tư, (03/01/2019), https://baodautu.vn/trien-khai-thong-tu-132018tt-nhnn-thach-thuc-va-co-hoi-d93465.html.
[19] Ở thời điểm hiện tại, Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam đã và đang tích cực xây dựng khung pháp lý mới nhằm luật hóa
các yêu cầu cốt lõi của Basel III trong hệ thống ngân hàng Việt Nam thông qua
Dự thảo thông tư thay thế Thông tư số 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm
soát nội bộ của ngân hàng thương mại (lần 2).
[20] Nguyễn Thị Lan Anh, Thực tiễn Áp dụng tiêu chuẩn
Basel II tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Tài chính,
(22/10/2023), https://tapchitaichinh.vn/thuc-tien-ap-dung-tieu-chuan-basel-ii-tai-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam.html.
[21] Nguyễn Thị Ánh Ngọc, Nguyễn Thị
Diễm, Basel III: Quá trình thực hiện tại Việt Nam và một số khuyến nghị,
Tạp chí Ngân hàng, (27/03/2023),
.
[22] Võ Quốc Khánh, Nguyễn Huy Cường (2024), Cơ
hội và thách thức cho các ngân hàng khi triển khai Basel III, Tin nhanh
Chứng khoán, (09/02/2024), https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/co-hoi-va-thach-thuc-cho-cac-ngan-hang-khi-trien-khai-basel-iii-post338970.html.
[23] Hồng Anh, Ngân hàng tăng cường
“bộ đệm” vốn, Báo Nhân dân, (16/12/2025), https://nhandan.vn/ngan-hang-tang-cuong-bo-dem-von-post746200.html.
[24] Nguyễn Thị Thu Hà, Nâng cao năng lực cạnh tranh và
mức độ ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (13/03/2024), https://kinhtevadubao.vn/nang-cao-nang-luc-canh-tranh-va-muc-do-on-dinh-cua-he-thong-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-28357.html
[25] Abrams, R.K. and M.W.
Taylor, Assessing the Case for Unified Sector Supervision, Paper
Presented at the 2001 Risk Management, and Insurance International Conference, (2001).
[26] Peek, J., E S Rosengren and G M B
Tootle, Is Bank Supervision Central to Central Banking?, Quarterly Journal of
Economics, 629-653 (1999).
[27] IMF, Global Financial
Stability Report 2018: A Decade after the Global Financial Crisis: Are We
Safer?, IMF, (October 2018),
.
[28] Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày
08/08/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân
hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo QĐ 986/QĐ-TTg ghi
nhận rõ về việc ban hành lộ trình hướng dẫn và triển khai Basel II.
[29] Nguyễn Khương, Đào Văn Hà, Nguyễn Vũ Phương,
Nguyễn Thu Hường và cộng sự, Phương hướng tiếp
cận thực hiện BASEL III ở một số khu vực, quốc gia và hàm ý đối với Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, (11/12/2023),
.
[30] Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Định
hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại Việt
Nam, Tạp chí Tài chính, (Tháng 6/2021), https://tapchitaichinh.vn/dinh-huong-hoan-thien-he-thong-kiem-soat-noi-bo-tai-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam.html.
(PLPT) - Bài viết phân tích xung đột pháp lý giữa “Quyền sửa chữa” (Right to Repair - R2R) và Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong bối cảnh chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn (KTTH) tại Việt Nam.
(PLPT) - Bài viết này, với tư cách là một nghiên cứu lý luận pháp lý, phân tích cấu trúc quy phạm của các cam kết đầu tư trong TEPA, làm rõ bản chất pháp lý của các nghĩa vụ, cơ chế giám sát và mối liên kết liên ngành giữa đầu tư và thương mại.
(PLPT) - Bài viết phân tích vấn đề tư cách pháp lý của sàn giao dịch bất động sản (SGDBĐS) từ góc độ thiết kế thể chế của chủ thể trung gian thị trường. Thay vì chỉ tiếp cận sàn giao dịch bất động sản như một mô hình kinh doanh dịch vụ hay một đối tượng quản lý hành chính.
(PLPT) Bài viết đề xuất một số khuyến nghị có thể vận dụng vào Việt Nam nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý chất thải điện tử.
(PLPT) Trên cơ sở phân tích Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược và các văn bản hướng dẫn chuyên ngành, đồng thời đối chiếu với kinh nghiệm của Liên minh châu Âu và Nhật Bản, bài viết làm rõ hạn chế của cách phân loại hiện hành, vốn chủ yếu dựa vào hình thức tổ chức thực hiện. Từ đó, bài viết đề xuất hoàn thiện khung pháp lý theo hướng phân loại dựa trên bản chất chế phẩm và mức độ can thiệp sinh học, nhằm xác định rõ ranh giới giữa kỹ thuật lâm sàng và sản phẩm trị liệu.
(PLPT) Ngày 26 tháng 10 năm 2025, Hoa Kỳ công bố hai hiệp định thương mại đối ứng đầu tiên với Malaysia và Campuchia, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong tư duy xây dựng các thỏa thuận thương mại quốc tế. Khác với mô hình hiệp định thương mại tự do truyền thống, các văn kiện này sử dụng thuế quan đối ứng như công cụ pháp lý chiến lược, nhằm thúc đẩy đồng bộ hóa chính sách, đảm bảo ổn định chuỗi cung ứng và bảo vệ an ninh kinh tế.
(PLPT) Từ việc phân tích và so sánh, bài viết đề xuất một số định hướng hoàn thiện các quy định về cấp phép SMR tại Việt Nam theo cách tiếp cận của pháp luật Hoa Kỳ, đảm bảo phù hợp với điều kiện thể chế, năng lực quản lý và bối cảnh phát triển năng lượng của nước ta.
(PLPT) - Bài viết này xem xét nền tảng lý thuyết của LIS và đánh giá thực trạng vận hành, công khai hệ thống này tại Việt Nam. Dựa trên khung phân tích so sánh, bài viết tham chiếu mô hình pháp lý, quản lý LIS ở một số quốc gia vận hành chính quyền địa phương hai cấp như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Pháp - trên một số lĩnh vực như định giá đất, phân bổ đất, thực thi quy định về công khai thông tin đất đai. Từ đó, bài viết đề xuất các khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về vận hành LIS hiệu quả tại Việt