Nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu tổng quan liên ngành luật học – kinh tế về vốn sở hữu Nhà nước tại ngân hàng và gợi mở xu hướng nghiên cứu tiềm năng bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Lê Hữu Nghĩa* Nguyễn Thị Anh** Thứ năm, 01/01/2026 - 02:10
Nghe audio
0:00

(PLPT) - Nghiên cứu này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục để nghiên cứu liên ngành từ dữ liệu Scopus giữa luật học với kinh tế để cung cấp bức tranh tổng quan nghiên cứu về vốn sở hữu nhà nước tại ngân hàng trên thế giới và Việt Nam.

Tóm tắt: Nghiên cứu về vốn sở hữu nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng là một chủ đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay đối với những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, trong đó có Việt Nam với những đặc trưng kép. Một trong số đó là chính sách phát triển nền kinh tế vừa lấy hình thức sở hữu nhà nước làm chủ đạo, vừa khẳng định, đẩy mạnh sở hữu tư nhân với vai trò nòng cốt trước kỷ nguyên vươn mình của quốc gia, dân tộc. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục để nghiên cứu liên ngành từ dữ liệu Scopus giữa luật học với kinh tế để cung cấp bức tranh tổng quan nghiên cứu về vốn sở hữu nhà nước tại ngân hàng trên thế giới và Việt Nam. Đồng thời, bên cạnh việc đưa ra các phân tích, thảo luận nhằm lý giải vấn đề nghiên cứu, nghiên cứu còn gợi mở các xu hướng nghiên cứu tiềm năng từ chủ đề này bằng phân tích đồng trích dẫn thông qua phần mềm mở VOS Viewer và ngôn ngữ lập trình trên R Studio.

Từ khóa: vốn sở hữu nhà nước, luật học, ngân hàng, trắc lượng thư mục, xu hướng nghiên cứu

Abstract: The study of state ownership in the banking sector is a pressing topic in the current context, especially for countries with transitional economies, including Vietnam, which exhibits dual characteristics. One of these is the development policy that emphasizes the dominance of state ownership while simultaneously recognizing and promoting private ownership as a key driver in the nation’s emerging era of growth. This study employs a bibliometric approach to conduct interdisciplinary research using Scopus data, bridging the fields of law and economics to provide an overview of global and Vietnamese research on state ownership in banks. In addition to providing analysis and discussion to clarify the research issue, we also propose potential research directions on this topic through co-citation analysis conducted with the open-source software VOS Viewer and R Studio.

Keywords: state ownership capital, legal studies, banking, bibliometric analysis, research trends

I. Đặt vấn đề

Năm 2023, thế giới chứng kiến sự sụp đổ liên tiếp của một số ngân hàng tại Mỹ như Silicon Valley Bank, First Signature Bank và First Republic Bank[1]. Cũng tại thời điểm này, các ngân hàng ngân hàng được nhà nước mua lại với giá 0 đồng của Việt Nam bao gồm VNCB, Oceanbank, GPbank (với tình trạng chung là âm vốn chủ sở hữu) vẫn chưa được xử lý triệt để thì phát sinh thêm ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần Sài Gòn bị đưa vào kiểm soát đặc biệt cùng với NHTM cổ phần Đông Á[2]. Mặc dù có nhiều nghiên cứu cho thấy sở hữu nhà nước quá lớn trong ngành ngân hàng có thể gây ra những hệ quả tiêu cực như hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, thiếu minh bạch và tiềm ẩn rủi ro can thiệp chính trị làm méo mó thị trường[3]. Tuy nhiên, sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế của Trung Quốc trong những năm gần đây khi mà các ngân hàng có sở hữu vốn nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các chính sách công, ổn định tài chính và dẫn dắt tăng trưởng ở quốc gia này là điều đáng quan tâm nghiên cứu[4]. Cũng như Hoa Kỳ, mặc dù sở hữu nhà nước không phổ biến tại quốc gia này nhưng sau khủng hoảng tài chính 2008, Chính phủ Hoa Kỳ đã buộc phải can thiệp mạnh mẽ thông qua các gói cứu trợ và tạm thời sở hữu cổ phần lớn trong nhiều tổ chức tài chính để ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống. Tại các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, sở hữu nhà nước trong ngân hàng vừa là công cụ điều tiết vĩ mô, vừa là “đệm chắn” chống đỡ rủi ro hệ thống khi tiềm lực vốn và sự phát triển của thị trường tài chính còn hạn chế[5]. Như vậy, từ góc độ pháp lý, việc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối trong các ngân hàng đặt ra nhiều câu hỏi nghiên cứu về pháp luật quản lý vốn nhà nước trong hoạt động đầu tư, kinh doanh, sự minh bạch trong quản trị, điều hành , cũng như giới hạn của can thiệp hành chính từ chủ thể là nhà nước vào thị trường tài chính. Trong khi đó, nếu tiếp cận ở góc nhìn kinh tế, vốn sở hữu nhà nước có vai trò như thế nào trong việc ổn định tài chính, an toàn hệ thống ngân hàng và thúc đẩy các mục tiêu phát triển.

Đối diện với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng giữa các quốc gia có nền kinh tế phát triển và đang chuyển đổi, ở khía cạnh nghiên cứu, vai trò của vốn sở hữu nhà nước trong ngành ngân hàng cần được xem xét dưới góc nhìn tổng quan liên ngành giữa luật học và kinh tế là điều cấp thiết.

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục để tổng quan các nghiên cứu liên ngành từ dữ liệu Scopus giữa luật học với kinh tế về vốn sở hữu nhà nước tại ngân hàng trên thế giới và Việt Nam. Đồng thời, bên cạnh việc đưa ra các phân tích, thảo luận nhằm lý giải vấn đề nghiên cứu, bài báo còn gợi mở các xu hướng nghiên cứu tiềm năng từ chủ đề này bằng phân tích đồng trích dẫn thông qua phần mềm mở VOS Viewer và ngôn ngữ lập trình trên R Studio.

II. Phương pháp trắc lượng thư mục và quy trình xử lý dữ liệu

2.1. Phương pháp trắc lượng thư mục

Thuật ngữ “bibliometrics” ra đời năm 1969, được đề xuất từ một nghiên cứu của Pritchard[6]. Tác giả này đưa ra định nghĩa về phương pháp trắc lượng thư mục chính là sử dụng các phương pháp thống kê trong toán học cho việc nghiên cứu về sách và các vật chứa đựng thông tin khác. Sau này, phương pháp trắc lượng thư mục được định nghĩa thống nhất và tiệm cận với ứng dụng đặc trưng của nó là như phương pháp sử dụng một tập hợp các phương pháp định lượng để đo lường, theo dõi và phân tích tài liệu học thuật[7]. Ngoài ra, phương pháp này có nhiều tên gọi tiếng Việt như trắc lượng thư mục, thống kê thư mục, đo lường thư mục,… và được tiếp cận ở nhiều giác độ nghiên cứu khác nhau[8].

Thông qua nội dung từ phần tóm tắt và trích dẫn của mỗi nghiên cứu có liên quan từ các bài báo nghiên cứu được lưu trữ trong dữ liệu của Scopus hoặc Web of Science, ta có thể phân tích và hệ thống hóa chúng. Tổng quan nghiên cứu bằng phương pháp trắc lượng thư mục mang lại nhiều ưu điểm nổi bật so với các phương pháp truyền thống. Trước hết, đây là một phương pháp định lượng khách quan và minh bạch, giúp giảm thiểu thiên kiến chủ quan bằng cách phân tích dữ liệu cụ thể như số lượng công bố, lượt trích dẫn, từ khóa xuất hiện hay mạng lưới hợp tác học thuật. Nhờ đó, phương pháp trắc lượng thư mục cho phép xác định được các xu hướng nghiên cứu nổi bật, phát hiện các chủ đề đang thu hút sự quan tâm và những tác giả có ảnh hưởng trong lĩnh vực. Bên cạnh đó, phương pháp này còn hỗ trợ xây dựng bản đồ tri thức thông qua các mạng lưới trích dẫn, từ khóa hay tác giả giúp làm rõ cấu trúc và sự phát triển của lĩnh vực nghiên cứu. Một ưu điểm quan trọng khác là khả năng hỗ trợ nhà nghiên cứu định hướng đề tài, phát hiện khoảng trống học thuật và đề xuất hướng đi mới có giá trị. Phương pháp trắc lượng thư mục cũng giúp xác định các tạp chí uy tín, tổ chức và quốc gia dẫn đầu trong công bố khoa học. Với khả năng xử lý khối lượng lớn dữ liệu từ hàng ngàn bài báo, phương pháp này còn tiết kiệm thời gian và tối ưu hóa quy trình tổng quan tài liệu nhờ các công cụ hỗ trợ như VOSviewer, Bibliometrix - R Studio hay CiteSpace. Cuối cùng, phương pháp trắc lượng thư mục có thể được sử dụng như một công cụ phục vụ hoạch định chính sách khoa học và đánh giá hiệu quả nghiên cứu của tổ chức hoặc cá nhân một cách hệ thống và trực quan.

Phương thức đồng trích dẫn (một phân tích con trong phương pháp trắc lượng thư mục) là phương thức đi từ nguyên lý liên kết giữa hai nghiên cứu được trích dẫn trong cùng một tài liệu, minh họa như Hình 1. Phương thức này được cho là do McCain[9] đề xuất sử dụng vào năm 1990 trong một bài báo của ông liên quan đến lập bản đồ các tác giả theo chủ đề nghiên cứu. Kết quả phân tích từ phương thức đồng trích dẫn là một minh họa về cấu trúc của các hướng nghiên cứu, ý tưởng tương đồng của các tác giả. Phương thức phân tích này cung cấp một cái nhìn rõ ràng, thấu đáo về những tác giả, nghiên cứu nào được trích dẫn cùng nhau, tiếp tục ý tưởng của nhau hoặc ngược lại, những ai đang tranh luận với nhau trong cùng một chủ đề nghiên cứu. Từ các tính chất này, phương pháp phân tích đồng trích dẫn còn được sử dụng để chỉ ra các xu hướng nghiên cứu mới hoặc các khoảng trống trong lý thuyết, mở ra các hướng nghiên cứu tiềm năng.

Hình 1. Minh họa trực quan phương pháp đồng trích dẫn Nguồn: Tác giả

2.2. Quy trình xử lý dữ liệu

Quy trình nghiên cứu theo Hình 2 được thực hiện qua các bước sau: Trước hết, xác định chủ đề nghiên cứu là “Vốn sở hữu nhà nước tại ngân hàng”. Tiếp theo, dữ liệu được trích xuất từ cơ sở dữ liệu Scopus thông qua mã tìm kiếm dựa trên tiêu đề, tóm tắt và từ khóa, sử dụng các cụm từ như “state capital”, “state ownership”, “state-owned” và “bank*”, thu được 2.680 tài liệu. Sau đó, tiến hành lọc dữ liệu theo các tiêu chí mà Scopus cho phép, bao gồm giới hạn lĩnh vực (Kinh tế, Kinh doanh, Khoa học xã hội), loại tài liệu (bài báo, sách, kỷ yếu…), loại trừ các từ khóa không phù hợp và chọn ngôn ngữ (tiếng Anh), kết quả còn 2.122 tài liệu. Tiếp đến, tài liệu được sàng lọc kỹ hơn thông qua việc kiểm tra từ khóa tác giả “bank” và “banking”, đọc tóm tắt và loại bỏ các bài không liên quan, số tài liệu giảm còn 983 tài liệu. Cuối cùng, sử dụng các công cụ VOSviewer và Bibliometrix trong R Studio để phân tích và trực quan hóa dữ liệu.

Hình 2. Quy trình xử lý dữ liệu Nguồn: Tác giả

Đặc biệt, đối với dữ liệu truy xuất từ Scopus, để tập vào các nghiên cứu luật học, tại trường lĩnh vực nghiên cứu, tác giả chỉ chọn: khoa học xã hội (social science) theo cú pháp TITLE-ABS-KEY ( “state capital” OR “state ownership” OR “state –owned” AND “bank*” ) AND ( LIMIT-TO ( DOCTYPE , “ar” ) OR LIMIT-TO ( DOCTYPE , “ch” ) OR LIMIT-TO ( DOCTYPE , “cp” ) OR LIMIT-TO ( DOCTYPE , “re” ) OR LIMIT-TO ( DOCTYPE , “bk” ) ) AND ( EXCLUDE ( EXACTKEYWORD , “Article” ) ) AND ( LIMIT-TO ( LANGUAGE , “English” ) ) AND ( LIMIT-TO ( SUBJAREA , “SOCI” ) ). Kết quả có 701 tài liệu, sau đó, tác giả xuất dưới dạng bảng tính file Excel và tiến hành sàng lọc tại trường từ khóa tác giả (author keywords) như Hình 3.

Hình 3. Sàng lọc tại trường từ khóa tác giả (author keywords) trong Excel Nguồn: Tác giả trích xuất từ Excel

Ngoài ra, để đảm bảo không bỏ sót các nghiên cứu liên quan đến chủ đề vốn chủ sở hữu nhà nước tại ngân hàng công bố bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, tác giả sử dụng dữ liệu công bố từ nguồn Google scholar và Website công bố luận án tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo (tại đường link https://luanvan.moet.gov.vn/?page=1.33&lv=381).

III. Kết quả và thảo luận nghiên cứu

3.1. Thông tin tổng quan

Liên quan đến đề tài sở hữu nhà nước, vốn nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, sau khi trích xuất và lọc dữ liệu từ hệ thống Scopus, kết quả tại Bảng 1 thể hiện thông tin tổng quan từ năm 1995 đến 2025. Cụ thể, tổng số tài liệu là 983, với nguồn từ 443 tạp chí và sách. Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của tài liệu đạt 16.18%, với tuổi trung bình của tài liệu là 6.59 năm. Trung bình mỗi tài liệu được trích dẫn 22.51 lần và tổng số tài liệu tham khảo là 42,493. Về nội dung tài liệu, có 2,537 từ khóa của tác giả. Tổng số tác giả tham gia là 1,872, trong đó có 172 tác giả có các tài liệu viết đơn lẻ. Đối với hợp tác tác giả, 202 tài liệu được viết bởi một tác giả duy nhất, và mỗi tài liệu có trung bình 2.56 tác giả cộng tác. Tỷ lệ hợp tác quốc tế là 23.19%. Về loại tài liệu, bao gồm 890 bài báo, 2 sách, 34 chương sách, 41 bài báo hội nghị và 16 bài báo đánh giá.

Bảng 1. Thông tin tổng quan các nghiên cứu từ năm 1995 đến 2025

THÔNG TIN CHÍNH VỀ DỮ LIỆU KẾT QUẢ
Khoảng Thời Gian Từ 1995 đến 2025
Nguồn (Tạp chí, sách,…) 443
Tài liệu 983
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm (%) 16.18
Tuổi trung bình của tài liệu (năm) 6.59
Trung bình số lần trích dẫn mỗi tài liệu 22.51
Tài liệu tham khảo 42493
NỘI DUNG TÀI LIỆU  
Từ khóa của tác giả 2537
TÁC GIẢ  
Tổng số tác giả 1872
Số lượng tác giả với vai trò đơn nhất 172
TÁC GIẢ VÀ CỘNG SỰ  
Số lượng tài liệu được viết bởi 1 tác giả duy nhất 202
Số tác giả cộng tác mỗi tài liệu 2.56
Tỷ lệ hợp tác quốc tế (%) 23.19
LOẠI TÀI LIỆU  
Bài báo 890
Sách 2
Chương sách 34
Bài báo hội nghị 41
Bài báo đánh giá 16

Nguồn: Tác giả xử lý phân tích dữ liệu từ Scopus

3.2. Số lượng tài liệu và số lượng trích dẫn qua các năm

Từ Hình 4 có thể thấy từ 1995 đến 2025, liên quan đến chủ đề nghiên cứu, có sự gia tăng tài liệu nghiên cứu qua các năm. Năm 1995 chỉ có 1 tài liệu, nhưng đến năm 2025, con số này đạt 90 tài liệu. Điều này cho thấy một sự gia tăng đáng kể trong việc xuất bản tài liệu nghiên cứu. Trong đó nếu xét về mức độ gia tăng thì trong giai đoạn đầu, từ 1995 đến 2005, số lượng tài liệu nghiên cứu có sự thay đổi khá chậm, nhưng từ năm 2006 trở đi, số lượng lại tăng mạnh. Cụ thể, vào năm 2006 có 7 tài liệu nghiên cứu, nhưng đến năm 2025 đã có 90 bài, gấp khoảng 12 lần trong vòng 20 năm. Đối với sự gia tăng trích dẫn, số lần trích dẫn cũng có sự tăng trưởng rõ rệt qua các năm, đặc biệt từ 2001 đến 2020. Tuy nhiên, số trích dẫn có sự biến động mạnh qua các năm, với những năm có số trích dẫn cao như năm 2003 (377 trích dẫn), năm 2004 (1104 trích dẫn), năm 2005 (1795 trích dẫn) và những năm gần đây, số trích dẫn có xu hướng ổn định. Nhìn chung, số lượng bài báo và trích dẫn đều có xu hướng tăng lên, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực nghiên cứu. Tuy nhiên trong hai năm gần nhất (năm 2023 và năm 2024) số lượng trích dẫn có sự biến động giảm, phản ánh sự quan tâm khác nhau đối với các nghiên cứu theo thời gian.

Hình 4. Số lượng tài liệu và số lượng trích dẫn từ năm 1995 đến 2025 Nguồn: Tác giả

3.3. Tài liệu, tác giả có số trích dẫn cao nhất, từ khóa phổ biến và quốc gia có nhiều nghiên cứu liên quan đến chủ đề

Năm tài liệu có số trích dẫn toàn cầu nhiều nhất

Hình 5. Năm tài liệu có số trích dẫn toàn cầu nhiều nhất Nguồn: Tác giả trích xuất từ R Studio

Nhìn chung, năm nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất có liên quan đến chủ đề sở hữu nhà nước, vốn nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng tập trung vào mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu ngân hàng - đặc biệt là sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu nước ngoài với hiệu quả hoạt động và hành vi tổ chức (ở đây là ngân hàng). Một điểm chung nổi bật là tất cả các nghiên cứu đều cho thấy ngân hàng sở hữu nhà nước có xu hướng hoạt động kém hiệu quả hơn, lợi nhuận thấp hơn, chi phí cao hơn và dễ bị chi phối bởi yếu tố chính trị. Trong khi đó, sở hữu tư nhân, đặc biệt là sở hữu nước ngoài hoặc các hình thức cổ phần hóa, được cho là giúp cải thiện hiệu quả và tăng tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng. Các nghiên cứu này chủ yếu sử dụng dữ liệu thực nghiệm từ các quốc gia đang phát triển hoặc đang trong quá trình cải cách hệ thống ngân hàng, như Trung Quốc và các nước Đông Âu hoặc so sánh giữa nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển. Các nghiên cứu này còn mở rộng phân tích đến vai trò của các yếu tố chính trị, như kết quả bầu cử hoặc sự can thiệp của chính phủ, nhằm lý giải sâu hơn tác động của sở hữu nhà nước đến hành vi cho vay và hiệu quả tài chính. Tóm lại, các nghiên cứu đều củng cố luận điểm rằng việc cải tổ cấu trúc sở hữu, đặc biệt là giảm thiểu sở hữu nhà nước và khuyến khích sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài là một hướng đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống ngân hàng, nhất là trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi hoặc đang phát triển.

Bảng 2. Năm nghiên cứu có số lượng trích dẫn cao nhất

STT Tác giả Năm Tên tài liệu nghiên cứu DOI Tổng số trích dẫn
1 SAPIENZA P 2004 The effects of government ownership on bank lending 10.1016/j.jfineco.2002.10.002 730
2 BERGER AN 2009 Bank ownership and efficiency in China: What will happen in the world’s largest nation? 10.1016/j.jbankfin.2007.05.016 679
3 FRIES S 2005  Cost efficiency of banks in transition: Evidence from 289 banks in 15 post-communist countries 10.1016/j.jbankfin.2004.06.016 495
4 MICCO A 2007 Bank ownership and performance. Does politics matter? 10.1016/j.jbankfin.2006.02.007 456
5 GARCÍA-HERRERO A 2009 What explains the low profitability of Chinese banks? 10.1016/j.jbankfin.2009.05.005 404

Nguồn: Tác giả thống kê

Ba tài liệu có số trích dẫn cao nhất trong mỗi năm của năm gần nhất (từ 2020 đến 2025)

Mười lăm nghiên cứu này đều cho thấy sự thay đổi trong môi trường tài chính hiện đại bao gồm đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, cải cách sở hữu và rủi ro vĩ mô có ảnh hưởng sâu rộng đến hiệu quả và hành vi của tổ chức, ở đây là ngân hàng. Mặc dù cùng tập trung vào hệ thống ngân hàng, các nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ: thể chế, sở hữu, FinTech, chính sách và sự thay đổi công nghệ. Những điểm khác biệt về phạm vi địa lý, chủ đề nghiên cứu và phương pháp phân tích đã làm phong phú thêm bức tranh tổng thể về các yếu tố định hình hoạt động của ngân hàng tại các thị trường mới nổi. Đây là bằng chứng thực nghiệm để đề xuất chính sách quản lý rủi ro, cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế số và tài chính xanh.

Bảng 3. Ba tài liệu có số trích dẫn cao nhất trong mỗi năm của năm gần nhất (từ 2021 đến 2025)

STT Tác giả Năm Tên tài liệu nghiên cứu DOI Tổng số trích dẫn
1 Yin W.; Zhu Z.; Kirkulak-Uludag B.; Zhu Y. 2021 The determinants of green credit and its impact on the performance of Chinese banks 10.1016/j.jclepro.2020.124991 110
2 Boulanouar Z.; Alqahtani F.; Hamdi B. 2021 Bank ownership, institutional quality and financial stability: evidence from the GCC region 10.1016/j.pacfin.2021.101510 47
3 Abid A.; Gull A.A.; Hussain N.; Nguyen D.K. 2021 Risk governance and bank risk-taking behavior: Evidence from Asian banks 10.1016/j.intfin.2021.101466 41
4 Zhao J.; Li X.; Yu C.-H.; Chen S.; Lee C.-C. 2022 Riding the FinTech innovation wave: FinTech, patents and bank performance 10.1016/j.jimonfin.2021.102552 247
5 Li C.; He S.; Tian Y.; Sun S.; Ning L. 2022 Does the bank's FinTech innovation reduce its risk-taking? Evidence from China's banking industry 10.1016/j.jik.2022.100219 109
6 Zhu Z.; Tan Y. 2022 Can green industrial policy promote green innovation in heavily polluting enterprises? Evidence from China 10.1016/j.eap.2022.01.012 94
7 Liu G.; Wang S. 2023 Digital transformation and trade credit provision: Evidence from China 10.1016/j.ribaf.2022.101805 68
8 Guo P.; Zhang C. 2023 The impact of bank FinTech on liquidity creation: Evidence from China 10.1016/j.ribaf.2022.101858 58
9 Wu X.; Jin T.; Yang K.; Qi H. 2023 The impact of bank FinTech on commercial banks' risk-taking in China 10.1016/j.irfa.2023.102944 49
10 Tang M.; Hu Y.; Corbet S.; Hou Y.G.; Oxley L. 2024 Fintech, bank diversification and liquidity: Evidence from China 10.1016/j.ribaf.2023.102082 41
11 Li B.; Cheng Y.; Tian G. 2024 Bank competition and firm asset- debt maturity mismatch: Evidence from the SMEs in China 10.1016/j.ribaf.2024.102240 31
12 Liu Z.; Li X. 2024 The impact of bank fintech on ESG greenwashing 10.1016/j.frl.2024.105199 26
13 Tan W.; Yan E.H.; Yip W.S. 2025 Go green: How does Green Credit Policy promote corporate green transformation in China 10.1111/jifm.12218 15
14 Khanchel I.; Lassoued N.; Ferchichi O. 2025 Are political connections a curse for banks of the MENA region? The moderating effect of ownership structure 10.1108/IJOEM-03-2022-0480 10
15 Huynh J. 2025 Banking uncertainty and corporate financial constraints 10.1002/ijfe.2938 6

Nguồn: Tác giả thống kê

Từ khóa có tần suất xuất hiện nhiều nhất

Hình 6. Từ khóa có tần suất xuất hiện nhiều nhất Nguồn: Tác giả trích xuất từ VOS Viewer

Hình ảnh phân tích mạng lưới từ khóa cho thấy sự tập trung cao vào các thuật ngữ liên quan đến sở hữu nhà nước và vốn nhà nước trong ngành ngân hàng. Các từ khóa như “ngân hàng sở hữu nhà nước”, “sở hữu nhà nước”, “ngân hàng thương mại”, “sở hữu ngân hàng” và “hiệu quả ngân hàng” nằm ở trung tâm của mạng lưới, cho thấy đây là các yếu tố quan trọng trong nghiên cứu. Ngoài ra, chúng còn liên kết chặt chẽ với các vấn đề khác như “cạnh tranh ngân hàng”, “hiệu quả ngân hàng”, “hạn chế tài chính” và “shadow banking” Điều này chứng tỏ rằng sở hữu nhà nước trong ngân hàng có sự tác động mạnh mẽ đến các yếu tố như hiệu quả và cạnh tranh của các ngân hàng. Các từ khóa này còn có mối liên hệ mật thiết với các khái niệm như “cấu trúc sở hữu”, “rủi ro ngân hàng” phản ánh sự quan trọng của sở hữu nhà nước trong việc xác định hiệu quả hoạt động và chiến lược của ngân hàng. Bên cạnh đó, các yếu tố như “cải cách ngân hàng”, “tư nhân hóa” và “chuyển đổi số” cũng được kết nối, cho thấy sự hiện đại hóa và thay đổi trong các ngân hàng sở hữu nhà nước, đặc biệt là trong bối cảnh các nền kinh tế lớn như Trung Quốc và nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam. Tóm lại, sở hữu nhà nước trong ngân hàng là một yếu tố trung tâm, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều khía cạnh của ngành ngân hàng, từ hiệu quả hoạt động đến quản lý rủi ro, cạnh tranh và ổn định tài chính.

Quốc gia có nghiên cứu liên quan đến chủ đề được trích dẫn nhiều nhất

Hình 7. Quốc gia có nghiên cứu liên quan đến sở hữu nhà nước/vốn nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng được trích dẫn nhiều nhất Nguồn: Tác giả trích xuất từ VOS Viewer

Hình 7 cho thấy Trung Quốc là quốc gia có nghiên cứu liên quan đến sở hữu nhà nước/vốn nhà nước trong ngân hàng được trích dẫn nhiều nhất. Các quốc gia khác như Hoa Kỳ và Vương quốc Anh cũng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu này, trong khi các quốc gia ít nghiên cứu hơn chủ yếu nằm ở các khu vực khác như Châu Phi và Nam Mỹ.

Sự phân bố các quốc gia trong mạng lưới nghiên cứu sở hữu nhà nước/vốn nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng có thể được giải thích qua góc độ thể chế, liên quan đến vai trò của nhà nước trong nền kinh tế và sự phát triển của hệ thống tài chính. Các quốc gia như Trung Quốc, với việc sở hữu nhà nước mạnh mẽ về vốn và sự can thiệp của nhà nước vào các ngân hàng, là những nơi có nhiều nghiên cứu về sở hữu nhà nước trong ngân hàng. Sự kiểm soát lớn của nhà nước đối với các ngân hàng trong các quốc gia này dẫn đến các nghiên cứu tập trung vào việc quản lý vốn nhà nước và đánh giá hiệu quả của các ngân hàng nhà nước. Trong khi đó, ở các quốc gia như Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, mặc dù hệ thống ngân hàng chủ yếu tư nhân, nhưng các nghiên cứu vẫn tập trung vào vai trò của nhà nước trong các trường hợp cứu trợ ngân hàng hoặc can thiệp khi cần thiết. Các quốc gia như Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam và Malaysia, với sở hữu nhà nước về vốn trong ngân hàng tương đối mạnh, cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến chủ đề này. Ngược lại, những quốc gia như Thụy Điển và Nam Phi, nơi các ngân hàng chủ yếu hoạt động theo cơ chế thị trường tự do và ít sự can thiệp của nhà nước, có ít nghiên cứu về sở hữu nhà nước trong ngân hàng. Tóm lại, sự phân bố nghiên cứu về sở hữu nhà nước trong ngân hàng phản ánh vai trò của thể chế nhà nước và mô hình kinh tế của mỗi quốc gia.

Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến quy định pháp luật quản lý vốn nhà nước tại NHTM

Bảng 4. Thông tin tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến quy định pháp luật quản lý vốn nhà nước tại NHTM

THÔNG TIN CHÍNH VỀ DỮ LIỆU KẾT QUẢ
Khoảng thời gian       Từ 2006 đến 2022
Nguồn (Tạp chí, sách,…) 7
Tài liệu 8
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm (%) 7.11
Tuổi trung bình của tài liệu (năm) 10.5
Trung bình số lần trích dẫn mỗi tài liệu 27.62
Tài liệu tham khảo 352
NỘI DUNG TÀI LIỆU  
Từ khóa của tác giả 35
TÁC GIẢ  
Tổng số tác giả 21
Số lượng tác giả với vai trò đơn nhất 1
TÁC GIẢ VÀ CỘNG SỰ  
Số lượng tài liệu được viết bởi 1 tác giả duy nhất 1
Số tác giả cộng tác mỗi tài liệu 2.62
Tỷ lệ hợp tác quốc tế (%) 25
LOẠI TÀI LIỆU  
Bài báo 6
Sách 1
Chương sách 1

Nguồn: Tác giả

Kết quả tại Bảng 4 phản ánh từ năm 2006 đến 2022 cho thấy một quá trình phát triển ổn định và đáng chú ý trong việc công bố tài liệu nghiên cứu, với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm là 7.11%. Tổng cộng có 8 tài liệu được công bố từ 7 nguồn khác nhau, chủ yếu là bài báo khoa học (6 bài), với 1 cuốn sách và 1 chương sách. Các tài liệu này có tuổi trung bình 10.5 năm, cho thấy một số tài liệu có thời gian nghiên cứu lâu dài và đã được phát hành trong một thời gian đáng kể. Trung bình mỗi tài liệu được trích dẫn 27.62 lần, phản ánh mức độ ảnh hưởng cao trong cộng đồng nghiên cứu. Các tác giả tham gia nghiên cứu tổng cộng 21 người, với tỷ lệ hợp tác quốc tế là 25%, cho thấy sự hợp tác mạnh mẽ cả trong nước và quốc tế.

Năm nghiên cứu có trích dẫn cao nhất được thể hiện ở Hình 8.

Hình 8. Năm nghiên cứu về pháp luật liên quan đến chủ đề có trích dẫn cao nhất Nguồn: Tác giả trích xuất từ R Studio

Các nghiên cứu về sở hữu nhà nước trong ngành ngân hàng có nhiều điểm chung, nổi bật và khác biệt.

Về điểm chung, tất cả các nghiên cứu đều liên quan đến sở hữu nhà nước trong ngành ngân hàng, xem xét tác động của sở hữu nhà nước đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng và cải cách ngân hàng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sở hữu nhà nước có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tài chính và sự phát triển của các ngân hàng, đặc biệt là khi ngân hàng nhà nước không được cải cách kịp thời hoặc quản lý kém. Các nghiên cứu đều thừa nhận rằng các biện pháp cải cách như tái cấu trúc, sáp nhập hoặc mua lại có thể giúp cải thiện tình trạng yếu kém của các ngân hàng nhà nước.

Về điểm nổi bật, Andrianova[10] tập trung vào yếu tố thể chế và khuyến nghị các quốc gia phát triển nên xây dựng thể chế mạnh mẽ để thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng tư nhân thay vì cổ phần hóa các ngân hàng nhà nước. García-Herrero[11] đưa ra một phân tích chi tiết về quá trình cải cách ngân hàng tại Trung Quốc, cho thấy những thách thức trong việc cải thiện chất lượng tài sản và vốn hóa ngân hàng, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của việc thay đổi chiến lược cải cách để đạt được thành công lâu dài. Brehm[12] và Viên Thế Giang và Võ Thị Mỹ Hương[13] lần lượt đề cập đến ngành ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam trong việc hiện đại hóa ngân hàng sở hữu nhà nước và các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng yếu, đồng thời chỉ ra sự cần thiết của quản trị doanh nghiệp tốt hơn để thúc đẩy sự phát triển bền vững. Grittersová và Mahutga[14] phát triển lý thuyết tín hiệu liên quan đến sở hữu ngân hàng nhà nước và sự minh bạch của hệ thống chính trị, cho thấy việc giảm rào cản quy định là tín hiệu quan trọng để thu hút đầu tư quốc tế.

Về điểm khác biệt, các nghiên cứu khác nhau về khu vực nghiên cứu (ví dụ: Trung Quốc - quốc gia phát triển, và Việt Nam - quốc gia đang phát triển). Các nghiên cứu như Brehm, García-Herrero chủ yếu tập trung vào Trung Quốc, trong khi Miani và Daradkah[15] và Viên Thế Giang và Võ Thị Mỹ Hương lần lượt tập trung vào các quốc gia cụ thể như Jordan và Việt Nam. Một số nghiên cứu, chẳng hạn như Wright[16], mở rộng phạm vi khái niệm chủ nghĩa tư bản nhà nước và nghiên cứu sự ảnh hưởng của nó đến quản trị công ty, trong khi các nghiên cứu khác như Grittersová và Mahutga lại tập trung vào mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và việc gia nhập doanh nghiệp mới. Megginson và Liu[17] tập trung vào sự phục hồi toàn cầu của sở hữu nhà nước và sự ảnh hưởng của chính phủ đối với quản trị công ty, trong khi các nghiên cứu khác chủ yếu phân tích cải cách và tái cấu trúc ngân hàng trong các quốc gia riêng biệt.

Tóm lại, các nghiên cứu đều nhìn nhận vai trò của sở hữu nhà nước trong ngành ngân hàng từ các góc độ khác nhau, với sự chú trọng đặc biệt vào cải cách, hiệu quả hoạt động và tác động của chính phủ. Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu, bối cảnh quốc gia và phạm vi phân tích khác nhau giữa các nghiên cứu này đã mang lại những kết quả và khuyến nghị đa dạng.

Các nghiên cứu về quản lý vốn nhà nước tại Việt Nam

Các nghiên cứu về quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp tại Việt Nam đều tập trung vào việc phân tích và cải thiện hiệu quả quản lý, nhưng mỗi nghiên cứu có điểm chung, điểm riêng và nổi bật khác nhau.

Điểm chung của các nghiên cứu là đều quan tâm đến việc đánh giá các vấn đề trong quản lý vốn nhà nước, bao gồm cơ chế, pháp lý và tổ chức quản lý, cùng với những đề xuất cải cách như đổi mới mô hình quản lý, tăng cường minh bạch và công khai thông tin. Các nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính, từ việc phân tích thực trạng đến phỏng vấn chuyên gia.

Điểm riêng biệt của mỗi nghiên cứu thể hiện qua đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu của Trần Xuân Long[18] tập trung vào vấn đề đại diện chủ sở hữu vốn trong các doanh nghiệp sau cổ phần hóa và những vướng mắc liên quan, như việc chưa thực hiện chuyển giao đúng quy định hay năng lực của người đại diện vốn nhà nước. Trong khi đó, Mai Công Quyền[19] đề xuất mô hình quản lý vốn nhà nước từ Singapore, tập trung vào việc tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu sự tham gia của các tổng công ty nhà nước. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Đoan[20] phân tích thực trạng tại Đà Nẵng, chỉ ra các yếu kém trong cơ chế, pháp lý và tổ chức quản lý của chính quyền địa phương. Các nghiên cứu khác như Đỗ Phương Thảo[21] nghiên cứu mô hình kiểm soát vốn tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, trong khi Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức[22] lại chú trọng đến tác động của sở hữu tập trung đối với sự ổn định của ngân hàng. Nghiên cứu Đào Chí Thành Nhân[23] khác biệt khi tập trung vào đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn nhà nước, đồng thời đề xuất các giải pháp cải thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Nghiên cứu Nguyễn Minh Hạnh[24] lại tập trung vào an ninh tài chính của các tập đoàn kinh tế có vốn nhà nước, sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đo lường mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính và an ninh tài chính.

Điểm nổi bật của các nghiên cứu là tính đổi mới trong phương pháp nghiên cứu và các giải pháp cải tiến. Nghiên cứu Mai Công Quyền đề xuất mô hình Temasek từ Singapore, nghiên cứu Đỗ Phương Thảo cung cấp phân tích định lượng chi tiết về kiểm soát vốn tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và nghiên cứu Đào Chí Thành Nhân đưa ra các giải pháp toàn diện nhằm cải thiện công tác quản lý vốn nhà nước trong đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị. Nghiên cứu Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức làm nổi bật tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định của các ngân hàng, còn nghiên cứu Nguyễn Minh Hạnh phân tích an ninh tài chính trong các tập đoàn có vốn nhà nước, đóng góp một góc nhìn tài chính quan trọng cho quản lý vốn nhà nước.

Bảng 5. Tóm tắt nghiên cứu về quản lý vốn nhà nước tại Việt Nam

STT Tác giả Năm Tên tài liệu nghiên cứu Thể loại Lĩnh vực Nơi xuất bản
1 Trần Xuân Long 2012 Hoàn thiện chính sách quản lý vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa Luận án Kế hoạch và phát triển Đại học kinh tế quốc dân
2 Mai Công Quyền 2015 Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các Tổng công ty 2 xây dựng Nhà nước Luận án Quản lý kinh tế  Đại học kinh tế quốc dân
3 Nguyễn Thị Kim Đoan 2016 Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Luận án Kế hoạch và phát triển Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
4 Vũ Thị Nhung 2017  Pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước Luận án Luật học Đại học Luật Hà Nội
5 Đỗ Phương Thảo 2017 Giải pháp hoàn thiện kiểm soát sử dụng vốn nhà nước tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Luận án Quản lý kinh tế  Trường Đại học Thương mại
6 Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức 2020  Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam Bài báo Tài chính Ngân hàng Học viện Ngân hàng
7 Hồ Thị Hải 2020 Giám sát sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay Luận án Luật học Học viện khoa học xã hội
8 Phạm Tuấn Anh 2021  Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam Luận án Luật kinh tế Đại học Luật Hà Nội
9 Vũ Ngọc Tuấn 2021  Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nhà nước đầu tư tại Việt Nam Luận án Tài chính Ngân hàng Đại học kinh tế quốc dân
10 Đào Chí Thành Nhân 2023 Quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn nhà nước ở Việt Nam Luận án Quản lý công Học viện hành chính Quốc gia
11 Nguyễn Minh Hạnh 2023 Đảm bảo an ninh tài chính của các tập đoàn kinh tế có vốn nhà nước ở Việt Nam Luận án Tài chính Ngân hàng Học viện Tài chính

Nguồn: Tác giả thống kê

3.4. Phân tích xu hướng nghiên cứu bằng phương pháp đồng trích dẫn

Hình 9 là kết quả phân tích đồng trích dẫn sau khi tiến hành các bước sàng lọc và nhúng dữ liệu đã xử lý vào VOS Viewer.

Cụm màu đỏ là nhóm các nghiên cứu về tác động của sở hữu nhà nước và ảnh hưởng chính trị đến hành vi cho vay, rủi ro, hiệu quả hoạt động, an toàn, ổn định và cạnh tranh của ngân hàng. Cụm màu xanh lá là nhóm các nghiên cứu về mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và hành vi chấp nhận rủi ro; Tính hiệu quả của quy định và giám sát ngân hàng. Cùm màu xanh lam là nhóm các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sở hữu ngân hàng, tư nhân hóa và hiệu quả hoạt động trong bối cảnh các quốc gia chuyển đổi; Vai trò của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Cụm màu vàng là nhóm các đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua các mô hình phân tích phi tham số và lý thuyết doanh nghiệp, đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu, hành vi quản trị và hiệu quả chi phí và lợi nhuận. Cụm màu tím là nhóm các nghiên cứu ảnh hưởng của mối quan hệ chính trị đến hoạt động của doanh nghiệp trong các nền kinh tế chuyển đổi.

Bảng 6. Các nghiên cứu tiêu biểu cho các cụm chủ đề theo phương pháp đồng trích dẫn

Cụm Tác giả
Đỏ Sapienza[25] (2004); La Porta[26] (2002); Dinç[27] (2005); Lin và Zhang [28](2009); Iannotta[29] (2013); Laeven và Levine[30] (2009); Beck[31] (2013).
Xanh lá Dong[32] (2014); Barth[33] (2004); Levine[34] (1997)
Xanh lam Berger[35] (2009); Bonin[36] (2005); Fries và Taci[37] (2005); Bonin[38] (2005b).
Vàng Banker[39] (1984); Ariff và Luc[40] (2008); Jensen và Meckling[41] (1976); Altunbas[42] (2001)
Tím Brandt và Li[43] (2003); Faccio[44] (2006)

Nguồn: Tác giả thống kê

Hình 9. Phân tích đồng trích dẫn Nguồn: Tác giả trích xuất từ VOS Viewer

Từ hình 9 có thể thấy xu hướng nghiên cứu liên ngành luật học và kinh tế là mảng chủ đề liên quan đến pháp luật quản lý vốn nhà nước tại ngân hàng liên quan đến vai trò của tỷ lệ sở hữu, ảnh hưởng chính trị đối với hiệu quả hoạt động, an toàn vốn và ổn định tài chính, cạnh tranh và hành vi quản trị. Đặc biệt xu hướng nghiên cứu hướng trọng tâm vào các nền kinh tế chuyển đổi, chẳng hạn Việt Nam.

IV. Đề xuất khoảng trống nghiên cứu liên ngành luật học – kinh tế tại Việt Nam

Hiến pháp 2013 của Việt Nam khẳng định “nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”[45]. Từ đây có thể thấy, vai trò của sở hữu nhà nước trong chủ trương phát triển kinh tế được đặc biệt chú trọng. Ngành ngân hàng nói chung, các NHTM nói riêng, với chức năng chính là huy động vốn từ các chủ thể gửi tiền, sau đó cùng với vốn tự có, các NHTM thực hiện cấp tín dụng cho các chủ thể cần tài trợ vốn để kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng… Từ đây, dòng vốn được quản lý và điều tiết theo chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nhằm đạt được các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát của chính phủ.

Song song đó, ngày 04/05/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trong đó khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng”[46]. Như vậy, có thể thấy, cùng với xu thế phát triển, vai trò của các loại hình sở hữu trong xây dựng và phát triển kinh tế cũng có sự thay đổi đáng kể. Nếu như kinh tế nhà nước giữ vai trò “chủ đạo” thì kinh tế tư nhân đang được chú trọng với vai trò “nòng cốt”. Tuy nhiên, trong lĩnh vực ngân hàng, theo pháp luật hiện hành, tỷ lệ sở hữu tối đa của nhà đầu tư nước ngoài so với vốn điều lệ không vượt quá 30%, trừ trường hợp Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng cổ phần yếu kém, gặp khó khăn, chuyển giao bắt buộc nhưng cũng không quá 49% so với vốn điều lệ[47]. Như vậy cơ sở để quy định ngưỡng sở hữu tối đa này giữa sở hữu nhà nước với sở hữu tư nhân (bao gồm sở hữu tư nhân trong nước và nước ngoài) có dựa trên đặc tính hiệu quả hoạt động, an toàn hệ thống, ổn định tài chính?

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ còn ban hành Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021- 2025” trong đó quan điểm chính và các mục tiêu cụ thể đều gắn việc tăng trưởng kinh tế đi đôi với an toàn, ổn định tài chính[48]. Như vậy, tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các NHTM có tác động đến an toàn hệ thống, ổn định tài chính? Và nếu có thì tác động tích cực hay tiêu cực? Nguyên do từ đâu?

Bên cạnh đó, kể từ khi được công bố chính thức vào năm 2010, phiên bản Basel III đã và đang được triển khai áp dụng trên phạm vi thế giới và có nhiều thay đổi so với phiên bản ban đầu trong việc quản lý về mức đủ vốn hay tỷ lệ an toàn vốn và quản lý rủi ro thanh khoản[49]. Nhưng hiện tại, pháp luật quản lý về an toàn vốn của Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện và hướng đến áp dụng một số phương pháp nâng cao của phiên bản Basel II đối với hệ thống NHTM theo Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022 của chính phủ, Basel III chỉ được khuyến khích nghiên cứu, áp dụng nhưng không bắt buộc nếu NHTM đáp ứng đủ điều kiện về tài chính, nhân lực[50]. Mặt khác, các NHTM có tỷ lệ sở hữu nhà nước lớn (sở hữu từ 65% vốn điều lệ trở lên) như Agribank, Vietcombank, Vietinbank và BIDV, dù có mạng lưới và tổng tài sản khá lớn so với các NHTM còn lại trong hệ thống nhưng thường xuyên phải đối mặt với khó khăn trong việc tăng vốn điều lệ, cũng như tỷ lệ an toàn vốn[51]. Vậy nguyên nhân đến từ đâu?

Từ những phân tích tổng quan và liên kết với các câu hỏi đặt ra ở trên, nhóm tác giả đề xuất chủ đề tiềm năng trong nghiên cứu liên ngành luật học - kinh tế là chủ đề nghiên cứu liên quan đến pháp luật quản lý vốn nhà nước tại NHTM Việt Nam, trong đó tập trung đánh giá tác động vai trò của tỷ lệ sở hữu đối với hiệu quả hoạt động, an toàn vốn, cạnh tranh và ổn định tài chính bằng phương pháp định tính (luật học) và phương pháp định lượng (kinh tế). Kết quả của nghiên cứu là cơ sở vững chắc nhằm đề xuất các kiến nghị xây dựng pháp luật quản lý vốn nhà nước tại NHTM Việt Nam đảm bảo tính hiệu quả, ổn định và khách quan. Có thể lý giải khoảng trống nghiên cứu này như sau:

Thứ nhất, về chủ đề nghiên cứu, trong 5 nghiên cứu có trích dẫn nhiều nhất và 3 nghiên cứu có trích dẫn nhiều nhất mỗi năm trong năm năm trở lại đây của thế giới, tồn tại khoảng trống nghiên cứu khi chưa có nghiên cứu tổng hợp xem xét mối quan hệ tác động của tỷ lệ sở hữu nhà nước đến hiệu quả hoạt động, an toàn vốn và ổn định tài chính trong lĩnh vực ngân hàng tại quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, như Việt Nam.

Thứ hai, về lĩnh vực nghiên cứu, trong 11 nghiên cứu về quản lý vốn nhà nước tại Việt Nam, nghiên cứu chuyên ngành Luật học thì chỉ nghiên cứu thực trạng pháp luật giám sát sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp ở Việt Nam, trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước các nghiên cứu còn lại thuộc lĩnh vực kinh tế. Cụ thể, các nghiên cứu này hoặc là nghiên cứu ở khu vực phi ngân hàng hoặc nếu nghiên cứu ở khu vực ngân hàng thì chưa xem xét vai trò của tỷ lệ sở hữu nhà nước ở ba giác độ: hiệu quả hoạt động, an toàn vốn và ổn định tài chính dưới sự điều chỉnh của pháp luật quản lý vốn nhà nước.

Đề xuất chủ đề tiền năng trong nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống ở giác độ nghiên cứu liên ngành: kết hợp giữa lĩnh vực luật học với kinh tế (cụ thể là ngành ngân hàng).

V. Kết luận

Trong nghiên cứu tổng quan, phương pháp trắc lượng thư mục là một trong những phương pháp được ứng dụng để sàng lọc, thống kê và phân tích dữ liệu hiệu quả bởi tính khoa học, đảm bảo tính đầy đủ, bao quát và đáng tin cậy. Chính vì vậy, ngoài cung cấp góc nhìn tổng quan mang tính liên ngành giữa nghiên cứu luật học và kinh tế về chủ đề vốn nhà nước tại ngân hàng ở phạm vi thế giới mà còn gợi mở khoảng trống nghiên cứu liên quan đến chủ đề này tại Việt Nam thông qua xu hướng nghiên cứu mới nổi. Đây chính là điểm mới và độc đáo trong nghiên cứu mà lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội cần quan tâm ứng dụng, đặc biệt là nghiên cứu luật học hoặc liên ngành giữa luật học và các ngành khác.

Danh mục tài liệu tham khảo

Danh mục văn bản pháp luật

45. Hiến pháp 2013, Điều 51, Khoản 1

46. Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04 tháng 05 năm 2025, Mục I, Điều 1

47. Nghị định 69/2025/NĐ-CP, ngày 18 tháng 03 năm 2025 quy định về về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam

48. Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022, ngày 08 tháng 06 năm 2022, Mục I, Điều 1.

50. Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022, ngày 08 tháng 06 năm 2022, Mục III, Điều 1, Điểm b

Sách

7. Robin Chin Roemer & Rachel Borchardt, Meaningful metrics: A 21st century librarian’s guide to bibliometrics, altmetrics, and research impact (Amer Library Assn) (2015)

16. WRIGHT, M., WOOD, G. T., CUERVO-CAZURRA, A., SUN, P., OKHMATOVSKIY, I., & GROSMAN, A. (EDS.),The Oxford Handbook of State Capitalism and the Firm, https://doi.org/10.1093/oxfordhb/9780198837367.001.0001

17. MEGGINSON, W. L., & LIU, X., State Ownership and Corporate Governance The Oxford Handbook of State Capitalism and the Firm 0, https://doi.org/10.1093/oxfordhb/9780198837367.013.6

Luận án

18. Trần Xuân Long, “Hoàn thiện chính sách quản lý vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa”, (Luận án tiến sĩ kế hoạch và phát triển), Đại học kinh tế quốc dân (2012).

19. Mai Công Quyền, “Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các Tổng công ty 2 xây dựng Nhà nước”, (Luận án tiến sĩ quản lý kinh tế), Đại học kinh tế quốc dân (2015).

20. Nguyễn Thị Kim Đoan, “Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, (Luận án tiến sĩ kế hoạch và phát triển), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2016).

21. Đỗ Phương Thảo, “Giải pháp hoàn thiện kiểm soát sử dụng vốn nhà nước tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam”, (Luận án tiến sĩ quản lý kinh tế) Trường Đại học Thương mại (2017).

23. Đào Chí Thành Nhân, “Quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn nhà nước ở Việt Nam”, (Luận án tiến sĩ quản lý công), Học viện hành chính Quốc gia (2023).

24. Nguyễn Minh Hạnh, “Đảm bảo an ninh tài chính của các tập đoàn kinh tế có vốn nhà nước ở Việt Nam”, (Luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng), Học viện Tài chính (2023).

Tạp chí

3. Fries. S & Anita Taci, Cost efficiency of banks in transition: Evidence from 289 banks in 15 post-communist countries, 29 Journal of Banking & Finance 55–81 (2005), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426604001153

3.1. Berger et al., Bank ownership and efficiency in China: What will happen in the world’s largest nation?, 33 Journal of Banking & Finance 113–130 (2009), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426607003822

3.2. Alejandro Micco et al., Bank ownership and performance. Does politics matter?, 31 Journal of Banking & Finance 219–241 (2007), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426606001683.

3.3. Khanchel et al., Are political connections a curse for banks of the MENA region? The moderating effect of ownership structure, 20 International Journal of Emerging Markets 387–406 (2025), https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-85158889893&doi=10.1108%2FIJOEM-03-2022-0480&partnerID=40&md5=6cde19812cef5586e6391f480beffdf9

6. Alan Pritchard, Statistical bibliography or bibliometrics, 25 Journal of documentation 348 (1969)

8. Nguyễn Thanh Trà, Chỉ dẫn trích dẫn - một sản phẩm của trắc lượng thư mục, Thông tin và tư liệu 12–20 (2021), https://vjol.info.vn/index.php/VJIAD/article/view/63417

9. Katherine W McCain, Mapping authors in intellectual space: A technical overview, 41 Journal of the American Society for Information Science (1986-1998) 433 (1990).

10. Svetlana Andrianova et al., Government ownership of banks, institutions, and financial development, 85 Journal of Development Economics 218–252 (2008), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304387806001362

11. Alicia García-Herrero et al., China’s Banking Reform: An Assessment of its Evolution and Possible Impact, 52 CESifo Economic Studies 304–363 (2006), https://doi.org/10.1093/cesifo/ifl006

12. Stefan Brehm, Risk Management in China’s State Banks - International Best Practice and the Political Economy of Regulation, 10 Business and Politics 1–29 (2008), https://www.cambridge.org/core/product/6F08854A2E781355AD2FEE4AA9906447

13. Viên Thế Giang và Võ Thị Mỹ, Dealing with Weak Commercial Banks in Restructuring the System of Credit Institutions in Vietnam using Consolidation, Merger, and Acquisition: The Change from Administrative Orders to Market Mechanisms, 18 WSEAS Transactions on Environment and Development 1239–1251 (2022), https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-85143212254&doi=10.37394%2F232015.2022.18.116&partnerID=40&md5=0231b380e93353a718e1169c3a0eade6

14. Jana Grittersová & Matthew C Mahutga, Government ownership of banks, political system transparency, and regulatory barriers to new firm entry, 23 Journal of International Relations and Development 781–813 (2020), https://doi.org/10.1057/s41268-019-00172-w

15. Stefano Miani & Demeh Daradkah, The banking industry in Jordan, 15 Transition Studies Review 171–191 (2008), https://doi.org/10.1007/s11300-008-0168-1

22. Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức, Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 1–13 (2020)

25. Sapienza. P, The effects of government ownership on bank lending, 72 Journal of Financial Economics 357–384 (2004), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304405X03002459

26. La Porta. R. et al., Government ownership of banks, 57 The journal of finance 265–301 (2002)

27. Dinç. S.I., Politicians and banks: Political influences on government-owned banks in emerging markets, 77 Journal of financial economics 453–479 (2005)

28. Lin. X & Zhang.Y, Bank ownership reform and bank performance in China, 57. Journal of Banking & Finance 20–29 (2009)

29. Iannotta.G., et al., The impact of government ownership on bank risk, 22 Journal of Financial intermediation 152–176 (2013)

30. Laeven. L & Ross Levine, Bank governance, regulation and risk taking, 93 Journal of Financial Economics 259–275 (2009), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304405X09000816

31. Beck. T., et al., Bank competition and stability: Cross-country heterogeneity, 22 Journal of financial Intermediation 218–244 (2013)

32. Dong. Y., et al., Ownership structure and risk-taking: Comparative evidence from private and state-controlled banks in China, 36 International Review of Financial Analysis 120–130 (2014), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1057521914000465

33. Barth. J.R., et al., Bank regulation and supervision: what works best?, 13 Journal of Financial intermediation 205–248 (2004)

34. Levine. R., Financial development and economic growth: views and agenda, 55 Journal of economic literature 688–726 (1997)

35. Berger et al., Bank ownership and efficiency in China: What will happen in the world’s largest nation?, 33 Journal of Banking & Finance 113–130 (2009), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426607003822

36. Bonin. J.P., et al., Bank performance, efficiency and ownership in transition countries, 29 Journal of Banking and Finance 31–53 (2005), https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-8644251413&doi=10.1016%2Fj.jbankfin.2004.06.015&partnerID=40&md5=b6345904d21fe86076f406e98189501e

37. Steven Fries & Anita Taci, Cost efficiency of banks in transition: Evidence from 289 banks in 15 post-communist countries, 29 Journal of Banking & Finance 55–81 (2005), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426604001153.

38. Bonin.J.P., et al., Privatization matters: Bank efficiency in transition countries, 29 Journal of Banking & Finance 2155–2178 (2005)

39. Banker.R.D., et al., Some models for estimating technical and scale inefficiencies in data envelopment analysis, 30 Management science 1078–1092 (1984)

40. Ariff. M & Can Luc, Cost and profit efficiency of Chinese banks: A non-parametric analysis, 19 China economic review 260–273 (2008)

41. Jensen. M.C., & Meckling.W.H., Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure, 3 Journal of financial economics 305–360 (1976)

42. Altunbas.Y., et al., Bank ownership and efficiency, Journal of money, credit and banking 926–954 (2001)

43. Brandt.L & Hongbin Li, Bank discrimination in transition economies: ideology, information, or incentives?, 31 Journal of comparative economics 387–413 (2003)

44. Faccio.M, Politically connected firms, 96 American economic review 369–386 (2006)

49. Lê Phan Thị Diệu Thảo & Lê Hữu Nghĩa, Chuẩn mực an toàn vốn theo Basel III: tình hình triển khai trên thế giới và một số vấn để cho ngân hàng thương mại tại Việt Nam, 2 Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ 32–41 (2024).

Website

1. Duy Bắc, Bóng ma vụ sụp đổ ngân hàng khu vực năm ngoái vẫn ám ảnh ngành ngân hàng Mỹ, Đầu tư chứng khoán (07-12-2025), https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/bong-ma-vu-sup-do-ngan-hang-khu-vuc-nam-ngoai-van-am-anh-nganh-ngan-hang-my-post338894.html

5. Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh, Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng (07-12-2025), https://tapchinganhang.gov.vn/tac-dong-cua-cau-truc-so-huu-den-kha-nang-sinh-loi-va-rui-ro-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-12273.html.

2. Gia Hưng, Ngân hàng TPHCM trong dòng chảy sáp nhập và đổi mới, Kinh tế Sài Gòn Online (07-12-2025), https://thesaigontimes.vn/ngan-hang-tphcm-trong-dong-chay-sap-nhap-va-doi-moi/.

4. Lê Hoài Ân và Võ Nhật Anh, Chuyển dịch chiến lược của ngân hàng Trung Quốc và bài học cho Việt Nam, Kinh tế Sài Gòn Online (07-12-2025), https://thesaigontimes.vn/chuyen-dich-chien-luoc-cua-ngan-hang-trung-quoc-va-bai-hoc-cho-viet-nam/

51. Hà Thành, Tăng vốn cho các ngân hàng thương mại nhà nước: Việc làm cần thiết, Thời Báo Ngân Hàng (23-06-2025), https://thoibaonganhang.vn/tang-von-cho-cac-ngan-hang-thuong-mai-nha-nuoc-viec-lam-can-thiet-121126.html; Nguyễn Vũ, Cần thiết sửa cơ chế tăng vốn cho Big 4 để phát huy vai trò “sếu đầu đàn”, Tạp Chí Thị Trường Tài Chính Tiền Tệ (23-06-2025) https://thitruongtaichinhtiente.vn/can-thiet-sua-co-che-tang-von-cho-big-4-de-phat-huy-vai-tro-seu-dau-dan-63971.html

[*] NCS Luật Kinh tế, Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM, Email: nghiale.923102200019@st.ueh.edu.vn, ngày duyệt đăng 31/12/2025

[**] TS, Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM. Email: anhluatkt@ueh.edu.vn

[1] Duy Bắc, Bóng ma vụ sụp đổ ngân hàng khu vực năm ngoái vẫn ám ảnh ngành ngân hàng Mỹ. Đầu tư chứng khoán (07-12-2025), https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/bong-ma-vu-sup-do-ngan-hang-khu-vuc-nam-ngoai-van-am-anh-nganh-ngan-hang-my-post338894.html

[2] Gia Hưng, Ngân hàng TPHCM trong dòng chảy sáp nhập và đổi mới. Kinh tế Sài Gòn Online (07-12-2025), https://thesaigontimes.vn/ngan-hang-tphcm-trong-dong-chay-sap-nhap-va-doi-moi/.

[3] Steven Fries & Anita Taci, Cost efficiency of banks in transition: Evidence from 289 banks in 15 post-communist countries, 29 Journal of Banking & Finance 55–81 (2005), https://www.semanticscholar.org/paper/Cost-Efficiency-of-Banks-in-Transition%3A-Evidence-in-Fries-Taci/f09ec04d53c7f67db19bc8d3ed7e1bccc393f92f

Allen N Berger et al., Bank ownership and efficiency in China: What will happen in the world’s largest nation?, 33 Journal of Banking & Finance 113–130 (2009), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426607003822.

Alejandro Micco et al., Bank ownership and performance. Does politics matter?, 31 Journal of Banking & Finance 219–241 (2007), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426606001683.

Khanchel et al., Are political connections a curse for banks of the MENA region? The moderating effect of ownership structure, 20 International Journal of Emerging Markets 387–406 (2025), https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-85158889893&doi=10.1108%2FIJOEM-03-2022-0480&partnerID=40&md5=6cde19812cef5586e6391f480beffdf9

[4] Lê Hoài Ân và Võ Nhật Anh, Chuyển dịch chiến lược của ngân hàng Trung Quốc và bài học cho Việt Nam. Kinh tế Sài Gòn Online (07-12-2025), https://thesaigontimes.vn/chuyen-dich-chien-luoc-cua-ngan-hang-trung-quoc-va-bai-hoc-cho-viet-nam/

[5] Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh, Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng (07-12-2025), https://tapchinganhang.gov.vn/tac-dong-cua-cau-truc-so-huu-den-kha-nang-sinh-loi-va-rui-ro-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-12273.html.

[6] Pritchard Alan, Statistical bibliography or bibliometrics, 25 Journal of documentation 348 (1969)

[7] Robin Chin Roemer & Rachel Borchardt, Meaningful metrics: A 21st century librarian’s guide to bibliometrics, altmetrics, and research impact (Amer Library Assn) (2015)

[8] Nguyễn Thanh Trà, Chỉ dẫn trích dẫn - một sản phẩm của trắc lượng thư mục, Thông tin và tư liệu 12–20 (2021), https://vjol.info.vn/index.php/VJIAD/article/view/63417

[9] Katherine W McCain, Mapping authors in intellectual space: A technical overview, 41 Journal of the American Society for Information Science (1986-1998) 433 (1990).

[10] Svetlana Andrianova et al., Government ownership of banks, institutions, and financial development, 85 Journal of Development Economics 218–252 (2008), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304387806001362

[11] Alicia García-Herrero et al., China’s Banking Reform: An Assessment of its Evolution and Possible Impact, 52 CESifo Economic Studies 304–363 (2006), https://doi.org/10.1093/cesifo/ifl006

[12] Stefan Brehm, Risk Management in China’s State Banks - International Best Practice and the Political Economy of Regulation, 10 Business and Politics 1–29 (2008), https://www.cambridge.org/core/product/6F08854A2E781355AD2FEE4AA9906447

[13] Viên Thế Giang và Võ Thị Mỹ, Dealing with Weak Commercial Banks in Restructuring the System of Credit Institutions in Vietnam using Consolidation, Merger, and Acquisition: The Change from Administrative Orders to Market Mechanisms, 18 WSEAS Transactions on Environment and Development 1239–1251 (2022), https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-85143212254&doi=10.37394%2F232015.2022.18.116&partnerID=40&md5=0231b380e93353a718e1169c3a0eade6

[14] Jana Grittersová & Matthew C Mahutga, Government ownership of banks, political system transparency, and regulatory barriers to new firm entry, 23 Journal of International Relations and Development 781–813 (2020), https://doi.org/10.1057/s41268-019-00172-w

[15] Stefano Miani & Demeh Daradkah, The banking industry in Jordan, 15 Transition Studies Review 171–191 (2008), https://doi.org/10.1007/s11300-008-0168-1

[16] WRIGHT, M., WOOD, G. T., CUERVO-CAZURRA, A., SUN, P., OKHMATOVSKIY, I., & GROSMAN, A. (EDS.), The Oxford Handbook of State Capitalism and the Firm, https://doi.org/10.1093/oxfordhb/9780198837367.001.0001

[17] MEGGINSON, W. L., & LIU, X., State Ownership and Corporate Governance The Oxford Handbook of State Capitalism and the Firm 0, https://doi.org/10.1093/oxfordhb/9780198837367.013.6

[18] Trần Xuân Long, Hoàn thiện chính sách quản lý vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa, (Luận án tiến sĩ kế hoạch và phát triển), Đại học kinh tế quốc dân (2012).

[19] Mai Công Quyền, Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các Tổng công ty 2 xây dựng Nhà nước, (Luận án tiến sĩ quản lý kinh tế), Đại học kinh tế quốc dân (2015).

[20] Nguyễn Thị Kim Đoan, Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, (Luận án tiến sĩ kế hoạch và phát triển), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2016).

[21] Đỗ Phương Thảo, Giải pháp hoàn thiện kiểm soát sử dụng vốn nhà nước tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, (Luận án tiến sĩ quản lý kinh tế) Trường Đại học Thương mại(2017).

[22] Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức , Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 1–13 (2020)

[23] Đào Chí Thành Nhân, Quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn nhà nước ở Việt Nam, (Luận án tiến sĩ quản lý công), Học viện hành chính Quốc gia (2023).

[24] Nguyễn Minh Hạnh, Đảm bảo an ninh tài chính của các tập đoàn kinh tế có vốn nhà nước ở Việt Nam, (Luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng), Học viện Tài chính (2023).

[25] Sapienza. P, The effects of government ownership on bank lending, 72 Journal of Financial Economics 357–384 (2004), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304405X03002459

[26] La Porta. R. et al., Government ownership of banks, 57 The journal of finance 265–301 (2002)

[27] Dinç. S.I., Politicians and banks: Political influences on government-owned banks in emerging markets, 77 Journal of financial economics 453–479 (2005)

[28] Lin. X & Zhang.Y, Bank ownership reform and bank performance in China, 57. Journal of Banking & Finance 20–29 (2009)

[29] Iannotta.G., et al., The impact of government ownership on bank risk, 22 Journal of Financial intermediation 152–176 (2013)

[30] Laeven. L & Ross Levine, Bank governance, regulation and risk taking, 93 Journal of Financial Economics 259–275 (2009), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304405X09000816

[31] Beck. T., et al., Bank competition and stability: Cross-country heterogeneity, 22 Journal of financial Intermediation 218–244 (2013)

[32] Dong. Y., et al., Ownership structure and risk-taking: Comparative evidence from private and state-controlled banks in China, 36 International Review of Financial Analysis 120–130 (2014), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1057521914000465

[33] Barth. J.R., et al., Bank regulation and supervision: what works best?, 13 Journal of Financial intermediation 205–248 (2004)

[34] Levine. R., Financial development and economic growth: views and agenda, 55 Journal of economic literature 688–726 (1997)

[35] Berger et al., Bank ownership and efficiency in China: What will happen in the world’s largest nation?, 33 Journal of Banking & Finance 113–130 (2009), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426607003822

[36] Bonin. J.P., et al., Bank performance, efficiency and ownership in transition countries, 29 Journal of Banking and Finance 31–53 (2005), https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-8644251413&doi=10.1016%2Fj.jbankfin.2004.06.015&partnerID=40&md5=b6345904d21fe86076f406e98189501e

[37] Steven Fries & Anita Taci, Cost efficiency of banks in transition: Evidence from 289 banks in 15 post-communist countries, 29 Journal of Banking & Finance 55–81 (2005), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426604001153.

[38] Bonin.J.P., et al., Privatization matters: Bank efficiency in transition countries, 29 Journal of Banking & Finance 2155–2178 (2005)

[39] Banker.R.D., et al., Some models for estimating technical and scale inefficiencies in data envelopment analysis, 30 Management science 1078–1092 (1984)

[40] Ariff. M & Can Luc, Cost and profit efficiency of Chinese banks: A non-parametric analysis, 19 China economic review 260–273 (2008)

[41] Jensen. M.C., & Meckling.W.H., Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure, 3 Journal of financial economics 305–360 (1976)

[42] Altunbas.Y., et al., Bank ownership and efficiency, Journal of money, credit and banking 926–954 (2001)

[43] Brandt.L & Hongbin Li, Bank discrimination in transition economies: ideology, information, or incentives?, 31 Journal of comparative economics 387–413 (2003)

[44] Faccio.M, Politically connected firms, 96 American economic review 369–386 (2006)

[45] Hiến pháp 2013, Điều 51, Khoản 1

[46] Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04 tháng 05 năm 2025, Mục I, Điều 1.

[47] Nghị định 69/2025/NĐ-CP, ngày 18 tháng 03 năm 2025, Điều 1, Khoản 5, Khoản 7.

[48] Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022, ngày 08 tháng 06 năm 2022, Mục I, Điều 1.

[49] Lê Phan Thị Diệu Thảo và Lê Hữu Nghĩa, Chuẩn mực an toàn vốn theo Basel III: tình hình triển khai trên thế giới và một số vấn để cho ngân hàng thương mại tại Việt Nam, 2 Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ 32–41 (2024).

[50] Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022, ngày 08 tháng 06 năm 2022, Mục III, Điều 1, Điểm b.

[51] Hà Thành, Tăng vốn cho các ngân hàng thương mại nhà nước: Việc làm cần thiết, Thời Báo Ngân Hàng (23-06-2025), https://thoibaonganhang.vn/tang-von-cho-cac-ngan-hang-thuong-mai-nha-nuoc-viec-lam-can-thiet-121126.html; Nguyễn Vũ, Cần thiết sửa cơ chế tăng vốn cho Big 4 để phát huy vai trò “sếu đầu đàn”, Tạp Chí Thị Trường Tài Chính Tiền Tệ (23-06-2025), https://thitruongtaichinhtiente.vn/can-thiet-sua-co-che-tang-von-cho-big-4-de-phat-huy-vai-tro-seu-dau-dan-63971.html

Cùng chuyên mục

Một số khía cạnh pháp lý của việc chứng khoán hóa tài sản tài chính từ dự án PPP hạ tầng giao thông

Một số khía cạnh pháp lý của việc chứng khoán hóa tài sản tài chính từ dự án PPP hạ tầng giao thông

Nghiên cứu lý luận -  2 phút trước

(PLPT) - Bài viết chỉ ra một số vấn đề vấn đề trong pháp luật Việt Nam cần phải điều chỉnh và hoàn thiện để ứng dụng chứng khoán hóa vào việc phát triển hạ tầng giao thông tại Việt Nam.

Thẩm quyền riêng biệt của tòa án đối với bất động sản: Yêu cầu địa phương, vật quyền, hay hài hòa quốc tế?

Thẩm quyền riêng biệt của tòa án đối với bất động sản: Yêu cầu địa phương, vật quyền, hay hài hòa quốc tế?

Nghiên cứu lý luận -  4 phút trước

(PLPT) - Bài viết tổng kết rằng thẩm quyền riêng biệt không áp dụng cho trái quyền phát sinh từ bất động sản.

Kinh nghiệm quốc tế về quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động kinh tế ban đêm và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế về quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động kinh tế ban đêm và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  4 phút trước

(PLPT) - Bài viết đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động kinh tế đêm tại Việt Nam.

Khả năng áp dụng Công ước Viên 1980 với hợp đồng mua bán phần mềm -  Kinh nghiệm thế giới và một số hàm ý pháp lý cho Việt Nam

Khả năng áp dụng Công ước Viên 1980 với hợp đồng mua bán phần mềm - Kinh nghiệm thế giới và một số hàm ý pháp lý cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Bài viết nêu một số hàm ý pháp lý cho Việt Nam trong quá trình áp dụng Công ước của Liên Hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm (Công ước Viên 1980 – CISG)

Cân bằng lợi ích giữa các bên trong thỏa thuận không cạnh tranh nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh

Cân bằng lợi ích giữa các bên trong thỏa thuận không cạnh tranh nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Bài viết sẽ gợi mở việc ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh thỏa thuận này, hướng đến sự cân bằng lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động nói riêng và lợi ích của thị trường lao động nói chung, trong đó, tham khảo một số kinh nghiệm có liên quan từ Trung Quốc.

Pháp luật về đầu tư và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi: Đánh giá và khuyến nghị nhằm thúc đẩy thị trường dịch vụ trong bối cảnh già hóa dân số

Pháp luật về đầu tư và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi: Đánh giá và khuyến nghị nhằm thúc đẩy thị trường dịch vụ trong bối cảnh già hóa dân số

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Bài viết phân tích thực trạng pháp luật về đầu tư và chăm sóc sức khỏe NCT tại Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số nhanh.

Luật đăng ký tên doanh nghiệp tại Singapore và những gợi mở pháp lý cho Việt Nam

Luật đăng ký tên doanh nghiệp tại Singapore và những gợi mở pháp lý cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Bài viết phân tích một số khía cạnh pháp lý về tên doanh nghiệp trong quá trình thành lập doanh nghiệp, quản lý nhà nước đối với tên doanh nghiệp trong Luật đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014 tại Singapore.

Tính bền vững sinh thái và các nguyên lý thiết kế hệ thống quản trị hiện đại

Tính bền vững sinh thái và các nguyên lý thiết kế hệ thống quản trị hiện đại

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - “Tính bền vững” đang trở thành khái niệm thời thượng trong diễn ngôn toàn cầu, song thường bị nhầm lẫn với “phát triển bền vững”. Trên nền tảng cốt lõi sinh thái của tính bền vững, bài viết lý giải lịch sử hình thành, cơ sở lý luận và gợi mở các nguyên lý thiết kế hệ thống quản trị hiện đại nhằm bảo đảm tính bền vững sinh thái.