Nghiên cứu tổng quan liên ngành luật học – kinh tế về vốn sở hữu Nhà nước tại ngân hàng và gợi mở xu hướng nghiên cứu tiềm năng bằng phương pháp trắc lượng thư mục
Lê Hữu Nghĩa* Nguyễn Thị Anh**
Thứ năm, 01/01/2026 - 02:10
Nghe audio
0:00
(PLPT) - Nghiên cứu này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục để nghiên cứu liên ngành từ dữ liệu Scopus giữa luật học với kinh tế để cung cấp bức tranh tổng quan nghiên cứu về vốn sở hữu nhà nước tại ngân hàng trên thế giới và Việt Nam.
Tóm tắt: Nghiên cứu về vốn sở hữu nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng là một chủ đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay đối với những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, trong đó có Việt Nam với những đặc trưng kép. Một trong số đó là chính sách phát triển nền kinh tế vừa lấy hình thức sở hữu nhà nước làm chủ đạo, vừa khẳng định, đẩy mạnh sở hữu tư nhân với vai trò nòng cốt trước kỷ nguyên vươn mình của quốc gia, dân tộc. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục để nghiên cứu liên ngành từ dữ liệu Scopus giữa luật học với kinh tế để cung cấp bức tranh tổng quan nghiên cứu về vốn sở hữu nhà nước tại ngân hàng trên thế giới và Việt Nam. Đồng thời, bên cạnh việc đưa ra các phân tích, thảo luận nhằm lý giải vấn đề nghiên cứu, nghiên cứu còn gợi mở các xu hướng nghiên cứu tiềm năng từ chủ đề này bằng phân tích đồng trích dẫn thông qua phần mềm mở VOS Viewer và ngôn ngữ lập trình trên R Studio.
Từ khóa: vốn sở hữu nhà nước, luật học, ngân hàng, trắc lượng thư mục, xu hướng nghiên cứu
Abstract: The study of state ownership in the banking sector is a pressing topic in the current context, especially for countries with transitional economies, including Vietnam, which exhibits dual characteristics. One of these is the development policy that emphasizes the dominance of state ownership while simultaneously recognizing and promoting private ownership as a key driver in the nation’s emerging era of growth. This study employs a bibliometric approach to conduct interdisciplinary research using Scopus data, bridging the fields of law and economics to provide an overview of global and Vietnamese research on state ownership in banks. In addition to providing analysis and discussion to clarify the research issue, we also propose potential research directions on this topic through co-citation analysis conducted with the open-source software VOS Viewer and R Studio.
Keywords: state ownership capital, legal studies, banking, bibliometric analysis, research trends
I. Đặt vấn đề
Năm 2023, thế giới chứng kiến sự sụp đổ liên tiếp của
một số ngân hàng tại Mỹ như Silicon Valley Bank, First Signature Bank và First
Republic Bank[1]. Cũng tại thời điểm này, các ngân hàng ngân hàng
được nhà nước mua lại với giá 0 đồng
của Việt Nam bao gồm VNCB, Oceanbank, GPbank
(với tình trạng chung là âm vốn chủ sở hữu) vẫn chưa được xử lý triệt để thì
phát sinh thêm ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần Sài Gòn bị đưa vào kiểm soát
đặc biệt cùng với NHTM cổ phần Đông Á[2].
Mặc dù có nhiều nghiên cứu cho thấy sở hữu nhà
nước quá lớn trong ngành ngân hàng có thể gây ra những hệ quả tiêu cực như hoạt
động kinh doanh kém hiệu quả, thiếu minh bạch và tiềm ẩn rủi ro can thiệp chính
trị làm méo mó thị trường[3]. Tuy nhiên, sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế của Trung Quốc trong
những năm gần đây khi mà các ngân hàng có sở hữu vốn nhà nước vẫn đóng vai trò
chủ đạo trong việc thực hiện các chính sách công, ổn định tài chính và dẫn dắt
tăng trưởng ở quốc gia này là điều đáng quan tâm nghiên cứu[4].
Cũng như Hoa Kỳ, mặc dù sở hữu nhà nước không phổ biến tại quốc gia này nhưng
sau khủng hoảng tài chính 2008, Chính phủ Hoa Kỳ đã buộc phải can thiệp mạnh mẽ
thông qua các gói cứu trợ và tạm thời sở hữu cổ phần lớn trong nhiều tổ chức
tài chính để ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống. Tại các
quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, sở hữu nhà nước trong ngân
hàng vừa là công cụ điều tiết vĩ mô, vừa là “đệm chắn” chống đỡ rủi ro hệ thống
khi tiềm lực vốn và sự phát triển của thị trường tài chính còn hạn chế[5]. Như vậy, từ góc độ pháp lý,
việc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối trong các ngân hàng đặt ra nhiều câu hỏi
nghiên cứu về pháp luật quản lý vốn nhà nước trong hoạt động đầu tư, kinh
doanh, sự minh bạch trong quản trị, điều hành , cũng như giới hạn của can thiệp hành chính từ chủ
thể là nhà nước vào thị trường tài chính. Trong khi đó, nếu tiếp cận ở góc nhìn
kinh tế, vốn sở hữu nhà nước có vai trò như thế nào trong việc ổn định tài
chính, an toàn hệ thống ngân hàng và thúc đẩy các mục tiêu phát triển.
Đối diện với bối cảnh toàn cầu
hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng giữa các quốc gia có nền kinh tế
phát triển và đang chuyển đổi, ở khía cạnh nghiên cứu, vai trò của vốn sở hữu
nhà nước trong ngành ngân hàng cần được xem xét dưới góc nhìn tổng quan liên
ngành giữa luật học và kinh tế là điều cấp thiết.
Nghiên cứu này sử dụng phương
pháp trắc lượng thư mục để tổng quan các nghiên cứu liên ngành từ dữ liệu
Scopus giữa luật học với kinh tế về vốn sở hữu nhà nước tại ngân hàng trên thế
giới và Việt Nam. Đồng thời, bên cạnh việc đưa ra các phân tích, thảo luận nhằm
lý giải vấn đề nghiên cứu, bài báo còn
gợi mở các xu hướng nghiên cứu tiềm năng từ chủ đề này bằng phân tích
đồng trích dẫn thông qua phần mềm mở VOS Viewer và ngôn ngữ lập trình trên R
Studio.
II. Phương pháp trắc lượng thư mục và quy trình xử lý dữ liệu
2.1. Phương pháp trắc lượng thư mục
Thuật ngữ “bibliometrics”
ra đời năm 1969, được đề xuất từ một nghiên cứu của Pritchard[6]. Tác giả này đưa ra định
nghĩa về phương pháp trắc lượng thư mục chính là sử dụng các phương pháp thống
kê trong toán học cho việc nghiên cứu về sách và các vật chứa đựng thông tin
khác. Sau này, phương pháp trắc lượng thư mục được định nghĩa thống nhất và
tiệm cận với ứng dụng đặc trưng của nó là như phương pháp sử dụng một tập hợp
các phương pháp định lượng để đo lường, theo dõi và phân tích tài liệu học
thuật[7]. Ngoài ra, phương pháp này
có nhiều tên gọi tiếng Việt như trắc lượng thư mục, thống kê thư mục, đo lường
thư mục,… và được tiếp cận ở nhiều giác độ nghiên cứu khác nhau[8].
Thông qua nội dung từ phần tóm tắt và trích dẫn của mỗi nghiên cứu có liên quan
từ các bài báo nghiên cứu được lưu trữ trong dữ liệu của Scopus hoặc Web of Science, ta có thể phân
tích và hệ thống hóa chúng. Tổng quan nghiên cứu bằng phương pháp trắc lượng
thư mục mang lại nhiều ưu điểm nổi bật so với các phương pháp truyền thống.
Trước hết, đây là một phương pháp định lượng khách quan và minh bạch, giúp giảm
thiểu thiên kiến chủ quan bằng cách phân tích dữ liệu cụ thể như số lượng công
bố, lượt trích dẫn, từ khóa xuất hiện hay mạng lưới hợp tác học thuật. Nhờ đó,
phương pháp trắc lượng thư mục cho phép xác định được các xu hướng nghiên cứu
nổi bật, phát hiện các chủ đề đang thu hút sự quan tâm và những tác giả có ảnh
hưởng trong lĩnh vực. Bên cạnh đó, phương pháp này còn hỗ trợ xây dựng bản đồ
tri thức thông qua các mạng lưới trích dẫn, từ khóa hay tác giả giúp làm rõ cấu
trúc và sự phát triển của lĩnh vực nghiên cứu. Một ưu điểm quan trọng khác là
khả năng hỗ trợ nhà nghiên cứu định hướng đề tài, phát hiện khoảng trống học
thuật và đề xuất hướng đi mới có giá trị. Phương pháp trắc lượng thư mục cũng
giúp xác định các tạp chí uy tín, tổ chức và quốc gia dẫn đầu trong công bố
khoa học. Với khả năng xử lý khối lượng lớn dữ liệu từ hàng ngàn bài báo,
phương pháp này còn tiết kiệm thời gian và tối ưu hóa quy trình tổng quan tài
liệu nhờ các công cụ hỗ trợ như VOSviewer, Bibliometrix - R Studio hay
CiteSpace. Cuối cùng, phương pháp trắc lượng thư mục có thể được sử dụng như
một công cụ phục vụ hoạch định chính sách khoa học và đánh giá hiệu quả nghiên
cứu của tổ chức hoặc cá nhân một cách hệ thống và trực quan.
Phương thức đồng trích dẫn (một
phân tích con trong phương pháp trắc lượng thư mục) là phương thức đi từ nguyên
lý liên kết giữa hai nghiên cứu được trích dẫn trong cùng một tài liệu, minh
họa như Hình 1. Phương thức này được cho là do McCain[9]
đề xuất sử dụng vào năm 1990 trong một bài báo của ông liên quan đến lập bản đồ
các tác giả theo chủ đề nghiên cứu. Kết quả phân tích từ phương thức đồng trích
dẫn là một minh họa về cấu trúc của các hướng nghiên cứu, ý tưởng tương đồng
của các tác giả. Phương thức phân tích này cung cấp một cái nhìn rõ ràng, thấu
đáo về những tác giả, nghiên cứu nào được trích dẫn cùng nhau, tiếp tục ý tưởng
của nhau hoặc ngược lại, những ai đang tranh luận với nhau trong cùng một chủ
đề nghiên cứu. Từ các tính chất này, phương pháp phân tích đồng trích dẫn còn được sử dụng để chỉ ra các xu hướng
nghiên cứu mới hoặc các khoảng trống trong lý thuyết, mở ra các hướng nghiên
cứu tiềm năng.
Hình 1. Minh họa trực quan phương pháp đồng trích dẫn Nguồn: Tác giả
2.2. Quy trình xử lý dữ liệu
Quy trình
nghiên cứu theo Hình 2 được thực hiện qua các bước sau: Trước hết, xác định chủ
đề nghiên cứu là “Vốn sở hữu nhà nước tại ngân hàng”. Tiếp theo, dữ liệu được
trích xuất từ cơ sở dữ liệu Scopus thông qua mã tìm kiếm dựa trên tiêu đề, tóm
tắt và từ khóa, sử dụng các cụm từ như “state capital”, “state ownership”,
“state-owned” và “bank*”, thu được 2.680 tài liệu. Sau đó, tiến hành lọc dữ
liệu theo các tiêu chí mà Scopus cho phép, bao gồm giới hạn lĩnh vực (Kinh tế,
Kinh doanh, Khoa học xã hội), loại tài liệu (bài báo, sách, kỷ yếu…), loại trừ
các từ khóa không phù hợp và chọn ngôn ngữ (tiếng Anh), kết quả còn 2.122 tài
liệu. Tiếp đến, tài liệu được sàng lọc kỹ hơn thông qua việc kiểm tra từ khóa
tác giả “bank” và “banking”, đọc tóm tắt và loại bỏ các bài không liên quan, số
tài liệu giảm còn 983 tài liệu. Cuối cùng, sử dụng các công cụ VOSviewer và
Bibliometrix trong R Studio để phân tích và trực quan hóa dữ liệu.
Hình 2. Quy trình xử lý dữ liệu Nguồn: Tác giả
Đặc biệt, đối với dữ liệu truy
xuất từ Scopus, để tập vào các nghiên cứu luật học, tại trường lĩnh vực nghiên
cứu, tác giả chỉ chọn: khoa học xã hội (social science) theo cú pháp
TITLE-ABS-KEY ( “state capital” OR “state ownership” OR
“state –owned” AND “bank*” )
AND ( LIMIT-TO ( DOCTYPE , “ar” )
OR LIMIT-TO ( DOCTYPE , “ch” )
OR LIMIT-TO ( DOCTYPE , “cp” )
OR LIMIT-TO ( DOCTYPE , “re” )
OR LIMIT-TO ( DOCTYPE , “bk” ) )
AND ( EXCLUDE ( EXACTKEYWORD
, “Article” ) ) AND (
LIMIT-TO ( LANGUAGE , “English” ) ) AND (
LIMIT-TO ( SUBJAREA , “SOCI” ) ). Kết
quả có 701 tài liệu, sau đó, tác giả xuất dưới dạng bảng tính file Excel và
tiến hành sàng lọc tại trường từ khóa tác giả (author keywords) như Hình 3.
Hình 3. Sàng lọc tại trường từ khóa tác giả (author keywords) trong Excel Nguồn: Tác giả trích xuất từ Excel
Ngoài ra, để đảm bảo không bỏ sót
các nghiên cứu liên quan đến chủ đề vốn chủ sở hữu nhà nước tại ngân hàng công
bố bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, tác giả sử dụng dữ liệu công bố từ nguồn Google
scholar và Website công bố luận án tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo (tại
đường link https://luanvan.moet.gov.vn/?page=1.33&lv=381).
III. Kết quả và thảo luận nghiên cứu
3.1. Thông tin tổng quan
Liên quan đến đề tài sở hữu nhà
nước, vốn nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, sau khi trích xuất và lọc dữ liệu
từ hệ thống Scopus, kết quả tại Bảng 1 thể hiện thông tin tổng quan từ năm 1995
đến 2025. Cụ thể, tổng số tài liệu là 983, với nguồn từ 443 tạp chí và sách. Tỷ
lệ tăng trưởng hàng năm của tài liệu đạt 16.18%, với tuổi trung bình của tài
liệu là 6.59 năm. Trung bình mỗi tài liệu được trích dẫn 22.51 lần và tổng số
tài liệu tham khảo là 42,493. Về nội dung tài liệu, có 2,537 từ khóa của tác
giả. Tổng số tác giả tham gia là 1,872, trong đó có 172 tác giả có các tài liệu
viết đơn lẻ. Đối với hợp tác tác giả, 202 tài liệu được viết bởi một tác giả
duy nhất, và mỗi tài liệu có trung bình 2.56 tác giả cộng tác. Tỷ lệ hợp tác
quốc tế là 23.19%. Về loại tài liệu, bao gồm 890 bài báo, 2 sách, 34 chương
sách, 41 bài báo hội nghị và 16 bài báo đánh giá.
Bảng 1. Thông tin tổng quan các
nghiên cứu từ năm 1995 đến 2025
THÔNG TIN CHÍNH VỀ DỮ LIỆU
KẾT QUẢ
Khoảng Thời Gian
Từ 1995 đến 2025
Nguồn (Tạp chí, sách,…)
443
Tài liệu
983
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm (%)
16.18
Tuổi trung bình của tài liệu (năm)
6.59
Trung bình số lần trích dẫn mỗi tài liệu
22.51
Tài liệu tham khảo
42493
NỘI DUNG TÀI LIỆU
Từ khóa của tác giả
2537
TÁC GIẢ
Tổng số tác giả
1872
Số lượng tác giả với vai trò đơn nhất
172
TÁC GIẢ VÀ CỘNG SỰ
Số lượng tài liệu được viết bởi 1 tác giả duy nhất
202
Số tác giả cộng tác mỗi tài liệu
2.56
Tỷ lệ hợp tác quốc tế (%)
23.19
LOẠI TÀI LIỆU
Bài báo
890
Sách
2
Chương sách
34
Bài báo hội nghị
41
Bài báo đánh giá
16
Nguồn: Tác giả xử lý phân tích dữ liệu từ Scopus
3.2. Số lượng tài liệu và số lượng trích dẫn qua các năm
Từ Hình 4 có thể thấy từ 1995 đến
2025, liên quan đến chủ đề nghiên cứu, có sự gia tăng tài liệu nghiên cứu qua
các năm. Năm 1995 chỉ có 1 tài liệu, nhưng đến năm 2025, con số này đạt 90 tài
liệu. Điều này cho thấy một sự gia tăng đáng kể trong việc xuất bản tài liệu
nghiên cứu. Trong đó nếu xét về mức độ gia tăng thì trong giai đoạn đầu, từ
1995 đến 2005, số lượng tài liệu nghiên cứu có sự thay đổi khá chậm, nhưng từ
năm 2006 trở đi, số lượng lại tăng mạnh. Cụ thể, vào năm 2006 có 7 tài liệu
nghiên cứu, nhưng đến năm 2025 đã có 90 bài, gấp khoảng 12 lần trong vòng 20
năm. Đối với sự gia tăng trích dẫn, số lần trích dẫn cũng có sự tăng trưởng rõ
rệt qua các năm, đặc biệt từ 2001 đến 2020. Tuy nhiên, số trích dẫn có sự biến
động mạnh qua các năm, với những năm có số trích dẫn cao như năm 2003 (377
trích dẫn), năm 2004 (1104 trích dẫn), năm 2005 (1795 trích dẫn) và những năm
gần đây, số trích dẫn có xu hướng ổn định. Nhìn chung, số lượng bài báo và
trích dẫn đều có xu hướng tăng lên, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh
vực nghiên cứu. Tuy nhiên trong hai năm gần nhất (năm 2023 và năm 2024) số
lượng trích dẫn có sự biến động giảm, phản ánh sự quan tâm khác nhau đối với
các nghiên cứu theo thời gian.
Hình 4. Số lượng tài liệu và số lượng trích dẫn từ năm 1995 đến 2025 Nguồn: Tác giả
3.3. Tài liệu, tác giả có số trích dẫn cao nhất, từ khóa phổ biến và
quốc gia có nhiều nghiên cứu liên quan đến chủ đề
Năm tài liệu có số trích dẫn toàn
cầu nhiều nhất
Hình 5. Năm tài liệu có số trích dẫn toàn cầu nhiều nhất Nguồn: Tác giả trích xuất từ R Studio
Nhìn chung, năm nghiên cứu được
trích dẫn nhiều nhất có liên quan đến chủ đề sở hữu nhà nước, vốn nhà nước
trong lĩnh vực ngân hàng tập trung vào mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu ngân
hàng - đặc biệt là sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu nước ngoài với
hiệu quả hoạt động và hành vi tổ chức (ở đây là ngân hàng). Một điểm chung nổi
bật là tất cả các nghiên cứu đều cho thấy ngân hàng sở hữu nhà nước có xu hướng
hoạt động kém hiệu quả hơn, lợi nhuận thấp hơn, chi phí cao hơn và dễ bị chi
phối bởi yếu tố chính trị. Trong khi đó, sở hữu tư nhân, đặc biệt là sở hữu
nước ngoài hoặc các hình thức cổ phần hóa, được cho là giúp cải thiện hiệu quả
và tăng tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng. Các nghiên cứu này chủ yếu sử
dụng dữ liệu thực nghiệm từ các quốc gia đang phát triển hoặc đang trong quá
trình cải cách hệ thống ngân hàng, như Trung Quốc và các nước Đông Âu hoặc so
sánh giữa nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển. Các nghiên cứu này còn
mở rộng phân tích đến vai trò của các yếu tố chính trị, như kết quả bầu cử hoặc
sự can thiệp của chính phủ, nhằm lý giải sâu hơn tác động của sở hữu nhà nước
đến hành vi cho vay và hiệu quả tài chính. Tóm lại, các nghiên cứu đều củng cố
luận điểm rằng việc cải tổ cấu trúc sở hữu, đặc biệt là giảm thiểu sở hữu nhà
nước và khuyến khích sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài là một
hướng đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống ngân hàng, nhất là
trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi hoặc đang phát triển.
Bảng 2. Năm nghiên cứu có số lượng
trích dẫn cao nhất
STT
Tác giả
Năm
Tên tài liệu
nghiên cứu
DOI
Tổng số trích
dẫn
1
SAPIENZA P
2004
The effects of government ownership on bank lending
10.1016/j.jfineco.2002.10.002
730
2
BERGER AN
2009
Bank ownership and efficiency in China: What will happen in the
world’s largest nation?
10.1016/j.jbankfin.2007.05.016
679
3
FRIES S
2005
Cost efficiency of banks in
transition: Evidence from 289 banks in 15 post-communist countries
10.1016/j.jbankfin.2004.06.016
495
4
MICCO A
2007
Bank ownership and performance. Does politics matter?
10.1016/j.jbankfin.2006.02.007
456
5
GARCÍA-HERRERO A
2009
What explains the low profitability of Chinese banks?
10.1016/j.jbankfin.2009.05.005
404
Nguồn: Tác giả thống kê
Ba tài liệu có số trích dẫn
cao nhất trong mỗi năm của năm gần nhất (từ 2020 đến 2025)
Mười lăm nghiên cứu này đều cho
thấy sự thay đổi trong môi trường tài chính hiện đại bao gồm đổi mới công nghệ,
chuyển đổi xanh, cải cách sở hữu và rủi ro vĩ mô có ảnh hưởng sâu rộng đến hiệu
quả và hành vi của tổ chức, ở đây là ngân hàng. Mặc dù cùng tập trung vào hệ
thống ngân hàng, các nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ: thể chế, sở hữu,
FinTech, chính sách và sự thay đổi công nghệ. Những điểm khác biệt về phạm vi
địa lý, chủ đề nghiên cứu và phương pháp phân tích đã làm phong phú thêm bức
tranh tổng thể về các yếu tố định hình hoạt động của ngân hàng tại các thị
trường mới nổi. Đây là bằng chứng thực nghiệm để đề xuất chính sách quản lý rủi
ro, cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế số
và tài chính xanh.
Bảng 3. Ba tài liệu có số trích dẫn
cao nhất trong mỗi năm của năm gần nhất (từ 2021 đến 2025)
STT
Tác giả
Năm
Tên tài liệu
nghiên cứu
DOI
Tổng số trích
dẫn
1
Yin W.; Zhu Z.;
Kirkulak-Uludag B.; Zhu Y.
2021
The determinants of green credit and its impact on the performance of
Chinese banks
10.1016/j.jclepro.2020.124991
110
2
Boulanouar Z.; Alqahtani F.; Hamdi B.
2021
Bank ownership, institutional quality and financial stability:
evidence from the GCC region
10.1016/j.pacfin.2021.101510
47
3
Abid A.; Gull A.A.;
Hussain N.; Nguyen D.K.
2021
Risk governance and bank risk-taking behavior: Evidence from Asian
banks
10.1016/j.intfin.2021.101466
41
4
Zhao J.; Li X.; Yu
C.-H.; Chen S.; Lee C.-C.
2022
Riding the FinTech innovation wave: FinTech, patents and bank
performance
10.1016/j.jimonfin.2021.102552
247
5
Li C.; He S.; Tian
Y.; Sun S.; Ning L.
2022
Does the bank's FinTech innovation reduce its risk-taking? Evidence
from China's banking industry
10.1016/j.jik.2022.100219
109
6
Zhu Z.; Tan Y.
2022
Can green industrial policy promote green innovation in heavily
polluting enterprises? Evidence from China
10.1016/j.eap.2022.01.012
94
7
Liu G.; Wang S.
2023
Digital transformation and trade credit provision: Evidence from
China
10.1016/j.ribaf.2022.101805
68
8
Guo P.; Zhang C.
2023
The impact of bank FinTech on liquidity creation: Evidence from China
10.1016/j.ribaf.2022.101858
58
9
Wu X.; Jin T.; Yang K.; Qi H.
2023
The impact of bank FinTech on commercial banks' risk-taking in China
10.1016/j.irfa.2023.102944
49
10
Tang M.; Hu Y.;
Corbet S.; Hou Y.G.; Oxley L.
2024
Fintech, bank diversification and liquidity: Evidence from China
10.1016/j.ribaf.2023.102082
41
11
Li B.; Cheng Y.;
Tian G.
2024
Bank competition and firm asset- debt maturity mismatch: Evidence
from the SMEs in China
10.1016/j.ribaf.2024.102240
31
12
Liu Z.; Li X.
2024
The impact of bank fintech on ESG greenwashing
10.1016/j.frl.2024.105199
26
13
Tan W.; Yan E.H.;
Yip W.S.
2025
Go green: How does Green Credit Policy promote corporate green
transformation in China
10.1111/jifm.12218
15
14
Khanchel I.;
Lassoued N.; Ferchichi O.
2025
Are political connections a curse for banks of the MENA region?
The moderating effect of ownership structure
10.1108/IJOEM-03-2022-0480
10
15
Huynh J.
2025
Banking uncertainty and corporate financial constraints
10.1002/ijfe.2938
6
Nguồn: Tác giả thống kê
Từ khóa có tần suất xuất hiện nhiều
nhất
Hình 6. Từ khóa có tần suất xuất hiện nhiều nhất Nguồn: Tác giả trích xuất từ VOS Viewer
Hình ảnh phân tích mạng lưới từ
khóa cho thấy sự tập trung cao vào các thuật ngữ liên quan đến sở hữu nhà nước
và vốn nhà nước trong ngành ngân hàng. Các từ khóa như “ngân hàng sở hữu nhà
nước”, “sở hữu nhà nước”, “ngân hàng thương mại”, “sở hữu ngân hàng” và “hiệu
quả ngân hàng” nằm ở trung tâm của mạng lưới, cho thấy đây là các yếu tố quan
trọng trong nghiên cứu. Ngoài ra, chúng còn liên kết chặt chẽ với các vấn đề
khác như “cạnh tranh ngân hàng”, “hiệu quả ngân hàng”, “hạn chế tài chính” và
“shadow banking” Điều này chứng tỏ rằng sở hữu nhà nước trong ngân hàng có sự
tác động mạnh mẽ đến các yếu tố như hiệu quả và cạnh tranh của các ngân hàng.
Các từ khóa này còn có mối liên hệ mật thiết với các khái niệm như “cấu trúc sở
hữu”, “rủi ro ngân hàng” phản ánh sự quan trọng của sở hữu nhà nước trong việc
xác định hiệu quả hoạt động và chiến lược của ngân hàng. Bên cạnh đó, các yếu
tố như “cải cách ngân hàng”, “tư nhân hóa” và “chuyển đổi số” cũng được kết
nối, cho thấy sự hiện đại hóa và thay đổi trong các ngân hàng sở hữu nhà nước,
đặc biệt là trong bối cảnh các nền kinh tế lớn như Trung Quốc và nền kinh tế
chuyển đổi như Việt Nam. Tóm lại, sở hữu nhà nước trong ngân hàng là một yếu tố
trung tâm, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều khía cạnh của ngành ngân hàng, từ hiệu
quả hoạt động đến quản lý rủi ro, cạnh tranh và ổn định tài chính.
Quốc gia có nghiên cứu liên
quan đến chủ đề được trích dẫn nhiều nhất
Hình 7. Quốc gia có nghiên cứu liên quan đến sở hữu nhà nước/vốn nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng được trích dẫn nhiều nhất Nguồn: Tác giả trích xuất từ VOS Viewer
Hình 7 cho thấy Trung Quốc là
quốc gia có nghiên cứu liên quan đến sở hữu nhà nước/vốn nhà nước trong ngân
hàng được trích dẫn nhiều nhất. Các quốc gia khác như Hoa Kỳ và Vương quốc Anh
cũng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu này, trong khi các quốc gia ít
nghiên cứu hơn chủ yếu nằm ở các khu vực khác như Châu Phi và Nam Mỹ.
Sự phân bố các quốc gia trong
mạng lưới nghiên cứu sở hữu nhà nước/vốn nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng có
thể được giải thích qua góc độ thể chế, liên quan đến vai trò của nhà nước
trong nền kinh tế và sự phát triển của hệ thống tài chính. Các quốc gia như
Trung Quốc, với việc sở hữu nhà nước mạnh mẽ về vốn và sự can thiệp của nhà nước vào các ngân
hàng, là những nơi có nhiều nghiên cứu về sở hữu nhà nước trong ngân hàng. Sự
kiểm soát lớn của nhà nước đối với các ngân hàng trong các quốc gia này dẫn đến
các nghiên cứu tập trung vào việc quản lý vốn nhà nước và đánh giá hiệu quả của
các ngân hàng nhà nước. Trong khi đó, ở các quốc gia như Hoa Kỳ và Vương quốc
Anh, mặc dù hệ thống ngân hàng chủ yếu tư nhân, nhưng các nghiên cứu vẫn tập
trung vào vai trò của nhà nước trong các trường hợp cứu trợ ngân hàng hoặc can
thiệp khi cần thiết. Các quốc gia như Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam và Malaysia,
với sở hữu nhà nước về vốn trong ngân hàng tương đối mạnh, cũng có nhiều
nghiên cứu liên quan đến chủ đề này. Ngược lại, những quốc gia như Thụy Điển và
Nam Phi, nơi các ngân hàng chủ yếu hoạt động theo cơ chế thị trường tự do và ít
sự can thiệp của nhà nước, có ít nghiên cứu về sở hữu nhà nước trong ngân hàng.
Tóm lại, sự phân bố nghiên cứu về sở hữu nhà nước trong ngân hàng phản ánh vai
trò của thể chế nhà nước và mô hình kinh tế của mỗi quốc gia.
Tổng quan các nghiên cứu có
liên quan đến quy định pháp luật quản lý vốn nhà nước tại NHTM
Bảng 4. Thông tin tổng quan các
nghiên cứu có liên quan đến quy định pháp luật quản lý vốn nhà nước tại NHTM
THÔNG TIN
CHÍNH VỀ DỮ LIỆU
KẾT QUẢ
Khoảng thời gian
Từ 2006 đến 2022
Nguồn (Tạp chí,
sách,…)
7
Tài liệu
8
Tỷ lệ tăng trưởng
hàng năm (%)
7.11
Tuổi trung bình của
tài liệu (năm)
10.5
Trung bình số lần
trích dẫn mỗi tài liệu
27.62
Tài liệu tham khảo
352
NỘI DUNG TÀI LIỆU
Từ khóa của tác giả
35
TÁC GIẢ
Tổng số tác giả
21
Số lượng tác giả
với vai trò đơn nhất
1
TÁC GIẢ VÀ CỘNG SỰ
Số lượng tài liệu
được viết bởi 1 tác giả duy nhất
1
Số tác giả cộng tác
mỗi tài liệu
2.62
Tỷ lệ hợp tác quốc
tế (%)
25
LOẠI TÀI LIỆU
Bài báo
6
Sách
1
Chương sách
1
Nguồn: Tác giả
Kết quả tại Bảng 4 phản ánh từ
năm 2006 đến 2022 cho thấy một quá trình phát triển ổn định và đáng chú ý trong
việc công bố tài liệu nghiên cứu, với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm là 7.11%. Tổng
cộng có 8 tài liệu được công bố từ 7 nguồn khác nhau, chủ yếu là bài báo khoa
học (6 bài), với 1 cuốn sách và 1 chương sách. Các tài liệu này có tuổi trung
bình 10.5 năm, cho thấy một số tài liệu có thời gian nghiên cứu lâu dài và đã
được phát hành trong một thời gian đáng kể. Trung bình mỗi tài liệu được trích
dẫn 27.62 lần, phản ánh mức độ ảnh hưởng cao trong cộng đồng nghiên cứu. Các
tác giả tham gia nghiên cứu tổng cộng 21 người, với tỷ lệ hợp tác quốc tế là
25%, cho thấy sự hợp tác mạnh mẽ cả trong nước và quốc tế.
Năm nghiên cứu có trích dẫn cao
nhất được thể hiện ở Hình 8.
Hình 8. Năm nghiên cứu về pháp luật liên quan đến chủ đề có trích dẫn cao nhất Nguồn: Tác giả trích xuất từ R Studio
Các nghiên cứu về sở hữu nhà nước
trong ngành ngân hàng có nhiều điểm chung, nổi bật và khác biệt.
Về điểm chung, tất cả các nghiên
cứu đều liên quan đến sở hữu nhà nước trong ngành ngân hàng, xem xét tác động
của sở hữu nhà nước đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng và cải cách
ngân hàng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sở hữu nhà nước có thể gây ảnh hưởng
tiêu cực đến hiệu quả tài chính và sự phát triển của các ngân hàng, đặc biệt là
khi ngân hàng nhà nước không được cải cách kịp thời hoặc quản lý kém. Các
nghiên cứu đều thừa nhận rằng các biện pháp cải cách như tái cấu trúc, sáp nhập
hoặc mua lại có thể giúp cải thiện tình trạng yếu kém của các ngân hàng nhà
nước.
Về điểm nổi bật, Andrianova[10] tập trung vào yếu tố thể
chế và khuyến nghị các quốc gia phát triển nên xây dựng thể chế mạnh mẽ để thúc
đẩy sự phát triển của ngân hàng tư nhân thay vì cổ phần hóa các ngân hàng nhà
nước. García-Herrero[11] đưa ra một phân tích chi
tiết về quá trình cải cách ngân hàng tại Trung Quốc, cho thấy những thách thức
trong việc cải thiện chất lượng tài sản và vốn hóa ngân hàng, đồng thời nhấn
mạnh sự cần thiết của việc thay đổi chiến lược cải cách để đạt được thành công
lâu dài. Brehm[12] và Viên Thế Giang và Võ Thị
Mỹ Hương[13] lần lượt đề cập đến ngành
ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam trong việc hiện đại hóa ngân hàng sở hữu nhà
nước và các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng yếu, đồng thời chỉ ra sự cần thiết
của quản trị doanh nghiệp tốt hơn để thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Grittersová và Mahutga[14] phát triển lý thuyết tín
hiệu liên quan đến sở hữu ngân hàng nhà nước và sự minh bạch của hệ thống chính
trị, cho thấy việc giảm rào cản quy định là tín hiệu quan trọng để thu hút đầu
tư quốc tế.
Về điểm khác biệt, các nghiên cứu
khác nhau về khu vực nghiên cứu (ví dụ: Trung Quốc - quốc gia phát triển, và
Việt Nam - quốc gia đang phát triển). Các nghiên cứu như Brehm, García-Herrero
chủ yếu tập trung vào Trung Quốc, trong khi Miani và Daradkah[15] và Viên Thế Giang và Võ Thị
Mỹ Hương lần lượt tập trung vào các quốc gia cụ thể như Jordan và Việt Nam. Một
số nghiên cứu, chẳng hạn như Wright[16],
mở rộng phạm vi khái niệm chủ nghĩa tư bản nhà nước và nghiên cứu sự ảnh hưởng
của nó đến quản trị công ty, trong khi các nghiên cứu khác như Grittersová và
Mahutga lại tập trung vào mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và việc gia nhập
doanh nghiệp mới. Megginson và Liu[17]
tập trung vào sự phục hồi toàn cầu của sở hữu nhà nước và sự ảnh hưởng của
chính phủ đối với quản trị công ty, trong khi các nghiên cứu khác chủ yếu phân
tích cải cách và tái cấu trúc ngân hàng trong các quốc gia riêng biệt.
Tóm lại, các nghiên cứu đều nhìn
nhận vai trò của sở hữu nhà nước trong ngành ngân hàng từ các góc độ khác nhau,
với sự chú trọng đặc biệt vào cải cách, hiệu quả hoạt động và tác động của
chính phủ. Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu, bối cảnh quốc gia và phạm vi phân
tích khác nhau giữa các nghiên cứu này đã mang lại những kết quả và khuyến nghị
đa dạng.
Các nghiên cứu về quản lý vốn
nhà nước tại Việt Nam
Các nghiên cứu về quản lý vốn nhà
nước trong các doanh nghiệp tại Việt Nam đều tập trung vào việc phân tích và
cải thiện hiệu quả quản lý, nhưng mỗi nghiên cứu có điểm chung, điểm riêng và
nổi bật khác nhau.
Điểm chung của các nghiên cứu là
đều quan tâm đến việc đánh giá các vấn đề trong quản lý vốn nhà nước, bao gồm
cơ chế, pháp lý và tổ chức quản lý, cùng với những đề xuất cải cách như đổi mới
mô hình quản lý, tăng cường minh bạch và công khai thông tin. Các nghiên cứu sử
dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính, từ việc phân tích thực trạng
đến phỏng vấn chuyên gia.
Điểm riêng biệt của mỗi nghiên
cứu thể hiện qua đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu của Trần Xuân Long[18] tập trung vào vấn đề đại
diện chủ sở hữu vốn trong các doanh nghiệp sau cổ phần hóa và những vướng mắc
liên quan, như việc chưa thực hiện chuyển giao đúng quy định hay năng lực của
người đại diện vốn nhà nước. Trong khi đó, Mai Công Quyền[19]
đề xuất mô hình quản lý vốn nhà nước từ Singapore, tập trung vào việc tối đa
hóa lợi nhuận và giảm thiểu sự tham gia của các tổng công ty nhà nước. Nghiên
cứu của Nguyễn Thị Kim Đoan[20] phân tích thực trạng tại Đà
Nẵng, chỉ ra các yếu kém trong cơ chế, pháp lý và tổ chức quản lý của chính
quyền địa phương. Các nghiên cứu khác như Đỗ Phương Thảo[21]
nghiên cứu mô hình kiểm soát vốn tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản
Việt Nam, trong khi Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức[22]
lại chú trọng đến tác động của sở hữu tập trung đối với sự ổn định của ngân
hàng. Nghiên cứu Đào Chí Thành Nhân[23]
khác biệt khi tập trung vào đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị bằng
vốn nhà nước, đồng thời đề xuất các giải pháp cải thiện công tác quản lý nhà
nước trong lĩnh vực này. Nghiên cứu Nguyễn Minh Hạnh[24]
lại tập trung vào an ninh tài chính của các tập đoàn kinh tế có vốn nhà nước,
sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đo lường mối quan hệ giữa các yếu
tố tài chính và an ninh tài chính.
Điểm nổi bật của các nghiên cứu
là tính đổi mới trong phương pháp nghiên cứu và các giải pháp cải tiến. Nghiên
cứu Mai Công Quyền đề xuất mô hình Temasek từ Singapore, nghiên cứu Đỗ Phương
Thảo cung cấp phân tích định lượng chi tiết về kiểm soát vốn tại Tập đoàn Công
nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và nghiên cứu Đào Chí Thành Nhân đưa ra các
giải pháp toàn diện nhằm cải thiện công tác quản lý vốn nhà nước trong đầu tư
xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị. Nghiên cứu Võ Xuân Vinh và Mai Xuân
Đức làm nổi bật tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định của các ngân hàng,
còn nghiên cứu Nguyễn Minh Hạnh phân tích an ninh tài chính trong các tập đoàn
có vốn nhà nước, đóng góp một góc nhìn tài chính quan trọng cho quản lý vốn nhà
nước.
Bảng 5. Tóm tắt nghiên cứu về quản
lý vốn nhà nước tại Việt Nam
STT
Tác giả
Năm
Tên tài liệu
nghiên cứu
Thể loại
Lĩnh vực
Nơi xuất bản
1
Trần Xuân Long
2012
Hoàn thiện chính sách quản lý vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp sau
cổ phần hóa
Luận án
Kế hoạch và phát triển
Đại học kinh tế quốc dân
2
Mai Công Quyền
2015
Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các Tổng công ty 2 xây
dựng Nhà nước
Luận án
Quản lý kinh tế
Đại học kinh tế quốc dân
3
Nguyễn Thị Kim Đoan
2016
Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng
Luận án
Kế hoạch và phát triển
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
4
Vũ Thị Nhung
2017
Pháp luật về kiểm soát vốn tại
các doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước
Luận án
Luật học
Đại học Luật Hà Nội
5
Đỗ Phương Thảo
2017
Giải pháp hoàn thiện kiểm soát sử dụng vốn nhà nước tại Tập đoàn Công
nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Luận án
Quản lý kinh tế
Trường Đại học Thương mại
6
Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức
2020
Tác động của sở hữu tập trung
đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam
Bài báo
Tài chính Ngân hàng
Học viện Ngân hàng
7
Hồ Thị Hải
2020
Giám sát sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp theo pháp luật
Việt Nam hiện nay
Luận án
Luật học
Học viện khoa học xã hội
8
Phạm Tuấn Anh
2021
Trách nhiệm pháp lý của người
đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam
Luận án
Luật kinh tế
Đại học Luật Hà Nội
9
Vũ Ngọc Tuấn
2021
Cấu trúc sở hữu và hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nhà nước đầu tư tại Việt Nam
Luận án
Tài chính Ngân hàng
Đại học kinh tế quốc dân
10
Đào Chí Thành Nhân
2023
Quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô
thị bằng vốn nhà nước ở Việt Nam
Luận án
Quản lý công
Học viện hành chính Quốc gia
11
Nguyễn Minh Hạnh
2023
Đảm bảo an ninh tài chính của các tập đoàn kinh tế có vốn nhà nước ở
Việt Nam
Luận án
Tài chính Ngân hàng
Học viện Tài chính
Nguồn: Tác giả thống kê
3.4. Phân tích xu hướng nghiên cứu bằng phương pháp đồng trích dẫn
Hình 9 là kết quả phân tích đồng trích dẫn sau khi tiến hành các bước sàng lọc và nhúng dữ liệu đã xử lý vào VOS Viewer.
Cụm màu đỏ là nhóm các nghiên cứu
về tác động của sở hữu nhà nước và ảnh hưởng chính trị đến hành vi cho vay, rủi
ro, hiệu quả hoạt động, an toàn, ổn định và cạnh tranh của ngân hàng. Cụm màu
xanh lá là nhóm các nghiên cứu về mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và hành vi
chấp nhận rủi ro; Tính hiệu quả của quy định và giám sát ngân hàng. Cùm màu
xanh lam là nhóm các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sở hữu ngân hàng, tư nhân
hóa và hiệu quả hoạt động trong bối cảnh các quốc gia chuyển đổi; Vai trò của
phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Cụm màu vàng là nhóm các đo
lường hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua các mô hình phân tích phi tham số
và lý thuyết doanh nghiệp, đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu,
hành vi quản trị và hiệu quả chi phí và lợi nhuận. Cụm màu tím là nhóm các
nghiên cứu ảnh hưởng của mối quan hệ chính trị đến hoạt động của doanh nghiệp
trong các nền kinh tế chuyển đổi.
Bảng 6. Các
nghiên cứu tiêu biểu cho các cụm chủ đề theo phương pháp đồng trích dẫn
Cụm
Tác giả
Đỏ
Sapienza[25]
(2004); La Porta[26]
(2002); Dinç[27]
(2005); Lin và Zhang [28](2009);
Iannotta[29]
(2013); Laeven và Levine[30]
(2009); Beck[31]
(2013).
Berger[35]
(2009); Bonin[36]
(2005); Fries và Taci[37]
(2005); Bonin[38]
(2005b).
Vàng
Banker[39]
(1984); Ariff và Luc[40]
(2008); Jensen và Meckling[41]
(1976); Altunbas[42]
(2001)
Tím
Brandt và Li[43]
(2003); Faccio[44]
(2006)
Nguồn:
Tác giả thống kê
Hình 9. Phân tích đồng trích dẫn Nguồn: Tác giả trích xuất từ VOS Viewer
Từ hình 9 có thể thấy xu hướng
nghiên cứu liên ngành luật học và kinh tế là mảng chủ đề liên quan đến pháp
luật quản lý vốn nhà nước tại ngân hàng liên quan đến vai trò của tỷ lệ sở hữu,
ảnh hưởng chính trị đối với hiệu quả hoạt động, an toàn vốn và ổn định tài
chính, cạnh tranh và hành vi quản trị. Đặc biệt xu hướng nghiên cứu hướng trọng
tâm vào các nền kinh tế chuyển đổi, chẳng hạn Việt Nam.
IV. Đề xuất khoảng trống nghiên cứu liên ngành luật học – kinh tế tại Việt Nam
Hiến pháp 2013 của Việt Nam khẳng
định “nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo”[45]. Từ đây có thể thấy, vai
trò của sở hữu nhà nước trong chủ trương phát triển kinh tế được đặc biệt chú
trọng. Ngành ngân hàng nói chung, các NHTM nói riêng, với chức năng chính là
huy động vốn từ các chủ thể gửi tiền, sau đó cùng với vốn tự có, các NHTM thực
hiện cấp tín dụng cho các chủ thể cần tài trợ vốn để kinh doanh, đầu tư, tiêu
dùng… Từ đây, dòng vốn được quản lý và điều tiết theo chính sách tiền tệ của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nhằm đạt được các chỉ tiêu về tăng trưởng
kinh tế, ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát của chính phủ.
Song song đó, ngày 04/05/2025, Bộ
Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trong
đó khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế
quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao
năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với
kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây
dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu
rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên
phát triển thịnh vượng”[46]. Như vậy, có thể thấy, cùng
với xu thế phát triển, vai trò của các loại hình sở hữu trong xây dựng và phát
triển kinh tế cũng có sự thay đổi đáng kể. Nếu như kinh tế nhà nước giữ vai trò
“chủ đạo” thì kinh tế tư nhân đang được chú trọng với vai trò “nòng cốt”. Tuy
nhiên, trong lĩnh vực ngân hàng, theo pháp luật hiện hành, tỷ lệ sở hữu tối đa
của nhà đầu tư nước ngoài so với vốn điều lệ không vượt quá 30%, trừ trường hợp
Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài,
một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu
tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng cổ phần yếu kém, gặp khó khăn, chuyển
giao bắt buộc nhưng cũng không quá 49% so với vốn điều lệ[47].
Như vậy cơ sở để quy định ngưỡng sở hữu tối đa này giữa sở hữu nhà nước với sở
hữu tư nhân (bao gồm sở hữu tư nhân trong nước và nước ngoài) có dựa trên đặc
tính hiệu quả hoạt động, an toàn hệ thống, ổn định tài chính?
Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ còn
ban hành Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống
các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021- 2025” trong đó quan
điểm chính và các mục tiêu cụ thể đều gắn việc tăng trưởng kinh tế đi đôi với
an toàn, ổn định tài chính[48]. Như vậy, tỷ lệ sở hữu nhà
nước tại các NHTM có tác động đến an toàn hệ thống, ổn định tài chính? Và nếu
có thì tác động tích cực hay tiêu cực? Nguyên do từ đâu?
Bên cạnh đó, kể từ khi được công
bố chính thức vào năm 2010, phiên bản Basel III đã và đang được triển khai áp
dụng trên phạm vi thế giới và có nhiều thay đổi so với phiên bản ban đầu trong
việc quản lý về mức đủ vốn hay tỷ lệ an toàn vốn và quản lý rủi ro thanh khoản[49]. Nhưng hiện tại, pháp luật
quản lý về an toàn vốn của Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện và
hướng đến áp dụng một số phương pháp nâng cao của phiên bản Basel II đối với hệ
thống NHTM theo Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022 của chính phủ, Basel III chỉ
được khuyến khích nghiên cứu, áp dụng nhưng không bắt buộc nếu NHTM đáp ứng đủ
điều kiện về tài chính, nhân lực[50]. Mặt khác, các NHTM có tỷ
lệ sở hữu nhà nước lớn (sở hữu từ 65% vốn điều lệ trở lên) như Agribank,
Vietcombank, Vietinbank và BIDV, dù có mạng lưới và tổng tài sản khá lớn so với
các NHTM còn lại trong hệ thống nhưng thường xuyên phải đối mặt với khó khăn
trong việc tăng vốn điều lệ, cũng như tỷ lệ an toàn vốn[51].
Vậy nguyên nhân đến từ đâu?
Từ những phân tích tổng quan và
liên kết với các câu hỏi đặt ra ở trên, nhóm tác giả đề xuất chủ đề tiềm năng
trong nghiên cứu liên ngành luật học -
kinh tế là chủ đề nghiên cứu liên quan đến pháp luật quản lý vốn nhà nước tại
NHTM Việt Nam, trong đó tập trung đánh giá tác động vai trò của tỷ lệ sở hữu
đối với hiệu quả hoạt động, an toàn vốn, cạnh tranh và ổn định tài chính bằng
phương pháp định tính (luật học) và phương pháp định lượng (kinh tế). Kết quả
của nghiên cứu là cơ sở vững chắc nhằm đề xuất các kiến nghị xây dựng pháp luật
quản lý vốn nhà nước tại NHTM Việt Nam đảm bảo tính hiệu quả, ổn định và khách
quan. Có thể lý giải khoảng trống nghiên cứu này như sau:
Thứ nhất, về chủ đề nghiên cứu, trong 5 nghiên cứu có
trích dẫn nhiều nhất và 3 nghiên cứu có
trích dẫn nhiều nhất mỗi năm trong năm năm trở lại đây của thế giới, tồn tại
khoảng trống nghiên cứu khi chưa có nghiên cứu tổng hợp xem xét mối quan hệ tác
động của tỷ lệ sở hữu nhà nước đến hiệu quả hoạt động, an toàn vốn và ổn định
tài chính trong lĩnh vực ngân hàng tại quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, như
Việt Nam.
Thứ hai, về lĩnh vực nghiên cứu, trong 11 nghiên cứu
về quản lý vốn nhà nước tại Việt Nam, nghiên cứu chuyên ngành Luật học thì chỉ
nghiên cứu thực trạng pháp luật giám sát sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh
nghiệp ở Việt Nam, trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước các
nghiên cứu còn lại thuộc lĩnh vực kinh tế. Cụ thể, các nghiên cứu này hoặc là
nghiên cứu ở khu vực phi ngân hàng hoặc nếu nghiên cứu ở khu vực ngân hàng thì
chưa xem xét vai trò của tỷ lệ sở hữu nhà nước ở ba giác độ: hiệu quả hoạt
động, an toàn vốn và ổn định tài chính dưới sự điều chỉnh của pháp luật quản lý
vốn nhà nước.
Đề xuất chủ đề tiền năng trong
nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống ở giác độ nghiên cứu liên ngành: kết
hợp giữa lĩnh vực luật học với kinh tế (cụ thể là ngành ngân hàng).
V. Kết luận
Trong nghiên cứu tổng quan,
phương pháp trắc lượng thư mục là một trong những phương pháp được ứng dụng để
sàng lọc, thống kê và phân tích dữ liệu hiệu quả bởi tính khoa học, đảm bảo
tính đầy đủ, bao quát và đáng tin cậy. Chính vì vậy, ngoài cung cấp góc nhìn
tổng quan mang tính liên ngành giữa nghiên cứu luật học và kinh tế về chủ đề
vốn nhà nước tại ngân hàng ở phạm vi thế giới mà còn gợi mở khoảng trống nghiên
cứu liên quan đến chủ đề này tại Việt Nam thông qua xu hướng nghiên cứu mới
nổi. Đây chính là điểm mới và độc đáo trong nghiên cứu mà lĩnh vực nghiên cứu
khoa học xã hội cần quan tâm ứng dụng, đặc biệt là nghiên cứu luật học hoặc
liên ngành giữa luật học và các ngành khác.
Danh mục tài liệu tham khảo
Danh mục văn bản pháp luật
45. Hiến pháp 2013, Điều 51, Khoản 1
46. Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04 tháng 05 năm 2025, Mục I, Điều 1
47. Nghị định 69/2025/NĐ-CP, ngày 18 tháng 03 năm 2025 quy định về về việc
nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam
48. Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022, ngày 08 tháng 06 năm 2022, Mục I, Điều
1.
50. Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022, ngày 08 tháng 06 năm 2022, Mục III,
Điều 1, Điểm b
Sách
7. Robin Chin Roemer
& Rachel Borchardt, Meaningful
metrics: A 21st century librarian’s guide to bibliometrics, altmetrics, and
research impact (Amer Library Assn) (2015)
16. WRIGHT, M., WOOD, G. T.,
CUERVO-CAZURRA, A., SUN, P., OKHMATOVSKIY, I., & GROSMAN, A. (EDS.),The Oxford Handbook of State Capitalism and the Firm, https://doi.org/10.1093/oxfordhb/9780198837367.001.0001
17. MEGGINSON, W. L., & LIU,
X., State Ownership and Corporate
Governance The Oxford Handbook of
State Capitalism and the Firm 0,
https://doi.org/10.1093/oxfordhb/9780198837367.013.6
Luận án
18. Trần Xuân Long, “Hoàn thiện chính sách quản lý vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ
phần hóa”, (Luận án tiến sĩ kế hoạch và phát triển),
Đại học kinh tế quốc dân (2012).
19. Mai Công Quyền, “Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các Tổng
công ty 2 xây dựng Nhà nước”, (Luận án tiến sĩ quản lý kinh tế), Đại học kinh
tế quốc dân (2015).
20. Nguyễn Thị Kim Đoan, “Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà
nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, (Luận án tiến sĩ kế hoạch và phát triển),
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2016).
21. Đỗ Phương Thảo, “Giải pháp hoàn thiện kiểm soát sử dụng vốn nhà nước
tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam”, (Luận án tiến sĩ quản lý
kinh tế) Trường Đại học Thương mại (2017).
23. Đào Chí Thành Nhân, “Quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng hệ thống
cấp thoát nước đô thị bằng vốn nhà nước ở Việt Nam”, (Luận án tiến sĩ quản lý
công), Học viện hành chính Quốc gia (2023).
24. Nguyễn Minh Hạnh, “Đảm bảo an ninh tài chính của các tập đoàn kinh tế
có vốn nhà nước ở Việt Nam”, (Luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng), Học viện
Tài chính (2023).
Tạp chí
3. Fries. S & Anita Taci, Cost
efficiency of banks in transition: Evidence from 289 banks in 15 post-communist
countries, 29 Journal of Banking
& Finance 55–81 (2005),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426604001153
3.1. Berger et al., Bank ownership and efficiency in China: What will
happen in the world’s largest nation?, 33 Journal
of Banking & Finance 113–130 (2009),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426607003822
3.2. Alejandro Micco et al., Bank ownership and
performance. Does politics matter?, 31 Journal
of Banking & Finance 219–241 (2007), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426606001683.
3.3. Khanchel et al., Are political connections
a curse for banks of the MENA region? The moderating effect
of ownership structure, 20 International
Journal of Emerging Markets 387–406 (2025),
https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-85158889893&doi=10.1108%2FIJOEM-03-2022-0480&partnerID=40&md5=6cde19812cef5586e6391f480beffdf9
6. Alan Pritchard, Statistical bibliography
or bibliometrics, 25 Journal of
documentation 348 (1969)
8. Nguyễn Thanh Trà, Chỉ dẫn trích dẫn - một
sản phẩm của trắc lượng thư mục, Thông
tin và tư liệu 12–20 (2021),
https://vjol.info.vn/index.php/VJIAD/article/view/63417
9. Katherine W McCain, Mapping authors in
intellectual space: A technical overview, 41 Journal of the American Society for Information Science (1986-1998)
433 (1990).
10. Svetlana Andrianova et al., Government
ownership of banks, institutions, and financial development, 85 Journal of Development Economics 218–252
(2008), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304387806001362
11. Alicia García-Herrero et al., China’s
Banking Reform: An Assessment of its Evolution and Possible Impact, 52 CESifo Economic Studies 304–363 (2006), https://doi.org/10.1093/cesifo/ifl006
12. Stefan Brehm, Risk Management in China’s
State Banks - International Best Practice and the Political Economy of
Regulation, 10 Business and Politics
1–29 (2008), https://www.cambridge.org/core/product/6F08854A2E781355AD2FEE4AA9906447
13. Viên Thế Giang và Võ Thị Mỹ, Dealing with
Weak Commercial Banks in Restructuring the System of Credit Institutions in
Vietnam using Consolidation, Merger, and Acquisition: The Change from
Administrative Orders to Market Mechanisms, 18 WSEAS Transactions on Environment and Development 1239–1251
(2022),
https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-85143212254&doi=10.37394%2F232015.2022.18.116&partnerID=40&md5=0231b380e93353a718e1169c3a0eade6
14. Jana Grittersová & Matthew C Mahutga, Government
ownership of banks, political system transparency, and regulatory barriers to
new firm entry, 23 Journal of
International Relations and Development 781–813 (2020), https://doi.org/10.1057/s41268-019-00172-w
15. Stefano Miani & Demeh Daradkah, The
banking industry in Jordan, 15 Transition
Studies Review 171–191 (2008), https://doi.org/10.1007/s11300-008-0168-1
22. Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức, Tác động
của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các
ngân hàng Việt Nam, Tạp chí Khoa học
& Đào tạo Ngân hàng 1–13 (2020)
25. Sapienza. P, The effects of government
ownership on bank lending, 72 Journal
of Financial Economics 357–384 (2004),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304405X03002459
26. La Porta. R. et al., Government ownership
of banks, 57 The journal of finance
265–301 (2002)
27. Dinç. S.I., Politicians and banks:
Political influences on government-owned banks in emerging markets, 77 Journal of financial economics 453–479
(2005)
28. Lin. X & Zhang.Y, Bank ownership
reform and bank performance in China, 57. Journal of Banking & Finance 20–29 (2009)
29. Iannotta.G., et al., The impact of
government ownership on bank risk, 22 Journal
of Financial intermediation 152–176 (2013)
30. Laeven. L & Ross Levine, Bank
governance, regulation and risk taking, 93 Journal
of Financial Economics 259–275 (2009),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304405X09000816
31. Beck. T., et al., Bank competition and
stability: Cross-country heterogeneity, 22 Journal
of financial Intermediation 218–244 (2013)
32. Dong. Y., et al., Ownership
structure and risk-taking: Comparative evidence from private and
state-controlled banks in China, 36 International
Review of Financial Analysis 120–130 (2014),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1057521914000465
33. Barth. J.R., et al., Bank regulation and
supervision: what works best?, 13 Journal
of Financial intermediation 205–248 (2004)
34. Levine. R., Financial development and
economic growth: views and agenda, 55 Journal of economic literature 688–726
(1997)
35. Berger et al., Bank
ownership and efficiency in China: What will happen in the world’s largest
nation?, 33 Journal of Banking &
Finance 113–130 (2009),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426607003822
36. Bonin. J.P., et al., Bank
performance, efficiency and ownership in transition countries, 29 Journal of Banking and Finance 31–53
(2005), https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-8644251413&doi=10.1016%2Fj.jbankfin.2004.06.015&partnerID=40&md5=b6345904d21fe86076f406e98189501e
37. Steven Fries & Anita Taci, Cost
efficiency of banks in transition: Evidence from 289 banks in 15 post-communist
countries, 29 Journal of Banking
& Finance 55–81 (2005),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426604001153.
38. Bonin.J.P., et al., Privatization
matters: Bank efficiency in transition countries, 29 Journal of Banking & Finance
2155–2178 (2005)
39. Banker.R.D., et al., Some models for estimating technical and scale inefficiencies in data
envelopment analysis, 30 Management
science 1078–1092 (1984)
40. Ariff. M & Can Luc, Cost and profit
efficiency of Chinese banks: A non-parametric analysis, 19 China economic review 260–273 (2008)
41. Jensen. M.C., &
Meckling.W.H., Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and
ownership structure, 3 Journal of
financial economics 305–360 (1976)
42. Altunbas.Y., et al., Bank ownership and
efficiency, Journal of money, credit
and banking 926–954 (2001)
43. Brandt.L & Hongbin Li, Bank
discrimination in transition economies: ideology, information, or incentives?,
31 Journal of comparative economics
387–413 (2003)
49. Lê Phan Thị Diệu Thảo & Lê Hữu Nghĩa, Chuẩn
mực an toàn vốn theo Basel III: tình hình triển khai trên thế giới và một số
vấn để cho ngân hàng thương mại tại Việt Nam, 2 Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ 32–41 (2024).
Website
1. Duy Bắc, Bóng ma vụ sụp đổ ngân hàng khu
vực năm ngoái vẫn ám ảnh ngành ngân hàng Mỹ, Đầu tư chứng khoán (07-12-2025), https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/bong-ma-vu-sup-do-ngan-hang-khu-vuc-nam-ngoai-van-am-anh-nganh-ngan-hang-my-post338894.html
5. Lâm Chí
Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh, Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh
lời và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng (07-12-2025), https://tapchinganhang.gov.vn/tac-dong-cua-cau-truc-so-huu-den-kha-nang-sinh-loi-va-rui-ro-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-12273.html.
2. Gia Hưng, Ngân hàng TPHCM trong dòng chảy
sáp nhập và đổi mới, Kinh tế Sài Gòn
Online (07-12-2025), https://thesaigontimes.vn/ngan-hang-tphcm-trong-dong-chay-sap-nhap-va-doi-moi/.
4. Lê Hoài Ân và Võ Nhật Anh, Chuyển dịch
chiến lược của ngân hàng Trung Quốc và bài học cho Việt Nam, Kinh tế Sài Gòn Online (07-12-2025), https://thesaigontimes.vn/chuyen-dich-chien-luoc-cua-ngan-hang-trung-quoc-va-bai-hoc-cho-viet-nam/
51. Hà Thành, Tăng vốn cho các ngân hàng thương mại nhà nước: Việc làm cần thiết, Thời Báo Ngân Hàng (23-06-2025), https://thoibaonganhang.vn/tang-von-cho-cac-ngan-hang-thuong-mai-nha-nuoc-viec-lam-can-thiet-121126.html; Nguyễn Vũ, Cần thiết sửa cơ chế tăng vốn cho Big 4 để phát huy vai trò “sếu đầu đàn”, Tạp Chí Thị Trường Tài Chính Tiền Tệ (23-06-2025) https://thitruongtaichinhtiente.vn/can-thiet-sua-co-che-tang-von-cho-big-4-de-phat-huy-vai-tro-seu-dau-dan-63971.html
[*] NCS Luật Kinh tế, Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM, Email: nghiale.923102200019@st.ueh.edu.vn, ngày duyệt đăng 31/12/2025
[**] TS, Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM. Email: anhluatkt@ueh.edu.vn
[1] Duy Bắc, Bóng ma vụ
sụp đổ ngân hàng khu vực năm ngoái vẫn ám ảnh ngành ngân hàng Mỹ. Đầu tư
chứng khoán (07-12-2025), https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/bong-ma-vu-sup-do-ngan-hang-khu-vuc-nam-ngoai-van-am-anh-nganh-ngan-hang-my-post338894.html
[2] Gia Hưng, Ngân hàng
TPHCM trong dòng chảy sáp nhập và đổi mới. Kinh tế Sài Gòn Online (07-12-2025), https://thesaigontimes.vn/ngan-hang-tphcm-trong-dong-chay-sap-nhap-va-doi-moi/.
[3] Steven Fries & Anita Taci, Cost
efficiency of banks in transition: Evidence from 289 banks in 15 post-communist
countries, 29 Journal of Banking
& Finance 55–81 (2005),
https://www.semanticscholar.org/paper/Cost-Efficiency-of-Banks-in-Transition%3A-Evidence-in-Fries-Taci/f09ec04d53c7f67db19bc8d3ed7e1bccc393f92f
Allen N Berger et al., Bank ownership and efficiency in China: What
will happen in the world’s largest nation?, 33 Journal of Banking & Finance 113–130 (2009),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426607003822.
Alejandro Micco et
al., Bank ownership and performance. Does politics matter?, 31 Journal of Banking & Finance 219–241
(2007), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426606001683.
Khanchel et al., Are political connections a curse for banks of the
MENA region? The moderating effect of ownership structure, 20 International Journal of Emerging Markets
387–406 (2025),
https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-85158889893&doi=10.1108%2FIJOEM-03-2022-0480&partnerID=40&md5=6cde19812cef5586e6391f480beffdf9
[4] Lê Hoài Ân và Võ Nhật
Anh, Chuyển dịch chiến lược của ngân hàng Trung Quốc và bài học cho Việt Nam.
Kinh tế Sài Gòn Online
(07-12-2025), https://thesaigontimes.vn/chuyen-dich-chien-luoc-cua-ngan-hang-trung-quoc-va-bai-hoc-cho-viet-nam/
[5] Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm
Trinh, Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của các
ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng (07-12-2025), https://tapchinganhang.gov.vn/tac-dong-cua-cau-truc-so-huu-den-kha-nang-sinh-loi-va-rui-ro-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-12273.html.
[6]
Pritchard Alan, Statistical bibliography or bibliometrics, 25 Journal of documentation 348 (1969)
[7] Robin
Chin Roemer & Rachel Borchardt, Meaningful
metrics: A 21st century librarian’s guide to bibliometrics, altmetrics, and
research impact (Amer Library Assn) (2015)
[8] Nguyễn
Thanh Trà, Chỉ dẫn trích dẫn - một sản phẩm của trắc lượng thư mục, Thông tin và tư liệu 12–20 (2021),
https://vjol.info.vn/index.php/VJIAD/article/view/63417
[9] Katherine W McCain, Mapping authors in
intellectual space: A technical overview, 41 Journal of the American Society for Information Science (1986-1998)
433 (1990).
[10] Svetlana Andrianova et al., Government
ownership of banks, institutions, and financial development, 85 Journal of Development Economics 218–252
(2008), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304387806001362
[11] Alicia García-Herrero et al., China’s
Banking Reform: An Assessment of its Evolution and Possible Impact, 52 CESifo Economic Studies 304–363 (2006),
https://doi.org/10.1093/cesifo/ifl006
[12] Stefan Brehm, Risk Management in China’s
State Banks - International Best Practice and the Political Economy of
Regulation, 10 Business and Politics
1–29 (2008),
https://www.cambridge.org/core/product/6F08854A2E781355AD2FEE4AA9906447
[13] Viên
Thế Giang và Võ Thị Mỹ, Dealing with Weak Commercial Banks in Restructuring
the System of Credit Institutions in Vietnam using Consolidation, Merger, and
Acquisition: The Change from Administrative Orders to Market Mechanisms, 18
WSEAS Transactions on Environment and
Development 1239–1251 (2022),
https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-85143212254&doi=10.37394%2F232015.2022.18.116&partnerID=40&md5=0231b380e93353a718e1169c3a0eade6
[14] Jana Grittersová & Matthew C Mahutga, Government
ownership of banks, political system transparency, and regulatory barriers to
new firm entry, 23 Journal of
International Relations and Development 781–813 (2020),
https://doi.org/10.1057/s41268-019-00172-w
[15] Stefano Miani & Demeh Daradkah, The
banking industry in Jordan, 15 Transition
Studies Review 171–191 (2008), https://doi.org/10.1007/s11300-008-0168-1
[16] WRIGHT, M., WOOD, G. T., CUERVO-CAZURRA, A.,
SUN, P., OKHMATOVSKIY, I., & GROSMAN, A. (EDS.), The Oxford Handbook of State
Capitalism and the Firm,
https://doi.org/10.1093/oxfordhb/9780198837367.001.0001
[17] MEGGINSON, W. L., & LIU, X., State Ownership and Corporate Governance
The Oxford Handbook of State Capitalism
and the Firm 0, https://doi.org/10.1093/oxfordhb/9780198837367.013.6
[18] Trần Xuân Long, Hoàn thiện chính sách quản lý
vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa, (Luận án tiến sĩ kế hoạch
và phát triển), Đại học kinh tế quốc dân (2012).
[19] Mai Công Quyền, Quản lý của Nhà nước đối với
vốn Nhà nước tại các Tổng công ty 2 xây dựng Nhà nước, (Luận án tiến sĩ quản lý
kinh tế), Đại học kinh tế quốc dân (2015).
[20] Nguyễn Thị Kim Đoan, Quản lý vốn
Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, (Luận án
tiến sĩ
kế hoạch và phát triển), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2016).
[21] Đỗ Phương Thảo, Giải pháp hoàn
thiện kiểm soát sử dụng vốn nhà nước tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản
Việt Nam, (Luận án tiến sĩ quản lý kinh tế) Trường Đại học Thương mại(2017).
[22] Võ
Xuân Vinh và Mai Xuân Đức , Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định
ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
1–13 (2020)
[23] Đào Chí Thành Nhân, Quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng hệ
thống cấp thoát nước đô thị bằng vốn nhà nước ở Việt Nam, (Luận án tiến sĩ quản lý công),
Học viện hành chính Quốc gia (2023).
[24] Nguyễn Minh Hạnh, Đảm bảo an ninh
tài chính của các tập đoàn kinh tế có vốn nhà nước ở Việt Nam, (Luận án tiến sĩ tài chính ngân
hàng), Học viện Tài chính (2023).
[25] Sapienza. P, The effects of government ownership on bank lending,
72 Journal of Financial Economics
357–384 (2004),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304405X03002459
[26] La Porta. R. et al., Government ownership of banks, 57 The journal of finance 265–301 (2002)
[27] Dinç. S.I., Politicians and banks: Political influences on
government-owned banks in emerging markets, 77 Journal of financial economics 453–479 (2005)
[28] Lin. X & Zhang.Y, Bank ownership reform and bank performance in
China, 57. Journal of
Banking & Finance 20–29 (2009)
[29] Iannotta.G., et al., The impact of government ownership on bank
risk, 22 Journal of Financial
intermediation 152–176 (2013)
[30] Laeven. L & Ross Levine, Bank governance, regulation and risk
taking, 93 Journal of Financial
Economics 259–275 (2009),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304405X09000816
[31] Beck. T., et al., Bank competition and stability: Cross-country
heterogeneity, 22 Journal of
financial Intermediation 218–244 (2013)
[32] Dong. Y., et al., Ownership structure and risk-taking: Comparative
evidence from private and state-controlled banks in China, 36 International Review of Financial Analysis
120–130 (2014),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1057521914000465
[33] Barth. J.R., et al., Bank regulation and supervision: what works
best?, 13 Journal of Financial
intermediation 205–248 (2004)
[34] Levine. R., Financial development and economic growth: views and
agenda, 55 Journal of economic literature
688–726 (1997)
[35] Berger et al., Bank ownership and efficiency in China: What will
happen in the world’s largest nation?, 33 Journal
of Banking & Finance 113–130 (2009),
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426607003822
[36] Bonin. J.P., et al., Bank performance, efficiency and ownership in
transition countries, 29 Journal of
Banking and Finance 31–53 (2005),
https://www.scopus.com/inward/record.uri?eid=2-s2.0-8644251413&doi=10.1016%2Fj.jbankfin.2004.06.015&partnerID=40&md5=b6345904d21fe86076f406e98189501e
[37] Steven Fries & Anita Taci, Cost efficiency of banks in
transition: Evidence from 289 banks in 15 post-communist countries, 29 Journal of Banking & Finance 55–81
(2005), https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378426604001153.
[38] Bonin.J.P., et al., Privatization matters: Bank efficiency in
transition countries, 29 Journal of
Banking & Finance 2155–2178 (2005)
[39] Banker.R.D., et al., Some models for estimating technical and scale
inefficiencies in data envelopment analysis, 30 Management science 1078–1092 (1984)
[40] Ariff. M & Can Luc, Cost and profit efficiency of Chinese
banks: A non-parametric analysis, 19 China
economic review 260–273 (2008)
[41] Jensen. M.C., & Meckling.W.H., Theory of the firm: Managerial
behavior, agency costs and ownership structure, 3 Journal of financial economics 305–360 (1976)
[42] Altunbas.Y., et al., Bank ownership and efficiency, Journal of money, credit and banking
926–954 (2001)
[43] Brandt.L & Hongbin Li, Bank discrimination in transition
economies: ideology, information, or incentives?, 31 Journal of comparative economics 387–413
(2003)
[46] Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04
tháng 05 năm 2025, Mục I, Điều 1.
[47] Nghị định 69/2025/NĐ-CP, ngày 18
tháng 03 năm 2025, Điều 1, Khoản 5, Khoản 7.
[48] Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022,
ngày 08 tháng 06 năm 2022, Mục I, Điều 1.
[49] Lê
Phan Thị Diệu Thảo và Lê Hữu Nghĩa, Chuẩn mực an toàn vốn theo Basel III:
tình hình triển khai trên thế giới và một số vấn để cho ngân hàng thương mại
tại Việt Nam, 2 Tạp chí Thị trường
Tài chính Tiền tệ 32–41 (2024).
[50] Quyết định 689/QĐ-TTg năm 2022,
ngày 08 tháng 06 năm 2022, Mục III, Điều 1, Điểm b.
[51] Hà Thành, Tăng vốn cho các ngân hàng
thương mại nhà nước: Việc làm cần thiết, Thời Báo Ngân Hàng (23-06-2025), https://thoibaonganhang.vn/tang-von-cho-cac-ngan-hang-thuong-mai-nha-nuoc-viec-lam-can-thiet-121126.html; Nguyễn Vũ, Cần thiết sửa cơ chế tăng vốn cho Big 4 để
phát huy vai trò “sếu đầu đàn”, Tạp Chí
Thị Trường Tài Chính Tiền Tệ (23-06-2025), https://thitruongtaichinhtiente.vn/can-thiet-sua-co-che-tang-von-cho-big-4-de-phat-huy-vai-tro-seu-dau-dan-63971.html
(PLPT) - Bài viết chỉ ra một số vấn đề vấn đề trong pháp luật Việt Nam cần phải điều chỉnh và hoàn thiện để ứng dụng chứng khoán hóa vào việc phát triển hạ tầng giao thông tại Việt Nam.
(PLPT) - Bài viết nêu một số hàm ý pháp lý cho Việt Nam trong quá trình áp dụng Công ước của Liên Hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm (Công ước Viên 1980 – CISG)
(PLPT) - Bài viết sẽ gợi mở việc ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh thỏa thuận này, hướng đến sự cân bằng lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động nói riêng và lợi ích của thị trường lao động nói chung, trong đó, tham khảo một số kinh nghiệm có liên quan từ Trung Quốc.
(PLPT) - Bài viết phân tích một số khía cạnh pháp lý về tên doanh nghiệp trong quá trình thành lập doanh nghiệp, quản lý nhà nước đối với tên doanh nghiệp trong Luật đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014 tại Singapore.
(PLPT) - “Tính bền vững” đang trở thành khái niệm thời thượng trong diễn ngôn toàn cầu, song thường bị nhầm lẫn với “phát triển bền vững”. Trên nền tảng cốt lõi sinh thái của tính bền vững, bài viết lý giải lịch sử hình thành, cơ sở lý luận và gợi mở các nguyên lý thiết kế hệ thống quản trị hiện đại nhằm bảo đảm tính bền vững sinh thái.