Tầm nhìn

Đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV: Bước tiến mới và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay

Trương Hồng Quang* Thứ sáu, 24/04/2026 - 17:25

(PLPT) Đổi mới quản trị quốc gia là tư duy lý luận mới chính thức được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và tiếp tục được khẳng định, phát triển trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Bài viết phân tích những nội dung cốt lõi về đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh mới. Các giải pháp của bài viết tập trung cụ thể hóa tinh thần của Đại hội lần thứ XIV của Đảng để tiếp tục đổi mới mô hình quản trị, phá

Quan niệm về quản trị quốc gia

Thuật ngữ “quản trị quốc gia” (đôi khi được gọi là “quản trị công”, “quản trị nhà nước”) ở Việt Nam bắt nguồn từ thuật ngữ governance/public governance trong tiếng Anh[1]. Trong thực tế, governance là một thuật ngữ chủ yếu gắn với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước (quản trị quốc gia/quản trị nhà nước). Đối với quản trị quốc gia, có nghiên cứu chia thành quản trị ở cấp độ toàn quốc (national governance) và quản trị ở cấp địa phương (local governance), trong đó mặc dù chia sẻ những nguyên tắc chung nhưng ở mỗi cấp có một số đặc trưng riêng.

Quản trị quốc gia xuất hiện mang tính tất yếu, ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước, ban đầu được coi là phương thức quản lý xã hội của Nhà nước (phương thức cai trị). Nhà nước, quản trị quốc gia luôn vận động, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, đáp ứng các yêu cầu của xã hội. Ngày nay, quản trị quốc gia không còn là phương thức quản lý của Nhà nước (phương thức tổ chức thực hiện quyền lực xã hội của Nhà nước) mà là một cơ chế vận hành quyền lực xã hội, trong đó có sự phân bổ lại quyền lực xã hội đang tập trung ở Nhà nước sang các chủ thể khác là xã hội, người dân và thị trường cùng nhau thực hiện để đạt được mục tiêu phát triển toàn diện quốc gia.[2] Cơ chế quản trị đặc trưng bởi sự tham gia, phối hợp và hợp tác của nhiều chủ thể khác nhau trong xây dựng và thực thi chính sách, khác biệt với cách thức quản lý mang tính chỉ đạo đơn phương, mệnh lệnh trước đây.[3] Có thể thấy quản lý nhà nước, quản trị nhà nước/quản trị quốc gia là vấn đề thể chế, là sự biểu hiện của thể chế. Hiệu quả quản trị quốc gia chính là thước đo tác động của thể chế. Một đất nước muốn giàu mạnh thì cần phải được quản trị theo cách thức tiên tiến, vì “thể chế tiến bộ sẽ mở đường cho đất nước phát triển”.[4]

Tựu trung lại, có thể hiểu quản trị quốc gia là phương thức vận hành, quản lý xã hội bằng thể chế, luật lệ, cơ chế, quy trình, trên cở sở sự tương tác, phối hợp dân chủ giữa các chủ thể nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng, ban hành, thực thi pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền, lợi ích của các chủ thể và tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực quốc gia.[5] Tại Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng đối với quản trị quốc gia là một tất yếu khách quan, là điều kiện để quản trị quốc gia đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với tầm nhìn, định hướng mà Đảng xác định, tầm nhìn quản trị quốc gia từ đó đã được minh định. Nhà nước là chủ thể quan trọng nhất quan trọng nhất, có ý nghĩa quan trọng quyết định đối với hiệu quả quản trị quốc gia.[6] Đổi mới quản trị quốc gia phải hướng đến đổi mới tư duy quản lý nhà nước theo mô hình quản trị, phát triển mới với nòng cốt là tính minh bạch, hiệu lực và hiệu quả.

Bước tiến mới về đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV

Thứ nhất, trong lịch sử, tuy chưa được đề cập một cách trực tiếp, song một số nguyên tắc của quản trị quốc gia tốt đã được đề cập trong nhiều Văn kiện do Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành kể từ khi Đổi mới (1986), trong đó đáng kể nhất là các nguyên tắc pháp quyền; công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; sự tham gia của Nhân dân vào quản lý nhà nước… Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng lần đầu tiên chính thức sử dụng thuật ngữ “quản trị quốc gia”, thể hiện việc chuyển tư duy từ quản lý sang quản trị quốc gia, theo đó “đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả”.[7] Đây có thể xem là một sự phát triển mới về mặt lý luận của Đảng. Sự phát triển đó cũng phù hợp với xu hướng chung, mang tính quy luật trên thế giới, gắn liền với quá trình dân chủ hoá, toàn cầu hoá, và sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, trong thế kỷ XXI.

Thứ hai, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng[8] đã tiếp tục khẳng định và phát triển vấn đề đổi mới quản trị quốc gia trong bối cảnh mới của đất nước

Trong quá trình xây dựng Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhận định: “Nếu tư duy của chúng ta chậm hơn thực tiễn thì văn kiện sẽ lạc hậu ngay khi vừa thông qua”.[9] Đổi mới lần này, theo Đồng chí Tổng bí thư, không chỉ là đổi mới kinh tế, mà là đổi mới tư duy lãnh đạo và cách quản trị đất nước: Từ “quản lý” sang “phục vụ”, từ “xin - cho” sang “kiến tạo”, từ “ra lệnh” sang “đối thoại và giải trình”. Đó chính là bản chất của quản trị hiện đại - một chính quyền hành động dựa trên pháp luật minh bạch, dữ liệu tin cậy, hạ tầng số và đội ngũ cán bộ liêm chính. Giai đoạn tới đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, với cải cách đủ sâu, đủ mạnh, đủ quyết liệt.[10]

Trên cơ sở đó, Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh định hướng đổi mới quản trị quốc gia, theo đó “xây dựng hệ thống quản lý nhà nước, quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, phục vụ và kiến tạo phát triển, xây dựng chính phủ số, chính quyền số”[11] và “xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả”[12]. Các quan điểm về đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục kế thừa và phát huy tinh thần của Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và bổ sung những định hướng cụ thể gắn với bối cảnh mới của đất nước.

Một là, đổi mới nói chung và đổi mới quản trị quốc gia nói riêng trở thành mệnh lệnh chính trị quan trọng trong giai đoạn tới

Đổi mới quản trị quốc gia trong bối cảnh nước ta hiện nay là quá trình chuyển dịch mạnh mẽ từ quản lý thụ động sang quản lý, quản trị chủ động, tích cực, sáng tạo, thông suốt và hiệu quả[13]. Nhà nước chuyển mạnh mẽ từ vai trò quản lý, điều hành sang vai trò định hướng, kiến tạo các điều kiện, không gian cho sự phát triển, “chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn để quản lý và tăng cường kiểm tra, giám sát”.[14]Đồng thời, “mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”[15].

Trên cơ sở các hạn chế, yếu kém thời gian qua Đảng ta chỉ đạo cần tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; đoàn kết thống nhất; vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả tổ chức bộ máy mới của hệ thống chính trị; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước[16]. Đồng thời, Đại hội XIV cũng yêu cầu cần thể chế hoá, cụ thể hoá và thực hiện có hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị, nhất là đối với Nhà nước, gắn liền với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực quản lý, quản trị quốc gia và kiến tạo phát triển của Nhà nước…[17]

Hai là, gắn đổi mới quản trị quốc gia với quản trị phát triển

Quản trị phát triển là thuật ngữ lần đầu tiên được đề cập trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Đảng ta nhận định Việt Nam là điểm sáng được thế giới đánh giá cao về an toàn và ổn định xã hội; đột phá về tư duy, tầm nhìn, có cách làm mới trong lãnh đạo và quản trị phát triển, thể hiện bản lĩnh vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, chủ động nắm bắt thời cơ, kiến tạo phát triển, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn mới của đất nước.[18] Thời gian tới, cần “tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, khả thi, ổn định để tạo lập nền tảng cho hệ thống quản lý, quản trị phát triển hiện đại...”.[19] Đồng thời, Đại hội XIV cũng xác định “đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, quản trị phát triển giữa Trung ương và địa phương, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương…”.[20] Bên cạnh đó, Đảng ta cũng khuyến khích các mô hình, cách làm sáng tạo trong quản trị phát triển cộng đồng bền vững[21]. Có thể thấy, quản trị phát triển là tư duy lý luận mới của Đảng ta, gắn bó mật thiết với quá trình đổi mới quản trị quốc gia. Trong đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là cơ sở tạo lập nền tảng cho hệ thống quản trị phát triển hiện đại đồng thời cần chú trọng đẩy mạng quản trị phát triển giữa Trung ương và địa phương và quản trị phát triển cộng đồng bền vững.

Ba là, đổi mới quản trị quốc gia cần tiếp tục nâng cao hiệu quả cải cách hành chính theo hướng toàn diện

- Tập trung cải cách thể chế để tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông cho sự phát triển bền vững, tạo nền tảng cho đổi mới, sáng tạo. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng yêu cầu “tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, khả thi, ổn định”.[22]Đảng ta xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIV là tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm sự đồng bộ, hài hoà giữa tăng trưởng và phát triển; giữa kinh tế, xã hội, môi trường với quốc phòng, an ninh, đối ngoại; giữa đổi mới, hoàn thiện thể chế với các chuyển đổi trọng tâm, toàn diện trên mọi lĩnh vực, phù hợp với mô hình chính quyền 3 cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.[23]Đồng thời, một trong những nội dung đột phá của nhiệm kỳ Đại hội XIV là đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực.[24]

- Tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và ủy quyền. Đại hội XIV yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế, mối quan hệ công tác giữa các cấp chính quyền.[25] Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”[26]. Đồng thời, một trong những nội dung đột phá của nhiệm kỳ Đại hội XIV là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, quản trị phát triển giữa trung ương và địa phương, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương.[27] Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền là nội dung, giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị. Theo đó, Đại hội XIV yêu cầu tiếp tục hoàn thiện việc vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, khai thác hiệu quả không gian phát triển, phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, vùng phù hợp với đặc thù từng địa bàn, gắn với yêu cầu phát triển vùng, liên kết vùng.[28] Bên cạnh đó, cần “tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, uỷ quyền một cách khoa học, hợp lý, đi đôi với nâng cao trách nhiệm, gắn với bảo đảm nguồn lực, phù hợp với năng lực thực hiện nhiệm vụ”[29]. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát; bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của địa phương.[30]

- Việc cải cách bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng không chỉ là sắp xếp mô hình cơ cấu mà còn là thay đổi mô hình quản trị, phương pháp quản trị. Trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là mô hình tổ chức hành chính mới, mà còn là “Phương thức quản trị địa phương mới”; phải xác định đây là một cuộc cải cách về quản trị, bảo đảm nguyên tắc cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi, đồng thời lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo cuối cùng... Chỉ dẫn này rất quan trọng để nhìn nhận đúng bản chất, giá trị và cả những đòi hỏi của mô hình mới.[31]

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là một nội dung trong đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực. Đại hội XIV yêu cầu “xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thực sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước.[32]

Bốn là, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là công cụ nền tảng để đổi mới quản trị quốc gia[33]

Quản trị trong thời đại số phải gắn liền với quản trị 4.0, dựa trên dữ liệu, nền tảng số, là động lực quan trọng để tạo nền tảng, tiền đề cho sự phát triển quốc gia. Theo đó, cần thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển;[34] chủ động tiếp cận nhanh và khai thác có hiệu quả cơ hội và thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.[35] Chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà là sự thay đổi toàn diện về mô hình tổ chức và quy trình vận hành. Mục tiêu là xây dựng chính phủ số, chính quyền số để nâng cao tính minh bạch và hiệu quả. Đồng thời, quản trị phải dựa trên dữ liệu và kết nối liên thông giữa các vùng, các ngành, các địa phương, từ đó nâng cao năng lực và hiệu quả quản trị. Đảng cũng chủ trương xây dựng, nuôi dưỡng văn hoá đổi mới sáng tạo.[36] Việc đổi mới sáng tạo cần được thể hiện trên mọi lĩnh vực, trong đó có quản trị nhà nước. Tư duy quản trị phải là tư duy mở, sẵn sàng thay đổi để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội.

Những vấn đề đặt ra khi cụ thể hóa yêu cầu về đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng

Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã thể hiện rõ khát vọng vươn lên mạnh mẽ, tư duy đổi mới toàn diện và quyết tâm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đồng thời khơi dậy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Đây chính là nền tảng quan trọng để định hình mô hình phát triển mới, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và tạo động lực đưa Việt Nam tiến nhanh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên mới của dân tộc[37]. Trên cơ sở các định hướng, quan điểm của Đảng về đổi mới quản trị quốc gia trongVăn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, có thể khái quát một số vấn đề đặt ra khi cụ thể hóa trong thực tiễn như sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế để phản ánh đầy đủ tư duy đổi mới về quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng

Một là, về nguyên tắc pháp quyền: cần chuyển từ quan điểm hẹp Nhà nước pháp quyền sang pháp quyền, thượng tôn pháp luật như là một tôn chỉ, nền tảng vận hành của toàn xã hội. Nhà nước pháp quyền cũng phải được củng cố bằng các cơ chế hữu hiệu và hiệu quả thay vì những quy định pháp luật mang tính hình thức. Trong đó, hai yếu tố cơ bản, thậm chí là quan trọng nhất của pháp quyền là sự độc lập của Toà án và chất lượng của pháp luật với tư cách là nền tảng của pháp quyền về mặt nội dung.[38]

Hai là, về trách nhiệm giải trình: cần tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà nước, quản trị quốc gia, giúp xác lập các cơ sở khoa học, định hướng cho việc hoàn thiện trách nhiệm giải trình trên nhiều phương diện, nhất là thực hiện hiệu quả pháp luật về trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trên thực tế.

Ba là, về sự tham gia của công chúng vào quản trị nhà nước, quản trị quốc gia: bối cảnh phức tạp của xã hội hậu công nghiệp, cần phải sự chung tay của nhiều chủ thế khác nhau, đặc biệt là cần huy động sự tham gia tích cực của các chủ thể phi nhà nước. Cần hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của hội theo hướng giảm bớt sự can thiệp từ cơ quan công quyền, tôn trọng và bảo đảm tính tự quản của các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội cần được nhìn nhận là đối tác phát triển của Nhà nước.

Bốn là, về phòng, chống tham nhũng: quản trị tốt và phòng, chống tham nhũng như hai mặt của một vấn đề, tác động qua lại lại lẫn nhau. Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay. Cần tiếp tục đẩy mạnh việc công bố thông tin trên cổng thông tin điện tử, ứng dụng công nghệ số; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản, thu nhập để phục vụ công tác kiểm soát và nghiên cứu áp dụng các biện pháp kiểm soát tài sản, thu nhập theo hướng chặt chẽ, hiệu quả hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế.[39]

Năm là, hiệu lực và hiệu quả: cần sử dụng các tiêu chí định lượng của kinh tế học, quản trị học vào trong hoạt động công, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ công. Theo đó, dịch vụ công không chỉ dựa trên tiêu chí “bảo đảm lợi ích chung” mà còn phải đáp ứng tiêu chí hiệu quả.

Thứ hai, tiếp tục cụ thể hoá các quan điểm, yêu cầu về cải cách hành chính nhà nước

Trong thời gian tới cần tiếp tục thực hiện các giải pháp cụ thể hơn để thể chế hoá quan điểm về đổi mới quản trị quốc gia vào xác định mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn 2026-2030. Một số nội dung trọng tâm bao gồm: tiếp tục cải cách bộ máy, tổ chức của hệ thống chính trị; thúc đẩy phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương; xây dựng cơ sở dữ liệu số sau sáp nhập; hoàn thiện cơ chế chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương với chính quyền trung ương; hoàn thiện cơ chế đặc thù cho các đô thị đặc biệt; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh…[40] Đồng thời, vai trò kiến tạo phát triển của Chính phủ, các địa phương cũng cần được cụ thể hoá làm cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách, pháp luật và mô hình quản trị, vận hành trong quản trị quốc gia. Cần xây dựng các mô hình, giải pháp cụ thể để triển khai thực hiện các định hướng, yêu cầu về đổi mới quản trị quốc gia gắn với đơn vị mình. Quản trị quốc gia trong bối cảnh mới đòi hỏi hiệu quả quản trị cao và bền vững, tính linh hoạt, thích ứng trong mô hình quản trị, tính đồng bộ, nhịp nhàng trong quá trình quản trị, tính minh bạch của nền hành chính.

Thứ ba, giải pháp đổi mới quản trị quốc gia đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số

Cần phát triển thiết chế và hạ tầng quản trị quốc gia, xây dựng Trung tâm dữ liệu quốc gia; triển khai Cổng dữ liệu quyền và các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hiệp quốc, trong đó thiết lập bảng điều khiển công khai cấp quốc gia, cấp tỉnh về chỉ số quyền gắn với các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hiệp quốc; tích hợp phản ánh của người dân; thành lập Trung tâm HRIA quốc gia chuyên thực hiện hoặc hỗ trợ đánh giá tác động quyền con người cho dự án, chính sách hoặc doanh nghiệp. Đây là nền tảng để hình thành hệ thống quản trị dựa trên bằng chứng.[41] Đổi mới phương thức quản trị, trong đó ứng dụng mạnh mẽ AI, Big Data, Blockchain; xây dựng, thực thi có hiệu quả hệ thống KPI số để giám sát hiệu quả cơ quan nhà nước; tăng cường cơ chế phản hồi công dân trực tuyến. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực số toàn diện; xây dựng khung năng lực số; đào tạo về kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước. Đồng thời, cần ban hành Chiến lược bảo vệ chủ quyền số; hoàn thiện quy định về dữ liệu xuyên biên giới; nâng cao năng lực phòng chống tấn công mạng…

Thứ tư, giải pháp nâng cao năng lực quản trị quốc gia và vai trò của Thủ đô Hà Nội

Theo một số nhà nghiên cứu, khoảng cách giữa mục tiêu và kết quả không nằm ở ý chí chính trị, mà nằm ở năng lực quản trị quốc gia - năng lực chuyển hóa những định hướng lớn thành chính sách khả thi, thành quyết định kịp thời, thành kết quả cụ thể trong đời sống xã hội.[42] Thực hiện các mục tiêu của Đại hội XIV thực chất là “bài toán nâng cấp năng lực quản trị của Nhà nước, từ tư duy thiết kế chính sách đến tổ chức thực thi, đo lường kết quả và tạo dựng niềm tin xã hội”. Bởi vậy, mục tiêu của Đại hội XIV chỉ có thể đi vào cuộc sống thông qua năng lực quản trị quốc gia. Nâng cao năng lực quản trị quốc gia đòi hỏi trao quyền thực chất đi đôi với trách nhiệm cá nhân rõ ràng, đồng thời có cơ chế bảo vệ những người dám quyết, dám làm vì lợi ích chung. Một điểm rất quan trọng đó là, minh bạch không chỉ là yêu cầu về đạo đức công vụ, mà là công cụ quản trị quốc gia một cách hữu hiệu.

Trong tiến trình triển khai thi hành Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội đóng vai trò rất đặc biệt. Hà Nội là Thủ đô, trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, đồng thời là một đô thị lớn với áp lực dân số, hạ tầng và môi trường ngày càng gia tăng. Hiện thực hóa mục tiêu Đại hội XIV tại Hà Nội đồng nghĩa với việc đổi mới mạnh mẽ quản trị đô thị, từ tổ chức bộ máy, phân cấp - phân quyền đến cung ứng dịch vụ công và quản lý phát triển bền vững. Chất lượng sống của người dân Thủ đô, hiệu quả đầu tư công, mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh chính là những thước đo cụ thể nhất của năng lực quản trị.

Năm 2026 Quốc hội đã thông qua Luật Thủ đô (sửa đổi). Tư duy xây dựng luật đã chuyển mạnh từ “quản lý” sang “quản trị phát triển” với tinh thần xuyên suốt là “Hà Nội quyết - Hà Nội làm - Hà Nội chịu trách nhiệm”[43] và nội dung Luật thể hiện bước chuyển rõ nét, từ thực thi chính sách sang trao quyền chủ động hơn cho Thủ đô trong thiết kế và tổ chức thực hiện chính sách, phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Luật Thủ đô (sửa đổi) cũng thiết kế cơ chế phân quyền triệt để, toàn diện và phân định rõ thẩm quyền của chính quyền thành phố với hơn 190 thẩm quyền được giao cho thành phố; đồng thời, gắn với yêu cầu cao hơn về trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Điều quan trọng đó là, Luật đã tạo lập khung thể chế cho một mô hình quản trị đô thị đặc biệt, trong đó chính quyền thành phố được chủ động toàn diện hơn trong tổ chức bộ máy, quản lý công chức, chế độ công vụ và biên chế. Luật Thủ đô (sửa đổi) sẽ là cơ sở để phát triển Thủ đô Hà Nội với vai trò đầu tàu, trung tâm lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục và đào tạo, y tế và hội nhập quốc tế của cả nước trong giai đoạn phát triển mới.

Kết luận

Trong bối cảnh hiện nay, việc đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội XIV vào thực tiễn cuộc sống không chỉ là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, mà còn là mệnh lệnh phát triển, là động lực thôi thúc toàn Đảng, toàn dân tổ chức thực hiện kịp thời, linh hoạt, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc, tạo chuyển biến mạnh, bằng những thành tựu phát triển cụ thể, bền vững của đất nước trên các lĩnh vực. Con đường hiện thực hóa những mục tiêu của Đại hội XIV không nằm ở việc ban hành thêm nhiều chính sách mà ở việc nâng cao năng lực quản trị quốc gia gắn với quản trị phát triển. Trong tiến trình này, Thủ đô Hà Nội đóng vai trò đặc biệt. Nếu Hà Nội thực hiện tốt, không chỉ Thủ đô hưởng lợi, mà niềm tin sẽ lan tỏa, tạo ra chuẩn mực mới cho quản trị trên phạm vi cả nước./.

[*] TS, Luật sư, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; Chi bộ Tổ dân phố 6, Phường Hà Đông, Hà Nội. Email: hq8710@gmail.com.

[1] Nguyễn Văn Quân, Vũ Công Giao (2020), Quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII: Bước tiến mới và yêu cầu mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Bộ “Những vấn đề lý luận và hiện đại về Nhà nước và pháp luật”, Tiểu ban 2 (Những vấn đề lý luận về quản trị nhà nước hiện đại), Khoa Luật (ĐHQG Hà Nội), Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.30-45.

[2] Vũ Đức Hạnh (2025), Đổi mới quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số tại Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/09/23/doi-moi-quan-tri-quoc-gia-trong-ky-nguyen-so-tai-viet-nam/, truy cập ngày 20-4-2026.

[3] Nguyễn Văn Quân (2018), Vai trò của tổ chức xã hội trong quản trị nhà nước hiện nay, Tạp chí Luật học, số 7, tr. 55.

[4] Thu Hằng, Trần Thường (2020), Thủ tướng: “Thể chế tiến bộ sẽ mở đường cho đất nước phát triển, Báo điện tử Vietnamnet, https://vietnamnet.vn/thu-tuongthe-che-tien-bo-se-mo-duong-cho-dat-nuoc-phat-trien-687546.html, truy cập ngày 10-4-2026.

[5] Nguyễn Văn Thôi (2021), Những vấn đề cơ bản về đổi mới quản trị quốc gia ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản điện tử, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/824506/nhung-van-de-co-ban-ve-doi-moi-quan-tri-quoc-gia-o-nuoc-ta-hien-nay.aspx#, truy cập ngày 10-4-2026.

[6] Đoàn Văn Dũng (2021), Quản trị quốc gia, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử, https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/09/15/quan-tri-quoc-gia/, truy cập ngày 10-4-2026.

[7] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2021), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII, TẬP I, NXB. CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT, HÀ NỘI, TR. 203.

[8] Sau đây viết tắt là Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

[9] Nguyễn Sĩ Dũng (2025), Những tuyên bố mang tính đổi mới sâu sắc của Tổng Bí thư trước Quốc hội, Báo Điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/nhung-tuyen-bo-mang-tinh-doi-moi-sau-sac-cua-tong-bi-thu-truoc-quoc-hoi-102251105064752496.htm, truy cập ngày 20-4-2026.

[10] Đức Tuân (2026), Tổng Bí thư Tô Lâm: Giai đoạn tới đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực, Báo Điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-to-lam-giai-doan-toi-doi-hoi-doi-moi-can-ban-tu-duy-phat-trien-phuong-thuc-quan-tri-va-phan-bo-nguon-luc-102260108123047243.htm, truy cập ngày 10-4-2026.

[11] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, NXB CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT, HÀ NỘI, TR. 129.

[12] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 126.

[13] Trần Bá Hùng (2026), Đổi mới quản trị quốc gia theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tạp chí Tổ chức nhà nước và lao động điện tử, https://tcnnld.vn/news/detail/71733/Doi-moi-quan-tri-quoc-gia-theo-tinh-than-Van-kien-Dai-hoi-Dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-XIV-cua-Dang.html, truy cập ngày 20-4-2026.

[14] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 88.

[15] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 121.

[16] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 83.

[17] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 86-87.

[18] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 72.

[19] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 128-129.

[20] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 146-147.

[21] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 108.

[22] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 128.

[23] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP II, SĐD, TR. 384.

[24] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP II, SĐD, TR. 387.

[25] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 127.

[26] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR.127-128.

[27] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 147.

[28] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 128.

[29] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 129.

[30] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 129.

[31] Nguyễn Sĩ Dũng (2026), Phát huy thế mạnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Báo Nhân dân điện tử, https://nhandan.vn/phat-huy-the-manh-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-post956368.html, truy cập ngày 20-4-2026.

[32] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 147.

[33] Tham khảo một số nội dung từ tài liệu: Trần Bá Hùng (2026), tlđd.

[34] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 147.

[35] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 106.

[36] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (2026), VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV, TẬP I, SĐD, TR. 107.

[37] Dương Trung Ý (2026), Đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào thực tiễn cuộc sống, Tạp chí Cộng sản điện tử, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/dua-tinh-than-moi-cua-van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-vao-thuc-tien-cuoc-song, truy cập ngày 20-4-2026.

[38] Nguyễn Văn Quân, Vũ Công Giao (2020), tlđd.

[39] Triệu Phương Anh, Nguyễn Trung Thành (2025), Nâng cao hiệu quả thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/08/14/nang-cao-hieu-qua-thuc-hien-luat-phong-chong-tham-nhung-hien-nay/, truy cập ngày 20-4-2026.

[40] Kết luận số 18-KL/TW ngày 02-4-2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” đã giao các Bộ, cơ quan ngang Bộ phấn đấu tiếp tục cắt giảm tối thiểu 30% các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, 100% các điều kiện kinh doan không cần thiết. Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp thủ tục hành chính, bảo đảm cấp Bộ chỉ thực hiện không quá 30% tổng số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực quản lý; hoàn thành việc cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của năm 2026 so với năm 2024.

[41] Tham khảo một số nội dung từ tài liệu: Vũ Đức Hạnh (2025), tlđd.

[42] Tham khảo một số nội dung từ tài liệu: Nguyễn Sĩ Dũng (2026), Hiện thực hóa mục tiêu Đại hội XIV từ năng lực quản trị quốc gia, https://hanoimoi.vn/hien-thuc-hoa-muc-tieu-dai-hoi-xiv-tu-nang-luc-quan-tri-quoc-gia-730957.html, truy cập ngày 10-4-2026.

[43] Ngọc Minh (2026), Luật Thủ đô (sửa đổi): Thể chế mới, động lực mới mở đường cho Thủ đô phát triển, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4921, truy cập ngày 23-4-2026.

Cùng chuyên mục

Tổng Bí thư Tô Lâm và bài toán giải phóng người trẻ khỏi áp lực mua nhà

Tổng Bí thư Tô Lâm và bài toán giải phóng người trẻ khỏi áp lực mua nhà

Tầm nhìn -  3 tuần trước

(PLPT) - Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc xác định nhà ở cho thuê là “trụ cột chiến lược” đã gợi mở định hướng giải quyết bài toán giảm áp lực mua nhà, để người trẻ có thêm cơ hội ổn định cuộc sống, dịch chuyển việc làm và phát triển tương lai.

Dấu ấn nhiệm kỳ - Tư duy nhiệm kỳ

Dấu ấn nhiệm kỳ - Tư duy nhiệm kỳ

Tầm nhìn -  1 tháng trước

(PLPT) - Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, tư duy lãnh đạo đúng đắn, mỗi nhiệm kỳ phải tạo dấu ấn bền vững, vượt lợi ích ngắn hạn, kiến tạo thể chế và niềm tin nhân dân.

Tổng Bí thư Tô Lâm: Lắng nghe người lao động, lấy tiền lương và sáng kiến làm trụ cột phát triển

Tổng Bí thư Tô Lâm: Lắng nghe người lao động, lấy tiền lương và sáng kiến làm trụ cột phát triển

Tầm nhìn -  1 tháng trước

(PLPT) - Hôm nay, Ngày Quốc tế Lao động 1/5, chúng ta nhớ lại bài phát biểu vào ngày 27/4 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với công nhân và người lao động tại thành phố Hồ Chí Minh, để thấy rằng đó không chỉ là một thông điệp mang tính động viên người lao động, mà thực chất đã phác ra một logic phát triển có tính hệ thống, trong đó người lao động được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình tạo ra giá trị cho đất nước

Một nhiệm kỳ mới: Làm nhiều hơn hay làm khác đi?

Một nhiệm kỳ mới: Làm nhiều hơn hay làm khác đi?

Tầm nhìn -  2 tháng trước

(PLPT) - Quốc hội vừa bước vào nhiệm kỳ mới với nhiều kỳ vọng về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động và thời gian qua, chúng ta thấy rằng nghị trường đã có những chuyển biến đáng ghi nhận cả về quy mô và chiều sâu thảo luận. Nhưng trong bối cảnh yêu cầu phát triển ngày càng cao, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc làm nhiều hơn, mà là làm thế nào để mỗi quyết định chính sách tạo ra giá trị thực chất cho đời sống kinh tế – xã hội.

Tầm nhìn chiến lược và phản ứng chính sách: Hai trụ cột trong tư duy đổi mới phương thức lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm

Tầm nhìn chiến lược và phản ứng chính sách: Hai trụ cột trong tư duy đổi mới phương thức lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm

Tầm nhìn -  2 tháng trước

(PLPT) - Chúng ta thấy rằng, các bước ngoặt trong lịch sử đảng cầm quyền về bản chất không phải là sản phẩm của “diễn ngôn” chính trị, mà là kết quả của sự điều chỉnh căn bản trong cấu trúc tư duy và phương thức thực thi quyền lực. Khi môi trường phát triển không diễn ra theo đường thẳng tương đối và khi rủi ro không còn diễn ra theo quy luật quen thuộc, thì chính mô hình lãnh đạo cũng buộc phải tự điều chỉnh để tránh rơi vào trạng thái “đúng về nguyên tắc nhưng chậm về phản ứng”.

Từ tay nghề đến nhân cách: Tầm nhìn của Tổng Bí thư  Tô Lâm về nền Y tế lấy con người làm trung tâm

Từ tay nghề đến nhân cách: Tầm nhìn của Tổng Bí thư Tô Lâm về nền Y tế lấy con người làm trung tâm

Tầm nhìn -  3 tháng trước

(PLPT) - Lấy con người làm trung tâm, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh triết lý về "giỏi nghề - giữ đạo", kiến tạo nền y tế nhân văn và liêm chính.

                        Trách nhiệm, hiệu quả và văn hóa tự trọng: Thông điệp quản trị kỷ nguyên mới từ Tổng Bí thư Tô Lâm

Trách nhiệm, hiệu quả và văn hóa tự trọng: Thông điệp quản trị kỷ nguyên mới từ Tổng Bí thư Tô Lâm

Tầm nhìn -  3 tháng trước

(PLPT) - Thông điệp từ Tổng Bí thư Tô Lâm về cá nhân hóa trách nhiệm, xây dựng văn hóa tự trọng chính trị là bước ngoặt tái thiết quản trị quốc gia.

Bất định pháp lý - “Kẻ giết chết” thầm lặng của niềm tin

Bất định pháp lý - “Kẻ giết chết” thầm lặng của niềm tin

Tầm nhìn -  4 tháng trước

Trong hành trình 40 năm đổi mới, nếu thể chế là động lực thì sự bất định pháp lý lại là lực cản thầm lặng. Khi pháp luật thiếu tính dự báo, mọi quyết định dài hạn đều trở thành canh bạc rủi ro. Để bước vào kỷ nguyên vươn mình, Việt Nam cần một cuộc cách mạng về quản trị độ tin cậy, nơi pháp luật phải là điểm tựa an toàn nhất cho tinh thần dám nghĩ, dám làm.