Tóm tắt: Hiện nay ở Việt Nam, kinh tế ban đêm được xác định là một mô hình tiềm năng, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội và tạo việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, việc triển khai công tác quản lý hành chính nhà nước đối với các hoạt động này ở Việt Nam vẫn còn gặp nhiều thách thức. Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quản lý hành chính Nhà nước đối với kinh tế ban đêm từ các mô hình thành công trên thế giới, gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Vương quốc Anh, bài viết đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động kinh tế đêm tại Việt Nam.
Từ khóa: Kinh tế ban đêm, kinh nghiệm quốc tế, quản lý hành chính Nhà nước
Abstract: The Night-time Economy is currently identified in Vietnam as a high-potential model, playing a vital role in fostering socio-economic growth and generating employment. Despite its recognized significance, the implementation of administrative management for these activities in the country continues to face numerous practical and regulatory challenges. This article addresses these gaps by undertaking a comparative analysis of public administration’s management experiences regarding the Night-Time Economy from three successful international models: China, Japan, and the United Kingdom. Drawing key lessons and insights from these international practices, the paper proposes a comprehensive set of policy solutions. The primary objective of these recommendations is to perfect the administrative management mechanism for night-time economic activities in Vietnam, thereby ensuring their effective, sustainable, and secure development.
Keywords: Night-Time Economy, international experience, public administration’s management
ĐẶT VẤN ĐỀ
Kinh tế ban đêm hiện đang là một
động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng, giúp tạo việc làm và gia tăng sức hấp
dẫn toàn cầu cho các đô thị lớn trên thế giới. Tại Việt Nam, khái niệm kinh tế
ban đêm vẫn còn tương đối mới mẻ về mặt lý luận cũng như thực tiễn quản lý. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây, hoạt động kinh tế này đã đạt được nhiều thành
tựu đáng kể và đóng góp rõ ràng trong tăng trưởng tiêu dùng, kích cầu du lịch,
quảng bá hình ảnh và tạo việc làm mới, cải thiện thu nhập người lao động, đặc
biệt tại các đô thị lớn như Hà Nội với tuyến phố đi bộ Hồ Gươm đã trở thành
điểm đến thu hút hàng nghìn lượt khách mỗi cuối tuần[1] và thành phố Hồ Chí Minh
cùng các chợ đêm, phố đi bộ Nguyễn Huệ và phố Tây Bùi Viện, các khu giải trí,
ẩm thực 24 giờ[2]. Qua
đó, nhằm thúc đẩy lĩnh vực này, vào ngày 27 tháng 7 năm 2020, Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển kinh tế
ban đêm tại Việt Nam.
Bên cạnh những kết quả tích cực, quá
trình triển khai gặp không ít thách thức. Cụ thể, hệ thống văn bản pháp luật
hiện hành còn chồng chéo, phân tán giữa các cấp quản lý, đồng thời thiếu một mô
hình quản lý tập trung và hiệu quả cho nền kinh tế đêm. Đặc biệt, sự thiếu linh
hoạt và sự cứng nhắc không cần thiết trong quy định về thời gian mở cửa tại các
khu vực dịch vụ về đêm đã gây khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn chính quyền địa
phương. Thêm vào đó, việc thiếu các cơ chế khuyến khích cụ thể nhằm thu hút sự tham
gia của các cá nhân, tổ chức cũng là một rào cản. Những yếu tố này đã cản trở
động lực đầu tư và làm giảm hiệu quả quảng bá du lịch của nền kinh tế ban đêm.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu
và tham khảo kinh nghiệm quản lý hành chính nhà nước với hoạt động kinh tế ban đêm tại các quốc gia đã phát
triển thành công mô hình này, như Trung Quốc, Nhật Bản, Vương quốc Anh mang lại
ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là nguồn tham chiếu thực tiễn có giá
trị lớn, mà còn góp phần định hướng và gợi mở một số giải pháp tăng cường năng
lực quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động kinh tế ban đêm tại Việt Nam.
I. KHÁI NIỆM QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG KINH TẾ BAN ĐÊM
Kinh tế ban đêm hiện nay chưa có một
định nghĩa thống nhất, nhưng nhìn chung, nền kinh tế này phản ánh xu hướng mở
rộng hoạt động kinh tế - xã hội vào ban đêm nhằm tận dụng những nguồn lực chưa
được khai thác. Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đều nhận định kinh tế ban đêm
hình thành từ nhu cầu gia tăng về giải trí, văn hóa và tiêu dùng, đồng thời
mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp và không gian xã hội - văn hóa cho cộng đồng
đô thị. Theo quan điểm của James Farrer, một chuyên gia
nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế ban đêm, kinh tế ban đêm bao hàm hoạt động
thương mại và giải trí thành thị diễn ra vào ban đêm. Nền kinh tế ban đêm nhìn
chung bao gồm các câu lạc bộ khiêu vũ và quán bar, nhà hàng, rạp hát và các
hoạt động thương mại khác tổ chức vào buổi tối[3]. Trên cơ sở nhận thức chung về kinh tế ban đêm, tác giả
Nguyễn Ngọc Sơn đã định nghĩa kinh tế ban đêm là toàn bộ hoạt động sản xuất,
kinh doanh và dịch vụ diễn ra từ 18 giờ tối hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau,
bao gồm ẩm thực, bán lẻ, vui chơi, giải trí và du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng, nâng cao trải nghiệm sống và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững[4]. Ở
Việt Nam, chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra định nghĩa chính thức về kinh tế
ban đêm. Tuy nhiên, Quyết định số 1129/QĐ-TTg đã đề cập đến khái
niệm này trong phạm vi chủ yếu là dịch vụ văn hóa, giải trí, ăn uống, mua sắm
và du lịch diễn ra từ 18 giờ tối hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau. Từ việc tổng
hợp các quan điểm trong lý luận và chính sách, có thể hiểu “Kinh tế ban đêm
là tập hợp các hoạt động kinh tế - dịch vụ diễn ra từ 18 giờ tối
hôm trước đến 6 giờ sáng hôm
sau, được hình thành từ nhu cầu xã hội và quá trình phát triển đô thị, nhằm
khai thác tối đa không gian - thời gian, đồng thời tạo giá trị kinh tế, văn hóa
và xã hội cho cộng đồng”.
Quản lý hành chính nhà nước là việc
quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp, được thực hiện trước hết và chủ yếu
bởi các cơ quan hành chính nhà nước, với nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật,
pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ
đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa - xã
hội và hành chính - chính trị.
Trên cơ sở khái niệm quản lý hành chính nhà nước và hoạt
động kinh tế ban đêm đã được đề cập ở trên, có thể rút ra định nghĩa như sau: Quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt
động kinh tế ban đêm là hoạt động do Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và
chính quyền địa phương các cấp thực hiện nhằm thiết lập chính sách, xây dựng
công tác tổ chức, chỉ đạo, kiểm soát đối với hoạt động kinh tế và dịch vụ
diễn ra từ 18 giờ tối hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau nhằm đảm bảo nền kinh
tế ban đêm phát triển bền vững, phát huy vai trò kinh tế - xã hội và phù hợp
với đặc thù của từng địa phương.
Phát triển kinh tế ban
đêm không phải là một xu hướng nhất thời, đó là một chiến lược dài hạn nhằm
thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội. Nhưng để điều chỉnh hoạt động này đi
đúng hướng nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và ổn
định trật tự xã hội, tất cả quốc gia đều sử dụng công cụ cốt lõi là các chính
sách quản lý hành chính nhà nước. Điều này được lý giải bởi các vai trò chính
yếu của hoạt động quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động kinh tế ban
đêm như sau:
Thứ nhất, thúc đẩy sự cân bằng giữa không gian phát
triển kinh tế ban đêm và không gian nghỉ ngơi của khu dân cư. Kinh tế ban đêm
với đặc thù về các hoạt động giải trí náo nhiệt gây xung đột với nhu cầu nghỉ
ngơi của người dân ở khu vực dân cư sinh sống. Quản lý hành chính nhà nước
đóng vai trò trung gian điều tiết thông qua các công cụ như quy hoạch, thiết
lập các quy định về ngưỡng tiếng ồn, thời gian đóng cửa và khoảng cách giữa
các cơ sở kinh doanh ban đêm với khu vực dân cư, từ đó giúp duy trì sự đồng thuận
xã hội, ngăn chặn các phản ứng tiêu cực từ cộng đồng cư dân đối với việc phát
triển hoạt động kinh tế ban đêm.
Thứ hai, kiểm soát các ảnh hưởng tiêu cực về an ninh
trật tự xã hội. Phát triển kinh tế ban đêm gia tăng việc tiêu thụ các đồ uống
có chứa cồn, kéo theo việc gia tăng các vi phạm về an toàn giao thông, gây
rối trật tự công cộng. Bên cạnh đó, không gian về đêm cũng tạo sự gia tăng
các hoạt động tội phạm như mại dâm, cờ bạc, ma túy[5]. Việc gia tăng các hành vi vi phạm pháp luật gây ra sự lo ngại
cho người dân và du khách trong việc tham gia và trải nghiệm các hoạt động
kinh tế ban đêm. Do vậy, quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động kinh
tế ban đêm là hoạt động cấp thiết nhằm tạo ra một môi trường an toàn, tạo
niềm tin cho người tiêu dùng, thúc đẩy kinh tế ban đêm phát triển mạnh mẽ
hơn. Vai trò này có thể thể hiện qua việc thiết lập hệ thống giám sát thông
minh, tăng cường tuần tra liên ngành và xây dựng các quy chuẩn an toàn đối
với các cơ sở kinh doanh đêm.
Thứ ba, góp
phần điều tiết và thúc đẩy tăng trưởng các hoạt động kinh tế ban đêm. Các
công cụ quản lý hành chính nhà nước trong kinh tế ban đêm không chỉ kiểm soát
hành vi của các chủ thể, mà còn được sử dụng để kích thích cung - cầu trong
nền kinh tế ban đêm. Vai trò này thể hiện qua các chính sách ưu đãi như các
đòn bẩy tài chính (thuế, phí) và hỗ trợ tín dụng để khuyến khích doanh nghiệp
đầu tư phát triển các hoạt động kinh tế ban đêm một cách bền vững, đa dạng
hóa các loại hình hoạt động, từ đó kích thích nhu cầu mua sắm và tiêu dùng
của người dân và du khách trong các hoạt động kinh tế ban đêm. Đồng thời, sự
điều phối của quản lý hành chính nhà nước tạo ra sự phối hợp giữa các ngành
dịch vụ như vận tải công cộng và cơ sở lưu trú du lịch để tạo ra một hệ sinh
thái kinh tế ban đêm đồng bộ, vừa tạo việc làm cho người lao động vừa tạo sự
thuận tiện cho người tiêu dùng khi tham gia hoạt động kinh tế ban đêm.
II. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH TẾ BAN ĐÊM
2.1. Trung Quốc
Nền kinh tế ban đêm đã xuất hiện ở
Trung Quốc từ năm 1979 nhưng chỉ khi đến nửa cuối những năm 1990, nền kinh tế
ban đêm mới bắt đầu khởi sắc[6]. Đến
năm 2004, các thành phố lớn như Thanh Đảo, Hàng Châu, Trùng Khánh,... đã có
chính sách riêng để thúc đẩy phát triển kinh tế ban đêm thể hiện quan điểm chú
trọng phát triển kinh tế ban đêm đã được các đô thị ở Trung Quốc hưởng ứng và
thi hành. Cho đến nay, qua hơn 20 năm phát triển, nền kinh tế ban đêm ở Trung
Quốc đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế.
Theo thống kê năm 2018, hoạt động biểu diễn văn hóa, nghệ thuật kết hợp du lịch
về đêm ở Trung Quốc đem lại thu nhập 6,7 tỷ nhân dân tệ (khoảng 957 triệu USD)
cho nền kinh tế. Theo thống kê của Bộ Thương mại Trung Quốc, quy mô thị trường
kinh tế ban đêm ở nước họ đạt 2.285,922 tỷ nhân dân tệ vào năm 2018.
Để đạt được những thành tựu này,
Trung Quốc đã có những biện pháp quản lý hành chính nhà
nước thích hợp để
hoạt động quản lý trở nên hiệu quả nhưng cũng tạo điều kiện để kinh tế ban đêm
có không gian phát triển.
Về
mô hình quản lý, ở cấp trung ương, Trung
Quốc thực hiện phân quyền quản lý kinh tế ban đêm tới các cấp chính quyền địa
phương. Các cấp chính quyền địa phương lại tiếp tục bổ nhiệm chức vụ quản lý
hoạt động kinh tế ban đêm cho một hội đồng gồm nhiều thành phần, chức vụ này
khác hoàn toàn so với các chức vụ quản lý liên quan đến các hoạt động kinh tế
ban ngày. Cách thức phân quyền này của Trung Quốc vừa chỉ định trách nhiệm cho
các địa phương trong việc phát triển nền kinh tế ban đêm, vừa giúp các hoạt
động dịch vụ ban đêm được thiết kế và phát triển một cách bài bản, đúng hướng,
phù hợp với từng khu vực. Trên cơ sở phân quyền của cấp
trung ương, các thành phố ở Trung Quốc đã tự thiết lập các chức vụ quản lý
hoạt động kinh tế ban đêm riêng biệt ở địa phương mình. Ở
Bắc Kinh, chính quyền địa phương đã lập ra chức danh quản lý kinh tế
ban đêm tên là người thắp đèn ở cả 3 cấp thành phố, quận và khu phố, do lãnh
đạo cơ quan chủ quản các cấp chính quyền và các hiệp hội doanh nghiệp đảm
nhiệm[7]. Ở
Thượng Hải, chính quyền địa phương đã ban hành các hướng dẫn cụ thể để thúc
đẩy ngành công nghiệp ban đêm bằng cách xây dựng một số khu vực giải trí từ 19
giờ
tối đến 6 giờ sáng[8],
đồng thời đề cử các CEO về đêm - những người có kinh nghiệm quản lý các doanh
nghiệp hoạt động về đêm để quản lý hiệu quả các hoạt động kinh tế ban đêm ở
địa phương.
Về chính sách, Trung Quốc đã ban hành nhiều chính sách khác nhau trong nhiều
lĩnh vực, từ trung ương tới địa phương nhằm điều phối các hoạt động kinh tế
ban đêm. Ở cấp trung ương, cuối tháng 8 năm 2019 Chính phủ Trung Quốc đã công
bố 20 biện pháp thúc đẩy tiêu dùng, trong đó có biện pháp “Thị trường và hoạt
động kinh doanh về đêm”, đặt ra nhiều quy định liên quan đến chính sách hỗ
trợ và ưu đãi như giảm giá tiêu thụ điện, cho phép hoạt động 24/24 để thúc đẩy doanh nghiệp
mở hàng quán, dịch vụ,... nhằm đa dạng hóa các hoạt động kinh tế vào ban đêm.
Bên cạnh đó, chính sách này cũng đặt ra các yêu cầu về bảo đảm an ninh trật
tự công cộng ở các địa phương. Trên cơ sở chính sách ban hành ở trung ương,
các tỉnh thành ở Trung Quốc đã đưa ra các biện pháp như lắp đặt camera, tăng
cường bảo vệ tại các trung tâm thương mại, xây dựng đường dây nóng cho khách
hàng sử dụng các phương tiện vận tải trong trường hợp khẩn cấp. Đặc biệt, đã
có hơn 170 triệu camera giám sát được lắp đặt ở các địa điểm công cộng và địa
bàn phức tạp về an ninh trật tự ở Trung Quốc sử dụng công nghệ trí tuệ nhân
tạo và phân tích dữ liệu gương mặt tội phạm, ngăn ngừa việc lợi dụng không
gian ban đêm để thực hiện tội phạm[9]. Bên cạnh đó, các địa phương cũng ban hành các chính sách riêng
về phát triển ban đêm nhằm phát huy thế mạnh riêng của từng địa phương. Chẳng
hạn như ở Bắc Kinh, tháng 7/2019, chính quyền địa phương đã ban hành
“Biện pháp của Bắc Kinh về việc tiếp tục phát triển kinh tế ban đêm thúc đẩy
tăng trưởng tiêu dùng”. Trong đó, đưa ra chính sách kéo dài thời gian hoạt
động dịch vụ giao thông công cộng vào ban đêm dựa trên nhu cầu sử dụng các
phương tiện này và nhu cầu giải trí vào ban đêm của người dân và khách du
lịch. Theo đó, các tuyến xe buýt đêm ở Bắc Kinh sẽ tăng chuyến trong khoảng
thời gian từ 0h-1h, thành 20 phút/chuyến thay vì 30 phút/chuyến. Một số tuyến
tàu điện ngầm cũng kéo dài thời gian hoạt động để đáp ứng nhu cầu đi lại của
người dân và khách du lịch vào ban đêm.
2.2. Nhật Bản
Những nỗ lực nhằm thúc đẩy nền kinh
tế ban đêm của Nhật Bản đã bắt đầu vào giữa những năm 2010, với các thể chế
giúp tăng trưởng hoạt động giải trí về đêm[10].
Về mô hình quản lý, Nhật Bản đã tham khảo mô hình Thị
trưởng đêm ở các nước châu Âu giúp điều phối lợi ích giữa cư dân, doanh nghiệp
giải trí và chính quyền trong khung giờ đêm. Ở Tokyo, Quận Shibuya đã bổ nhiệm
các Thị trưởng đêm là người nổi tiếng trong giới âm nhạc, trong đó rapper
Zeebra được giao vai trò đại sứ đêm, đại diện Tokyo tham dự Hội nghị thượng
đỉnh đêm tại Amsterdam và vận động đưa mô hình thị trưởng ban đêm vào bối cảnh
Nhật Bản. Còn ở thành phố Okinawa, tỉnh Okinawa, đã bổ nhiệm thành viên ISSA
của nhóm nhạc nổi tiếng DA PUMP làm Thị trưởng Đêm Thành phố Okinawa[11].
Tại đây có thể thấy, Nhật Bản đã có
sự sáng tạo với việc sử dụng những gương mặt có sức ảnh hưởng để nói hoạt động
về đêm an toàn và đáng trải nghiệm, góp phần thay đổi hình ảnh của hoạt động
ban đêm, từ chỗ gắn với tệ nạn sang một không gian văn hóa - sáng tạo được
chính quyền ủng hộ.
Về mặt pháp lý, trước năm 2016, các cơ sở khiêu vũ
kết hợp ăn uống về đêm bị quản lý chặt theo Luật
về kiểm soát và cải thiện hoạt động kinh doanh giải trí và vui chơi (Fūeihō) , thực tế khiến nhiều club, vũ trường bị cấm hoạt động sau
nửa đêm. Sau khi luật này được sửa đổi năm 2016 đã cho phép một số cơ sở kinh
doanh được cấp phép hoạt động sau nửa đêm[12].
Tuy nhiên, để tham gia vào giờ hoạt
động mới, các địa điểm phải được phân loại là Hoạt động Nhà hàng Giải trí Ban
đêm. Loại hình kinh doanh mới này đòi hỏi các yêu cầu cụ thể:
(1) về ánh sáng phải dưới 10 lux[13];
(2) vị trí phải nằm trong khu vực đặc biệt gọi là Khu vực được phép hoạt động
kéo dài. Đây là địa điểm mà phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về mật độ kinh
doanh lớn, nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng đến khu dân cư và phải có cơ chế tự
quản lý[14] . Điều này tạo tiền đề cho các chủ đầu tư muốn mở rộng hoạt
động kinh doanh vào ban đêm có thể hoạt động và cung cấp thêm cơ hội tham gia
giải trí về đêm cho người dân và khách du lịch có nhu cầu.
Về chính sách, ở Nhật Bản đã đưa ra rất nhiều chính sách hỗ trợ nhằm
khuyến khích phát triển kinh tế ban đêm. Nổi bật, ở cấp địa phương, tỉnh Osaka
đã triển khai dự án khám phá và sáng tạo văn hóa đêm nhằm khuyến khích đầu tư
và phát triển vào kinh tế ban đêm. Dự án này mục đích sẽ cung cấp trợ cấp các
chi phí cần thiết cho các nhà đầu tư tham gia kinh doanh ban đêm chủ yếu hướng
đến khách nội địa. Tuy nhiên, các nhà đầu tư muốn được hưởng hỗ trợ từ dự án
bắt buộc phải trải qua trình tự, thủ tục nộp hồ sơ, xem xét hồ sơ đăng ký, kiểm
tra các yêu cầu đăng ký, cũng như nội dung phỏng vấn doanh nghiệp và ý kiến
của các thành viên của Nhóm Nghiên cứu về Khám phá và Sáng tạo Văn hóa Đêm.
Về phía chính quyền địa phương, tỉnh Osaka cũng công khai đầy đủ các thông tin
về hướng dẫn đăng ký dự án, kinh phí hỗ trợ, thời gian nộp, thực hiện, công bố
và yêu cầu các giấy tờ khác có liên quan[15]. Việc địa phương quy định
trình tự, thủ tục nghiêm ngặt và chi tiết, giúp sàng lọc hiệu quả các chủ thể
kinh doanh có tiềm năng và đảm bảo tuân thủ các yêu cầu đề ra. Bên cạnh đó,
việc quy định chi tiết tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức có mong
muốn tham gia kinh doanh ban đêm có thể dễ dàng tiếp cận và thực hiện thủ tục.
2.3. Vương quốc Anh
Vương quốc Anh được coi là quốc gia
tiên phong trong việc tổ chức và thúc đẩy kinh tế ban đêm. Từ những năm 1990,
kinh tế ban đêm ở Anh đã nhận được sự quan tâm đến từ Nhà nước. Hàng loạt các
chính sách tích cực được đưa ra nhằm khuyến khích đầu tư và nới lỏng quy định
về các hoạt động ban đêm, đặc biệt những ngành nghề mang tính nhạy cảm.
Về mô hình quản lý, Hiệp hội ngành ban đêm (Night Time Industries Association)
được thành lập với vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà
nước, có chức năng theo dõi, phản ánh diễn biến thị trường và kiến nghị chính
sách nhằm hỗ trợ phát triển lĩnh vực kinh tế đêm.
Đặc biệt, Thành phố Luân Đôn của
Vương quốc Anh đã hình thành cơ chế đại diện chuyên biệt cho ngành là Sa hoàng
đêm (Night Czar); trong đó, lĩnh vực chính mà cơ chế đại diện này tập trung là
quản lý, thúc đẩy và bảo vệ toàn diện đời sống ban đêm của thành phố, trong đó
ưu tiên sự cân bằng giữa kinh tế đêm, văn hóa, và phúc lợi cộng đồng.
Xét đến vai trò, cơ chế đại diện này
cải thiện không gian phát triển và cơ sở hạ tầng cho các hoạt động kinh tế ban
đêm, nhằm mang đến trải nghiệm an toàn, thú vị và thuận tiện hơn cho người tham
gia. Bên cạnh đó, thị trưởng ban đêm có nhiệm vụ cập nhật và điều chỉnh các
chính sách, quy định liên quan đến hoạt động ban đêm, đảm bảo cân bằng giữa
việc phát triển kinh tế đêm và quyền lợi của cư dân. Cuối cùng là hòa giải, kết
nối các bên liên quan, bao gồm doanh nghiệp, cư dân, cơ quan chức năng và các
dịch vụ công, qua đó giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực như tiếng ồn, an
ninh hay vấn đề giao thông,...
Ở mặt cơ cấu và hình thức tổ chức,
Thị trưởng ban đêm là một chức danh được bổ nhiệm theo thị trưởng Luân Đôn,
không phải là một chức vụ dân cử. Chức vụ này không phải cơ quan độc lập mà
chịu sự kiểm soát của Cơ quan chính quyền Đại Luân Đôn (GLA) và có một nhóm
chuyên trách để hỗ trợ nghiên cứu, quan hệ truyền thông và điều phối với chính
quyền các quận[16].
Xét đến thẩm quyền pháp lý và quyền ra quyết định, thị trưởng ban đêm có trách
nhiệm phối hợp và vận động, điều phối thực hiện các chính sách hơn là thực hiện
quyền hành pháp[17].
Về mặt pháp lý, Luật Cấp phép 2003 của Anh giúp nới lỏng điều kiện hoạt
động ban đêm và tạo hành lang linh hoạt cho quản lý kinh tế ban đêm ở địa
phương. Một số các quy định nổi bật có thể kể đến như sau:
Một là, quy định về hoạt động được
cấp phép. Các hoạt động phải được cấp phép bao gồm bán lẻ rượu; cung cấp đồ
uống có cồn bởi câu lạc bộ; tổ chức các hoạt động giải trí có điều kiện và cung
cấp dịch vụ ăn uống muộn. Việc tập trung vào 4 nhóm hoạt động giúp chính quyền
và doanh nghiệp dễ dàng xin phép và quản lý hơn.
Hai là, quy định về người giám sát
tại cơ sở. Mọi cơ sở kinh doanh rượu phải có người giám sát được chỉ định sở
hữu giấy phép cá nhân, đảm bảo trách nhiệm và giám sát chuyên nghiệp.
Ba là, quy định về phân cấp mô hình
quản lý cấp phép. Thẩm quyền cấp phép được giao cho các cơ quan cấp phép tại
địa phương như hội đồng một quận của nước Anh, hội đồng của một hạt ở nước Anh
mà không có hội đồng quận, v.v. Với quy định này, luật đã mở rộng quyền quản lý
về cho chính quyền địa phương thay cho chính quyền trung ương, giúp họ chủ động
tổ chức mô hình kinh tế đêm phù hợp với bối cảnh từng địa phương mà mình quản
lý.
III. BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH TẾ BAN ĐÊM Ở VIỆT NAM
Mặc dù kinh tế ban đêm đang được chú
trọng phát triển ở Việt Nam trên cơ sở định hướng của Quyết định số 1129/QĐ-TTg
, công tác quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động kinh tế ban đêm ở Việt Nam vẫn còn nhiều
bất cập, xuất phát từ quy định pháp luật đến cơ cấu tổ chức quản lý và các cơ
chế thúc đẩy phát triển. Qua việc nghiên cứu các yếu tố trên, có thể chỉ ra
những mặt hạn chế như sau:
Thứ nhất, bất cập về mặt quy định
quản lý trong
kinh tế ban đêm
Thời gian hoạt động của các ngành,
nghề đặc thù của kinh tế ban đêm hiện nay hầu hết đang bị giới hạn trong khoảng
từ 0 giờ đêm đến 8 giờ sáng. Theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11
năm 2009 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ
văn hóa công cộng, các hoạt động kinh doanh vũ trường, karaoke, trò chơi điện
tử, các hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí khác nhằm mục đích kinh doanh hay
không nhằm mục đích kinh doanh đều không được hoạt động trong khoảng từ sau 0
giờ đêm đến 8 giờ sáng. Quy định này không bao gồm quầy bar trong các cơ sở lưu
trú du lịch được xếp hạng từ 3 sao trở lên hoặc hạng cao cấp và vũ trường,
phòng karaoke trong các cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng từ 4 sao trở lên
hoặc hạng cao cấp. Trong khi đó, theo định hướng của Quyết định số 1129/QĐ-TTg
,
kinh tế ban đêm được khuyến khích phát triển trong khoảng thời gian từ 18 giờ
tối hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau. Vậy thời gian hoạt động của kinh tế ban
đêm theo các quy định hiện hành đang bị giới hạn tới một nửa so với chính sách.
Ngoài việc không đáp ứng về mặt chính sách phát triển, việc quy định thời gian
hoạt động như trên còn gây ra những hệ lụy đáng kể, tạo nên sự hạn chế về lựa
chọn hoạt động kinh tế cho cả du khách quốc tế lẫn người dân địa phương sau 0
giờ đêm. Điều này không chỉ làm giảm đi trải nghiệm đa dạng và phong phú mà lẽ
ra họ có thể có được khi tham gia vào các hoạt động kinh tế ban đêm sôi động.
Sự thiếu linh hoạt trong khung pháp lý khiến nhiều hình thức giải trí, ăn uống,
và mua sắm buộc phải kết thúc sớm, làm mất đi cơ hội để Việt Nam khai thác
triệt để tiềm năng từ thị trường về đêm. Hơn nữa, điều này còn có thể ảnh hưởng
tiêu cực đến sự phát triển của ngành du lịch và dịch vụ, vốn là một trụ cột
kinh tế quan trọng.
Thứ hai, bất cập về mô hình quản lý
hoạt động kinh tế ban đêm.
Hiện tại, bộ máy quản lý nhà nước từ
cấp Trung ương đến địa phương tại Việt Nam chưa hình thành bất kì một cơ quan
chuyên trách với chức năng quản lý kinh tế ban đêm. Việc quản lý chủ yếu được
chuyển giao phân tán đến các sở, ngành, công an thành phố và chính quyền các
địa phương (cấp tỉnh, cấp xã) có phát sinh hoạt động kinh tế này. Các nhiệm vụ
quản lý kinh tế ban đêm được giao cho cán bộ, công chức, viên chức khi thời
gian làm việc của họ thường được quy định vào ban ngày, dẫn đến cơ chế lương và
phụ cấp của họ không được rõ ràng và tương xứng với công việc của họ.
Sự thiếu vắng của một bộ phận thường
trực với cơ chế tập trung quản lý trên toàn bộ địa bàn một tỉnh, thành phố; có
nhiệm vụ chỉ đạo, theo dõi, đánh giá, đề ra chính sách cũng như thực thi hoạt
động kiểm tra, giám sát khiến nhiều địa phương phát triển kinh tế ban đêm không
được đồng đều, mang tính tự phát, thiếu định hướng chung và chưa gắn với một
chiến lược dài hạn cụ thể.
Trong bối cảnh khuyết đi một bộ phận
quản lý chuyên trách, vấn đề ban hành các chính sách giữa các địa phương, cấp
chính quyền (cấp tỉnh và cấp xã) đã xuất hiện sự khác biệt đáng kể, thiếu sự
đồng bộ, thống nhất. Quyết định số 112 9/QĐ-TTg về mặt nguyên tắc cho
phép chính quyền tỉnh/thành phố chủ động nghiên cứu, ban hành chính sách, kế
hoạch và giải pháp thúc đẩy kinh tế ban đêm. Tuy nhiên, việc trao quyền rộng mà
thiếu đi cơ chế tập trung đã dẫn đến tình trạng có địa phương đã ban hành kế
hoạch/đề án phát triển kinh tế ban đêm ở quy mô cấp tỉnh như tại tỉnh Quảng
Ninh, trong khi đó, tại một số địa phương, điển hình tại thành phố Hà Nội dù
chưa có chính sách phát triển kinh tế ban đêm ở cấp tỉnh nhưng cấp huyện cũ đã
chủ động ban hành như quận Hoàn Kiếm (nay bao gồm địa phận thuộc phường Hoàn
Kiếm, phường Cửa Nam, một phần phường Hồng Hà, Ba Đình) với Đ ề án số 11-ĐA/QU về “Phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn
quận Hoàn Kiếm”.
Thực trạng này đã biểu lộ mối quan hệ hữu cơ giữa
sự phân cấp, phân quyền trong bộ máy quản lý với vấn đề hoạch định chính sách
trong phát triển các hoạt động kinh tế ban đêm. Khi chính quyền cấp xã tự ban
hành kế hoạch, chính sách thúc đẩy kinh tế ban đêm mà không có sự hướng dẫn
chung từ chính quyền cấp tỉnh sẽ dẫn đến hàng loạt các hệ quả như chính sách
thiếu tầm nhìn chiến lược, không mang đầy đủ bản sắc văn hóa của cả tỉnh/thành
phố, đặc biệt xuất hiện tình trạng chồng chéo, trùng lặp, mang tính tự phát
trong nội dung chính sách phát triển[18].
Thứ ba, bất cập về cơ chế khuyến
khích đối thoại và ưu đãi trong kinh tế ban đêm
Mặc dù Quyết định số
1129/QĐ-TTg có nội dung khuyến khích kênh đối thoại, nhưng
hầu như tại các địa phương, việc này vẫn chưa được triển khai một cách hiệu
quả. Điều này thể hiện từ việc tồn tại mâu thuẫn gay gắt giữa nhu cầu giải trí,
kinh doanh về đêm của giới trẻ và các doanh nghiệp với nhu cầu chính đáng được
nghỉ ngơi, bảo đảm sự yên tĩnh của một bộ phận cư dân sinh sống trong và xung
quanh các khu vực kinh tế đêm. Vấn đề xảy ra dẫn đến các khiếu nại, tranh chấp
về ô nhiễm tiếng ồn, ùn tắc giao thông cục bộ và lo ngại về an ninh trật tự[19].
Bên cạnh đó, tại Quyết
định số 1129/QĐ-TTg cũng đặt ra vấn đề
chính sách ưu đãi, khuyến khích được ưu tiên quan tâm nhưng đến nay hầu như
chưa có tỉnh, thành phố nào xây dựng được cơ chế hỗ trợ đặc thù hiệu quả để thu
hút đầu tư, khuyến khích phát triển kinh tế ban đêm[20].
Có thể thấy, doanh nghiệp và người dân vẫn đang chủ yếu
tham gia tự phát hoặc qua phản ánh lẻ tẻ, dẫn đến chính sách ban hành thiếu
thực tế, không tạo được đồng thuận xã hội rộng rãi. Tư duy không quản được thì
cấm vẫn còn phổ biến khiến doanh nghiệp e ngại góp ý vì sợ bị siết chặt thêm,
đồng thời tồn tại sự do dự tham gia kinh doanh bởi rủi ro chi phí cao tiềm ẩn
trong hoạt động đêm.
Thứ tư, bất cập về thủ tục hành chính khi kinh doanh kinh
tế ban đêm
Các dịch vụ trong kinh tế ban đêm
chủ yếu thuộc các ngành nghề đặc thù, đòi hỏi phải có giấy phép kinh doanh
riêng bên cạnh giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đối với các
doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh,
trật tự như kinh doanh dịch vụ xoa bóp, casino, karaoke, vũ trường,... cũng
phải xin giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Các doanh nghiệp
kinh doanh bán rượu cũng phải xin thêm giấy phép bán rượu tiêu dùng tại chỗ.
Vậy để kinh doanh các ngành, nghề đặc thù của kinh tế ban đêm, các doanh nghiệp
phải xin cấp 3 đến 4 giấy chứng nhận, giấy phép, gây khó khăn cho việc lưu giữ
và khó khăn về mặt thủ tục mỗi khi xin cấp mới hoặc gia hạn nếu giấy chứng
nhận, giấy phép hết hạn.
Ngoài ra, theo quy định hiện hành,
các chuỗi nhà hàng hoặc quán bar muốn kinh doanh bán rượu phải cần đăng ký cấp
phép bán rượu tiêu dùng tại chỗ cho từng địa điểm kinh doanh riêng biệt tại địa
phương. Điều này dẫn đến tốn kém thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và rủi ro
về sự không đồng nhất giữa các địa phương. Các nghị định mới mặc dù đã phân cấp
thẩm quyền xuống cấp xã từ tháng 7/2025, nhưng điều này lại khiến các doanh
nghiệp có thể tăng số lượng hồ sơ cần xử lý nếu hoạt động đa địa điểm, thay vì giảm
bớt gánh nặng.
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Tại Việt Nam, trong những năm gần
đây, kinh tế ban đêm đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể và đóng góp rõ ràng
trong tăng trưởng tiêu dùng, kích cầu du lịch, quảng bá hình ảnh và tạo việc
làm mới, cải thiện thu nhập người lao động.
Tuy nhiên, công tác quản lý hành
chính nhà nước trên lĩnh vực này vẫn còn gặp nhiều thiếu sót như đã phân tích:
phần lớn các ngành nghề đặc thù của kinh tế ban đêm, chỉ được cho phép hoạt
động đến trước 12 giờ đêm, trừ vũ trường, phòng karaoke và quầy bar trong các
cơ sở lưu trú du lịch[21];
các cơ sở kinh doanh bán rượu tiêu dùng tại chỗ phải đăng ký thủ tục bán rượu
cho mỗi địa điểm kinh doanh, tạo gánh nặng về mặt thủ tục đối với các chuỗi nhà
hàng, quán rượu có nhiều địa điểm kinh doanh trên nhiều địa phương… Ngoài ra,
vấn đề về nhân sự và thời gian quản lý đối với hoạt động kinh tế ban đêm vẫn
chưa hợp lý khi nhân sự quản lý chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức, v.v.,
chưa có đội ngũ quản lý ổn định, và hầu hết thời gian làm việc của họ được quy
định vào ban ngày ở các tỉnh, thành phố. Trên cơ sở những nghiên cứu về kinh
nghiệm quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động kinh tế ban đêm ở các quốc
gia Trung Quốc, Vương quốc Anh và Nhật Bản, nhóm tác giả đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý hiện hành ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, về hệ thống pháp lý trong
quản lý các hoạt động kinh tế đêm.
Cần hoàn thiện hệ thống quy định
pháp luật nhằm tạo điều kiện phát triển nền kinh tế ban đêm ở Việt Nam, vì đây
là cơ sở để bộ máy hành chính thực hiện hoạt động quản lý kinh tế ban đêm. Việt
Nam cần cân nhắc nới rộng thêm thời gian hoạt động đối với nhiều lĩnh vực liên
quan đến giải trí, ăn uống sau 12 giờ đêm, và đặc biệt là vào cuối tuần khi nhu
cầu tham gia các hoạt động kinh tế ban đêm được tăng cao. Việc nới rộng thêm
thời gian hoạt động cho các doanh nghiệp này có thể tham khảo theo cơ chế của
Nhật Bản về điều kiện kinh doanh sau 12 giờ đêm, như phải đáp ứng điều kiện về
âm thanh, ánh sáng và vị trí quy hoạch ngoài khu dân cư. Việc Việt Nam đang
giới hạn thời gian hoạt động đối với các ngành, nghề đặc thù, và đặt ngoại lệ
là vũ trường, karaoke, quầy bar trong các cơ sở lưu trú du lịch đang thu hẹp sự
lựa chọn của người tiêu dùng trong việc tham gia hoạt động kinh tế đêm. Đồng
thời dẫn đến hệ quả họ sử dụng nhiều hơn các dịch vụ Nhà nước không khuyến
khích sau 12 giờ đêm.
Thứ hai, về mô hình quản lý hoạt
động kinh tế đêm.
Việt Nam có thể tham khảo
kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc phân quyền cho địa phương trong việc xây
dựng một mô hình quản lý chuyên biệt nhằm tận dụng tiềm năng phát triển kinh
tế đêm ở từng khu vực.
Đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy nhà nước, sáp nhập đơn vị hành chính và
cắt giảm tối đa biên chế, mô hình quản lý này cần được nghiên cứu kỹ với đội
ngũ chuyên trách, có trình độ, chuyên môn, phù hợp với tình hình phát triển
kinh tế ban đêm ở khu vực và mức kinh phí của địa phương. Bên cạnh đó, do đặc
thù cần phải làm việc ban đêm nhằm theo dõi tình hình phát triển cũng như quản
lý nền kinh tế về đêm nên thời giờ hoạt động và cơ chế tính lương, phụ cấp cho
các cán bộ, công chức, viên chức, v.v. làm việc sau 18 giờ cũng phải được phải
được quy định một cách thống nhất và công khai, nhằm xác định rõ thời gian làm
việc vào ban đêm, cũng như phụ cấp hỗ trợ của nguồn nhân lực này.
Ví dụ, tại Hà Nội, có thể thành lập
Ban chỉ đạo cấp thành phố/ cấp xã riêng về
triển khai mô hình Kinh tế ban đêm trên địa bàn thành phố hoặc mô hình tổ chức
chuyên trách này có thể được thiết kế theo hướng là một bộ phận nhỏ trực thuộc
cơ quan hiện có, chẳng hạn như tại Sở Du lịch thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Về
vị trí pháp lý, theo Nghị định
150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy
ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,
thì c
ơ quan quản lý kinh tế ban đêm là
cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở du lịch, quyết định thành lập theo
thẩm quyền, nhằm giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt
động kinh tế ban đêm trên địa bàn. Theo đó, về cơ chế thông qua và thực thi
chính sách, các quyết định từ bộ phận này chủ trì xây dựng sẽ được trình Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp thành phố xem xét và quyết định đối với những nội
dung quan trọng, có phạm vi tác động lớn và liên quan tới điều chỉnh ngân
sách, quy hoạch hay thời gian làm việc.
Cách bố trí lồng ghép này vừa hạn
chế phát sinh biên chế mới, vừa bảo đảm có một đầu mối đủ thẩm quyền và năng
lực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ để điều phối, giám sát, hỗ trợ và phát
triển hoạt động kinh tế ban đêm một cách hiệu quả.
Bên cạnh đó, Việt Nam có thể tham
khảo mô hình của Nhật Bản, xây dựng chức danh có
tính chất tương tự “thị
trưởng ban đêm” mang tính bán chuyên trách, là người có uy tín về quản lý trong
các doanh nghiệp kinh doanh ban đêm hoặc người nổi tiếng đóng vai trò đại diện
hình ảnh, kết nối doanh nghiệp, cộng đồng và truyền thông để quảng bá khu kinh
tế ban đêm gắn liền với sự sáng tạo, đổi mới nghệ thuật, hoạt động theo hướng
tách biệt với các chức vụ quản lý chính quyền, tùy thuộc vào điều kiện, tình
hình thực tế tại địa phương.
Thứ ba, về chính sách khuyến khích
đối thoại của người dân và doanh nghiệp trong quản lý hoạt động kinh tế ban
đêm.
Cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp
và khu vực tư nhân tham gia quá trình đóng góp ý kiến cũng như xây dựng, giám
sát và vận hành các hoạt động kinh tế ban đêm. Trước hết, cần thiết lập các
kênh thông tin đóng góp ý kiến, tham vấn trực tiếp thông qua cổng góp ý, ứng
dụng phản hồi hoặc các buổi đối thoại để người dân, doanh nghiệp có thể phản
ánh kịp thời các vấn đề do tác động của kinh tế ban đêm gây ra.
Đồng thời, Việt Nam có thể học hỏi
Vương quốc Anh trong việc thành lập một hiệp hội các doanh nghiệp trong hoạt
động kinh tế đêm, qua đó tạo ra một diễn đàn chính thức để các doanh nghiệp có
thể trao đổi, chia sẻ thông tin thị trường cũng như tương trợ nhau trong hoạt
động kinh doanh. Hiệp hội được xây dựng nhằm mục đích thúc đẩy sự hỗ trợ lẫn
nhau trong hoạt động kinh doanh, nâng cao tiêu chuẩn ngành, kết hợp với chính
quyền, cộng đồng để đảm bảo phát triển kinh tế đêm bền vững, an toàn; mặt khác
tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực đầy tiềm năng
này.
Thứ tư, về ứng dụng
công nghệ trong hệ thống quản lý hoạt động kinh tế ban đêm.
Việc phát triển hoạt
động kinh tế ban đêm luôn kéo theo các hệ lụy về việc gia tăng tội phạm và
các hành vi gây rối trật tự công cộng. Trong quá trình quản lý, nếu chỉ sử
dụng đội ngũ nhân lực giám sát thông qua camera thông thường, có nhiều trường
hợp các hành vi vi phạm sẽ bị bỏ sót. Để có thể nhanh chóng nhận diện, ngăn
chặn và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh tế ban đêm, Việt Nam
cần học hỏi kinh nghiệm ứng dụng công nghệ camera sử dụng trí tuệ nhân tạo từ
Trung Quốc, có khả năng phân tích dữ liệu gương mặt và hành vi để hỗ trợ bắt
giữ những người hành vi phạm tội. Hiện nay, hệ thống camera tích hợp trí tuệ
nhân tạo đã được lắp đặt rộng rãi trên địa bàn thành phố Hà Nội, tuy nhiên
hầu hết chỉ được sử dụng để phát hiện các hành vi vi phạm trật tự, an toàn
giao thông[22]. Do vậy, để đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động quản lý kinh tế
ban đêm, hệ thống camera tích hợp công nghệ nhân tạo ở Việt cần được nâng cấp
trên cơ sở vận dụng các công nghệ sẵn có và lắp đặt rộng rãi , đảm bảo không chỉ phục vụ cho hoạt động giám sát, xử lý vi
phạm trật tự, an toàn giao thông.
Ví dụ, Việt Nam đã có sẵn cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, vì
thế camera sử dụng trí tuệ nhân tạo có thể tích hợp công nghệ sinh trắc học
khuôn mặt, giúp nhanh chóng xác định danh tính và xử lý chủ thể có hành vi vi
phạm. Việc lắp đặt rộng rãi hệ thống camera ứng dụng trí tuệ nhân tạo sẽ
khiến các chủ thể khi tham gia các hoạt động kinh tế ban đêm ý thức được hành
vi của mình đang bị giám sát, không thể thực hiện hành vi vi phạm hay tội
phạm, đồng thời, tạo cảm giác an toàn hơn đối với người tiêu dùng và khách du
lịch khi tham gia hoạt động kinh tế ban đêm
Thứ năm , về xây dựng quy trình thủ tục hỗ trợ tài chính, thủ tục
cấp phép đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh trong hoạt động kinh tế ban
đêm.
Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm
Nhật Bản, cần có chính sách kinh tế khuyến khích, tạo động lực để các cá nhân
và tổ chức mở rộng, đa dạng hóa hoạt động về đêm. Tuy nhiên, để đảm bảo sự hiệu
quả và tính khả thi của chính sách, Việt Nam cần ban hành khung hướng dẫn rõ
ràng về trình tự, thủ tục tiếp cận các nguồn hỗ trợ tài chính bao gồm:
(1) Xác định rõ mục đích và phạm vi
của chính sách;
(2) Tiêu chí để đạt được điều kiện
nhận hỗ trợ;
(3) Hồ sơ đăng ký và biểu mẫu chuẩn;
(4) Quy trình xử lý hồ sơ với thời
hạn cụ thể cho từng bước;
(5) Phân công trách nhiệm điều hành
và thực hiện giữa các cơ quan, địa phương và đối tác tài chính;
(6) Tiêu chuẩn minh bạch và thời hạn
xử lý;
(7) Cơ chế khiếu nại và phản hồi;
(8) Hỗ trợ kỹ thuật và số hóa;
(9) Giám sát, đánh giá và điều chỉnh
chính sách;
(10) Các biện pháp bảo đảm rủi ro và
yêu cầu tuân thủ pháp luật về an toàn, phòng cháy chữa cháy, môi trường, lao
động…
Tuy nhiên, trong việc triển khai,
thực hiện chính sách này, Việt Nam có thể phân công quyền hạn và trách nhiệm
cho từng địa phương. Các địa phương được cấp phép sẽ thực hiện việc ban hành
các quy định về trình tự, thủ tục riêng phù hợp với điều kiện về ngân sách và
nhân sự ở khu vực của mình.
Bên cạnh đó, các thủ tục hành chính
đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ kinh tế ban đêm cũng cần được đơn giản
hóa. Ngoài giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép kinh doanh, các giấy
phép như giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, giấy phép bán rượu
tiêu dùng tại chỗ có thể được tích hợp ngay trong giấy phép kinh doanh của
doanh nghiệp và tránh việc một doanh nghiệp phải đăng ký nhiều lần cho nhiều
địa điểm kinh doanh và lưu trữ nhiều giấy chứng nhận, giấy phép.
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay,
kinh tế ban đêm đã trở thành một xu hướng phát triển nổi bật, đầy tiềm năng,
góp phần mở rộng không gian thúc đẩy kinh tế, gia tăng tiêu dùng và phát huy sự
giao thoa văn hóa, xã hội địa phương và quốc tế ở nhiều quốc gia. Việt Nam cũng
không nằm ngoài xu thế này khi Đảng và Nhà nước ngày càng có nhận thức sâu sắc
về vai trò của kinh tế ban đêm đối với tăng trưởng dịch vụ du lịch, chuyển đổi
mô hình phát triển đô thị mới và nâng cao chất lượng đời sống tinh thần và vật
chất của nhân dân. Sự quan tâm của các cấp chính quyền được thể hiện qua việc
ban hành nhiều chủ trương, chính sách ở cả cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp xã
nhằm định hướng và khuyến khích phát triển kinh tế đêm trong những năm gần đây
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai đã
cho thấy kinh tế ban đêm ở Việt N am vẫn chưa phát huy hết tiềm năng vốn có. Quy định về quản
lý kinh tế ban đêm còn chưa đồng nhất, gây bất lợi trong phát triển du lịch,
kinh doanh đêm; hệ thống quản lý còn phân tán, thiếu một cơ chế điều phối, vận
hành thống nhất, theo kịp tốc độ phát triển của các hoạt động dịch vụ mới; sự
tham gia đóng góp của người dân địa phương và doanh nghiệp còn manh mún, chưa
được liên kết phối hợp quản lý nhà nước về kinh tế đêm hiệu quả. Những hạn chế
này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một thể chế quản lý điều hành, kiểm
soát phù hợp, hiện đại và tối giản.
Trong quá trình hoàn thiện khung
pháp lý, cũng như quy trình quản trị, sự tiếp thu những kinh nghiệm quốc tế tại
Trung Quốc, Nhật Bản và Vương quốc Anh là một phương pháp quan trọng và tất
yếu. Tuy nhiên, tiếp thu không phải là áp dụng một cách cứng nhắc mô hình từ
nước ngoài, mà là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với điều kiện thể
chế, văn hóa và đặc thù đô thị tại Việt Nam. Qua đó, kinh tế ban đêm mới có t trở thành một trụ cột
phát triển mới, vừa tạo ra doanh thu lớn, vừa bảo đảm an ninh, trật tự và bản
sắc, tính bền vững của quốc gia nói chung, từng địa phương nói riêng.
Danh mục tài liệu tham khảo:
1.
Quyết
định số 1129/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án phát triển kinh tế ban đêm tại Việt Nam
2.
Nghị
định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ ban hành Quy
chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng.
3.
Nghị
định 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy
ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
4.
Act
on Control and Improvement of Amusement Business, etc., Law No. 60 of 1948
(as amended by Law No. 60 of 2020), art. 13 (Japan)
5.
Ordinance
for Enforcement of the Act on Control and Improvement of Amusement Business,
etc., Nat’l Pub. Safety Comm’n Reg. No. 18 of 2020, art. 75, cl. 5 (Japan)
6.
Cabinet Order for Enforcement of
the Act on Control and Improvement of Amusement Business, etc., Cabinet Order
No. 388 of 2020, art. 9 (Japan).
7.
NGUYỄN
NGỌC SƠN, P HÁT TRIỂN KINH TẾ BAN ĐÊM Ở V IỆT N AM, N XB. C HÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT,
15 (2023).
8.
Nguyễn Danh Nam, Uông Thị Ngọc Lan,
Phát
triển kinh tế ban đêm - Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý chính sách cho vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung,
Tạp chí Kinh doanh và Công nghệ, số 19, 38, 40-41 (2022).
9.
An Nhiên, Quản
lý phố đi bộ Hồ Gươm - Giá trị văn hóa đặt trên giá trị kinh tế, Kinh tế đô thị, (06/01/2024), https://kinhtedothi.vn/quan-ly-pho-di-bo-ho-guom-gia-tri-van-hoa-dat-tren-gia-tri-kinh-te.html
10.
Bích
Thuận
, Các
chính sách khuyến khích phát triển “kinh tế ban đêm” của Bắc Kinh,
VOV Tiếng nói Việt Nam (24/07/2019) https://vov.vn/kinh-te/cac-chinh-sach-khuyen-khich-phat-trien-kinh-te-ban-dem-cua-bac-kinh-935491.vov.
11.
Cổng thông tin điện tử Công an Thành phố Hà Nội, Công an thành phố Hà Nội vận hành 1.873 camera AI từ tháng
12/2025 góp phần từng bước nâng cao hạ tầng bảo đảm trật tự, an toàn giao
thông Thủ đô,
(23/10/2025),
https://congan.hanoi.gov.vn/tin-tuc/cong-an-thanh-pho-ha-noi-van-hanh-1-873-32885.
12.
Lê Mạnh Hùng, Phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức đặt
ra, Kinh tế và Dự báo (11/08/2021), https://kinhtevadubao.vn/phat-trien-kinh-te-ban-dem-o-viet-nam-co-hoi-va-thach-thuc-dat-ra-18812.html.
13.
Lệ
Hằng, TPHCM làm gì để khai thác hiệu quả
kinh tế về đêm ở phố đi bộ?, VOV Tiếng nói Việt
Nam (09/10/2020), https://vov.vn/xa-hoi/tphcm-lam-gi-de-khai-thac-hieu-qua-kinh-te-ve-dem-o-pho-di-bo-784625.vov.
14.
Phạm Thúy Nga, Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn trong điều
tra tội phạm - Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới và một số gợi ý cho
Việt Nam, Dân chủ & Pháp luật (22/05/2023),
https://danchuphapluat.vn/ung-dung-tri-tue-nhan-tao-va-phan-tich-du-lieu-lon-trong-dieu-tra-toi-pham-kinh-nghiem-cua-cac-quoc-gia-tren-the-gioi-va-mot-so-goi-y-cho-viet-nam-540.html.
15.
PV,
Kinh tế đêm: Cú hích giúp các nước
hồi sinh ngành du lịch, Công
an nhân dân,
(14/02/2025), https://cand.com.vn/Kinh-te/kinh-te-dem-cu-hich-giup-cac-nuoc-hoi-sinh-nganh-du-lich-i759093/.
16.
Trần Vũ Hải, Nguyễn Sơn Hải, Chính sách phát triển kinh tế ban đêm tại một số địa phương
hiện nay và bình luận, kiến nghị
, Dân chủ và Pháp luật
(24/08/2022) https://danchuphapluat.vn/chinh-sach-phat-trien-kinh-te-ban-dem-tai-mot-so-dia-phuong-hien-nay-va-binh-luan-kien-nghi-1-2968.html
17.
Phùng Lê Dung, Xây dựng thể chế kinh
tế đêm ở Việt Nam hiện nay, Quản lý nhà nước (14/11/2025), https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/11/14/xay-dung-the-che-kinh-te-dem-o-viet-nam-hien-nay/.
18.
Giang Nam, Tạo điều kiện để thúc
đẩy kinh tế ban đêm, Nhân Dân (11/06/2024), https://nhandan.vn/tao-dieu-kien-de-thuc-day-kinh-te-ban-dem-post813716.html.
19.
JAMES FARRER, THE SAGE HANDBOOK OF CONTEMPORARY CHINA, SAGE
PUBLICATION, 1113 (2018).
20.
Mahmoud, M. H.,
& Zmyślony, P. , Evaluating nighttime governance structures:
Implications for urban policy in Night Mayor and consultative body models, Studia Periegetica, 45(1),
83-84 (2024).
21.
Julieta
Cuneo , 24 Hour London & London Night
Czar,
The Time Use Initiative,
https://timeuse.barcelona/good-practices/24-hour-london-czar/.
22.
The Yomiuri Shimbun, Japan’s
nighttime economy in spotlight as tourists return, Asia News Network, (17/08/2023),
https://asianews.network/japans-nighttime-economy-in-spotlight-as-tourists-return/.
23.
仁木一彦
, ナイトタイムエコノミーの海外事例と日本の動向, Business Lawyers, (18/07/2019),
https://www.businesslawyers.jp/articles/573.
24. Osaka Prefectural Government , 令和7年度大阪府ナイトカルチャー発掘・創出事業 令和7年度「大阪府ナイトカルチャー発掘・創出事業補助金」補助対象事業(新規)の募集について, (01/08/2025) https://www.pref.osaka.lg.jp/o070080/miryokuzukuri/night-culture/night-bosyu-r7.html.
[*] TS – GVC, Phó trưởng khoa PL Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội, ngày duyệt đăng 31/12/2025
[**] SV, Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội
[***] SV, Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội
[****] SV, Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Email: vuduy210805@gmail.com
[1]
An
Nhiên, Quản
lý phố đi bộ Hồ Gươm-Giá trị văn hóa đặt trên giá trị kinh tế, Kinh tế đô thị,
(06/01/2024), https://kinhtedothi.vn/quan-ly-pho-di-bo-ho-guom-gia-tri-van-hoa-dat-tren-gia-tri-kinh-te.html.
[2] Lệ Hằng, TPHCM
làm gì để khai thác hiệu quả kinh tế về đêm ở phố đi bộ?. VOV Tiếng nói Việt Nam
(09/10/2020), https://vov.vn/xa-hoi/tphcm-lam-gi-de-khai-thac-hieu-qua-kinh-te-ve-dem-o-pho-di-bo-784625.vov.
[3] JAMES FARRER,THE SAGE HANDBOOK OF CONTEMPORARY CHINA, SAGE
PUBLICATION, 1113 (2018).
[4] NGUYỄN NGỌC SƠN, PHÁT TRIỂN KINH TẾ BAN ĐÊM Ở VIỆT NAM,
NXB. CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT, 15 (2023).
[5] Lê Mạnh Hùng,
Phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức đặt ra, Kinh tế
và Dự báo (11/08/2021),
https://kinhtevadubao.vn/phat-trien-kinh-te-ban-dem-o-viet-nam-co-hoi-va-thach-thuc-dat-ra-18812.html.
[6] Nguyễn
Danh Nam, Uông Thị Ngọc Lan, Phát triển kinh tế ban đêm - Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý
chính sách cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Kinh
doanh và Công nghệ, số 19, 38, 40-41 (2022).
[7] Bích Thuận , Các
chính sách khuyến khích phát triển “kinh tế ban đêm” của Bắc Kinh, VOV Tiếng nói Việt Nam
(24/07/2019), https://vov.vn/kinh-te/cac-chinh-sach-khuyen-khich-phat-trien-kinh-te-ban-dem-cua-bac-kinh-935491.vov.
[8] PV, Kinh
tế đêm: Cú hích giúp các nước hồi sinh ngành du lịch, Công an nhân dân, (14/02/2025), https://cand.com.vn/Kinh-te/kinh-te-dem-cu-hich-giup-cac-nuoc-hoi-sinh-nganh-du-lich-i759093/.
[9] Phạm Thúy Nga, Ứng
dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn trong điều tra tội phạm - Kinh
nghiệm của các quốc gia trên thế giới và một số gợi ý cho Việt Nam, Dân
chủ & Pháp luật (22/05/2023), https://danchuphapluat.vn/ung-dung-tri-tue-nhan-tao-va-phan-tich-du-lieu-lon-trong-dieu-tra-toi-pham-kinh-nghiem-cua-cac-quoc-gia-tren-the-gioi-va-mot-so-goi-y-cho-viet-nam-540.html.
[10] The Yomiuri Shimbun, Japan’s nighttime economy in spotlight as tourists return, Asia News Network
(17/08/2023), https://asianews.network/japans-nighttime-economy-in-spotlight-as-tourists-return/.
[11] 仁木一彦
, ナイトタイムエコノミーの海外事例と日本の動向,
Business Lawyers
(18/07/2019), ナイトタイムエコノミーの海外事例と日本の動向 - BUSINESS
LAWYERS.
[12] Act on
Control and Improvement of Amusement Business, etc., Law No. 60 of 1948
(as amended by Law No. 60 of 2020), art. 13 (Japan).
[13] Ordinance
for Enforcement of the Act on Control and Improvement of Amusement Business,
etc., Nat’l Pub. Safety Comm’n Reg. No. 18 of 2020, art. 75, cl. 5
(Japan).
[14] Cabinet
Order for Enforcement of the Act on Control and Improvement of Amusement
Business, etc., Cabinet Order No. 388 of 2020, art. 9 (Japan).
[15] Osaka Prefectural Government
, 令和7年度大阪府ナイトカルチャー発掘・創出事業 令和7年度「大阪府ナイトカルチャー発掘・創出事業補助金」補助対象事業(新規)の募集について, (01/08/2025) https://www.pref.osaka.lg.jp/o070080/miryokuzukuri/night-culture/night-bosyu-r7.html.
[16] Julieta Cuneo , 24 Hour London
& London Night Czar, The Time Use Initiative, https://timeuse.barcelona/good-practices/24-hour-london-czar/.
[17] Mahmoud, M. H., & Zmyślony, P. , Evaluating nighttime governance structures: Implications
for urban policy in Night Mayor and consultative body models,
Studia Periegetica, 45(1),
83-84 (2024)
[18] Trần Vũ Hải, Nguyễn Sơn Hải, “Chính sách phát triển kinh tế ban đêm tại một số địa
phương hiện nay và bình luận, kiến nghị”, Dân chủ và Pháp luật, (24/08/2022) https://danchuphapluat.vn/chinh-sach-phat-trien-kinh-te-ban-dem-tai-mot-so-dia-phuong-hien-nay-va-binh-luan-kien-nghi-1-2968.html
[19] TS. Phùng Lê Dung, Xây dựng thể chế kinh tế đêm ở Việt Nam hiện nay, Quản lý nhà nước
(14/11/2025), https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/11/14/xay-dung-the-che-kinh-te-dem-o-viet-nam-hien-nay/.
[20] Giang Nam, Tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế ban đêm, Nhân Dân (11/06/2024), https://nhandan.vn/tao-dieu-kien-de-thuc-day-kinh-te-ban-dem-post813716.html.
[21] Điều 37 Nghị định số 103/2009/NĐ-CP.
[22] Cổng thông tin điện tử Công an Thành phố Hà Nội, Công an thành phố Hà Nội vận hành 1.873 camera AI từ
tháng 12/2025 góp phần từng bước nâng cao hạ tầng bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông Thủ đô, (23/10/2025),
https://congan.hanoi.gov.vn/tin-tuc/cong-an-thanh-pho-ha-noi-van-hanh-1-873-32885.