Cơ sở pháp lý cho công tác TGPL
Hiện nay có 22 văn bản quy phạm pháp luật về TGPL, gồm Luật TGPL năm 2017, 1 nghị định, 15 thông tư và 5 thông tư liên tịch. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ cho hoạt động TGPL trên toàn quốc. Cùng với đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật có một số quy định về TGPL được ban hành như: Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phòng, chống mua bán người, Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp...
Theo Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp), các chính sách trợ giúp pháp lý còn được lồng ghép vào nhiều Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần nội luật hóa các cam kết quốc tế về bảo đảm quyền con người.
Các văn bản quy phạm pháp luật và các chương trình này đã góp phần hiện thực hóa các chủ trương chính sách của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 2013 và nội luật hóa các cam kết quốc tế về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý, nhất là nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.
Công tác phối hợp liên ngành là một trong những yếu tố quyết định chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thông báo, giới thiệu và tạo điều kiện cho người được trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở đó, nhiều văn bản phối hợp quan trọng đã được ban hành, bao gồm Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC quy định về phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, cũng như các Chương trình phối hợp về trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án nhân dân và Cơ quan điều tra hình sự. Sự liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan đã tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện một cách tốt nhất.
Việc hoàn thiện hành lang pháp lý đã giúp các Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước ở 63 tỉnh, thành phố hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, thống nhất. Thực tiễn thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cho thấy sự chuyển biến căn bản trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý công.
Nhiều kết quả nổi bật trong công tác trợ giúp pháp lý
Sau khi Luật TGPL năm 2017 có hiệu lực, từ năm 2018 đến năm 2024 có 234.569 vụ việc TGPL, trong đó có 139.232 vụ việc tham gia tố tụng, chiếm 59,4%; 93.266 vụ việc tư vấn pháp luật; 2.071 vụ việc đại diện ngoài tố tụng. Như vậy, đã có sự chuyển biến rõ rệt trong việc tập trung vào vụ việc tham gia tố tụng. Trong số các vụ việc tham gia tố tụng, có 43.938 vụ việc được đánh giá thành công (chiếm 31,6% tổng số vụ việc tố tụng), trong đó trợ giúp viên pháp lý thực hiện 37.999 vụ việc, chiếm 86% tổng số vụ việc thành công.
Từ năm 2019, Bộ Tư pháp đã vận hành hệ thống quản lý TGPL, quản lý tập trung dữ liệu vụ việc, tổ chức, cá nhân thực hiện TGPL trên toàn quốc. Năm 2024, hệ thống này đã kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và đã bước đầu khai thác thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Người dùng có thể tra cứu thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên hệ thống khi nhập thông tin về người được TGPL, người yêu cầu TGPL và người thực hiện TGPL. Nhiều địa phương đã thiết lập điểm cầu xét xử trực tuyến. Tính đến cuối năm 2024, đã có 24 tỉnh đã thiết lập điểm cầu tại trung tâm TGPL, trợ giúp viên pháp lý đã tham gia 610 vụ việc xét xử trực tuyến.
Trong những năm qua, trụ sở làm việc của trung tâm và chi nhánh của trung tâm được UBND cấp tỉnh quan tâm bố trí. Đa số các trung tâm được bố trí các địa điểm phù hợp, thuận tiện cho người dân đến yêu cầu TGPL. Tính đến 31/12/2024, đã có 34 trung tâm được bố trí trụ sở riêng, 29 trung tâm nhà nước được bố trí chung trụ sở với Sở Tư pháp hoặc các đơn vị khác thuộc Sở.
Bên cạnh đó, chất lượng giải quyết vụ việc ngày càng được nâng lên nhờ áp dụng quy trình nghiệp vụ thống nhất, kiểm tra, giám sát thường xuyên, đặc biệt trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính. Nhiều địa phương như Hà Nội, Quảng Ninh, Bình Định, Lâm Đồng đã triển khai các mô hình "Trợ giúp pháp lý lưu động", "Phiên tòa giả định", "Câu lạc bộ người được trợ giúp pháp lý", giúp pháp luật đến gần hơn với người dân ở cơ sở.
Những khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai
Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng bộc lộ một số khó khăn, bất cập. Cụ thể:
(1) Một số diện người được TGPL đã được quy định tại Luật Phòng, chống mua bán người và Luật Tư pháp người chưa thành niên nhưng chưa được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
(2) Về lĩnh vực TGPL, Khoản 1 Điều 27 Luật TGPL năm 2017 quy định cứng “TGPL được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật, trừ lĩnh vực kinh doanh thương mại”. Tuy nhiên, trong bối cảnh Đảng, nhà nước ta đang chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, nhiều người thuộc diện hộ nghèo, có nguyện vọng được tư vấn để đầu tư kinh doanh, vay vốn để làm ăn với mục đích thoát nghèo… nhưng không được TGPL vì không thuộc lĩnh vực TGPL.
(3) Người khuyết tật thuộc nhóm người “yếu thế”, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng hiện nay chỉ người khuyết tật có khó khăn về tài chính mới thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 thì nhóm thân nhân của người có công với cách mạng (gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ), người nhiễm chất độc da cam cần có điều kiện “có khó khăn về tài chính” mới thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Bị hại trong vụ án hình sự đang chỉ giới hạn ở nhóm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi có khó khăn về tài chính.
(4) Hiện nay, Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế, trong đó có các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự, quy định việc trợ giúp pháp lý cho người nước ngoài nhưng Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 chưa có quy định về nhóm đối tượng này.
(5) Về cộng tác viên trợ giúp pháp lý: Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đang giới hạn chỉ một số nhóm người; về địa bàn sử dụng cộng tác viên, Luật giới hạn chỉ ký kết hợp đồng với cộng tác viên ở “vùng có điều kiện kinh tế. -xã hội đặc biệt khó khăn”. Đồng thời, cộng tác viên trợ giúp pháp lý chỉ được thực hiện các vụ việc trợ giúp pháp lý theo hình thức tư vấn pháp luật mà không được tham gia tố tụng hoặc đại diện ngoài tố tụng.
(6) TGPL được thực hiện theo 3 hình thức là tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng. Trên thực tế, còn có các hình thức như hòa giải, tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân … chưa được ghi nhận trong Luật TGPL.
(7) Thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, nhiều tỉnh, thành phố đã được sáp nhập, có địa bàn rất rộng, điều kiện địa lý và giao thông đi lại rất khác nhau, dân số đông và đa dạng. Trong khi đó, khoản 2 Điều 11 Luật TGPL năm 2017 quy định chi nhánh được thành lập tại các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến trung tâm... Vì vậy, quy định này của Luật TGPL không còn phù hợp với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/202555/QH15. Mặt khác, Luật TGPL năm 2017 chưa quy định cụ thể trách nhiệm của UBND cấp xã trong công tác TGPL. Điều này chưa phù hợp với yêu cầu tăng cường vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền của chính quyền cơ sở khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay.
Sửa đổi Luật là yêu cầu cấp thiết
Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc rà soát và sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 là yêu cầu cấp thiết, xuất phát từ các Nghị quyết và chủ trương mang tính đột phá của Đảng.
Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XIII đã xác định nhiệm vụ xây dựng mạng lưới trợ giúp pháp lý, nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp và chất lượng trợ giúp pháp lý, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp.
Đặc biệt, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị yêu cầu thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ trợ giúp pháp lý, đồng thời xác định mục tiêu cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những "điểm nghẽn" do quy định pháp luật, trong đó có Luật Trợ giúp pháp lý, bảo đảm phát huy vai trò của trợ giúp pháp lý trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
Trước những yêu cầu chính trị và pháp lý này, Bộ Tư pháp đã đề nghị đưa dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 vào Chương trình xây dựng Luật năm 2026, dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Khóa XVI vào tháng 4 năm 2026. Việc này nhằm nhận diện, thảo luận và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, "điểm nghẽn" trong quy định của Luật và thực tiễn thực hiện, đáp ứng yêu cầu đổi mới trong kỷ nguyên mới.
Từ các cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 là cần thiết nhằm giải quyết những bất cập, hạn chế trong quy định hiện hành của luật và đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền được tiếp cận công lý của người dân, đặc biệt là nhóm “yếu thế” trong xã hội, phù hợp với tình hình và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước hiện nay.