Tóm
tắt: Bài viết phân tích một số khía cạnh pháp
lý về tên doanh nghiệp trong quá trình thành lập doanh nghiệp, quản lý nhà nước
đối với tên doanh nghiệp trong Luật đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014 tại
Singapore. Qua đó, nhận thấy được tầm quan trọng của việc thiết lập cơ quan chuyên trách quản lý tên doanh
nghiệp. Đồng thời, các quy định cho phép nhà đầu tư
lưu giữ tên doanh nghiệp trước rồi thành lập doanh nghiệp sau, cùng với quy
trình đăng ký tên doanh nghiệp chặt chẽ là những kinh nghiệm lập pháp mà Việt
Nam có thể nghiên cứu tiếp thu để hoàn thiện pháp luật liên quan đến tên doanh
nghiệp trong thời gian tới.
Từ khóa: Tên doanh
nghiệp, Luật đăng ký tên doanh nghiệp, cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp, Singapore, Việt Nam
Abstract: This article analyzes several
legal aspects of business name registration during the process of establishing
a business, as well as the state management of business names under Singapore’s 2014 Enterprise Name Registration
Act. The establishment of a specialized authority responsible for managing
enterprise names, the mechanism allowing investors to reserve an enterprise
name prior to forming the business, and the relatively stringent enterprise
name registration procedures are legislative experiences that Vietnam may
consider adopting in order to improve its legal framework on enterprise names
in the future.
Keywords: Business name,
Business Names Registration Act, enterprise, Singapore, Vietnam
I. Dẫn nhập
Theo Eva Micheler thì các công ty hoặc tổ chức là
những chủ thể độc lập, có khả năng tự chủ nhất định. Sự tồn tại của các công ty
không chỉ đơn thuần là sự tổng hợp các đóng góp từ những người tham gia trong
các thời điểm cụ thể mà còn được đặc trưng bởi thói quen, quy trình, thủ tục và
văn hoá, là kết quả của việc tương tác xã hội giữa các thành viên.[1] Các
đặc trưng này giúp định hình thương hiệu công ty và tạo sự khác biệt trên thị
trường. Sự khác biệt của thương hiệu trong nhận thức của khách hàng, các đối
tác bên ngoài được bắt đầu bằng tên doanh nghiệp. Trong quá trình khai sinh
doanh nghiệp, tên doanh nghiệp là yếu tố quan trọng bậc nhất tại nhiều nền kinh
tế trên thế giới. Tại Việt Nam, tên doanh nghiệp có hành trình khá dài về mặt
lịch sử lập pháp.[2] Đến
nay, các vấn đề liên quan đến đăng ký doanh nghiệp và đặt tên doanh nghiệp tại
Việt Nam đang được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung
năm 2022 và 2025) và Nghị định 168/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2025 về đăng
ký doanh nghiệp.
Theo
thống kê vào năm 2024, dù tình hình kinh tế trong nước vẫn còn nhiều khó khăn
nhưng vẫn có đến 157,240 doanh nghiệp được thành lập mới với tổng số vốn
đăng ký là 1,547,032 tỷ đồng.[3]
Tiếp đó, trong 6 tháng đầu năm 2025, cả nước có trên 91,000 doanh nghiệp thành
lập mới. Với số lượng doanh nghiệp thành lập mới gia tăng nhanh chóng trong
thời gian qua tại Việt Nam đã đặt ra nhiều thách thức cho cơ quan đăng ký kinh
doanh (sau đây viết tắt là ĐKKD) trong giải quyết cấp giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp (sau đây viết tắt là GCNĐKDN) cho nhà đầu tư. Trong đó, tồn tại
những vấn đề bất cập liên quan đến tên doanh nghiệp - một trong những điều kiện
tiên quyết để được cấp GCNĐKDN.
Từ
nội dung của Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04 tháng 05 năm 2025 của Bộ Chính trị về
phát triển kinh tế tư nhân, có thể thấy rằng, việc tạo thuận lợi cho nhà đầu tư
trong đăng ký doanh nghiệp (sau đây viết tắt là ĐKDN) có ý nghĩa quan trọng,
góp phần thúc đẩy kinh tế quốc gia. Vì lẽ đó, bài viết xác định những vấn đề
bất cập trong ĐKDN liên quan đến tên doanh nghiệp và thực hiện nghiên cứu cải
tiến. Trong quá trình này, bài viết nhận thấy rằng, các quy định tại Luật Đăng
ký tên doanh nghiệp năm 2014 (Business Names Registration Act 2014) của
Singapore[4]
có khả năng phù hợp để tiếp thu giải quyết những vấn đề còn tồn đọng tại Việt
Nam. Thế nên, bằng phương pháp so sánh chức năng, bài viết gợi ý những cơ chế,
thủ tục đã được Singapore áp dụng thành công trong quản lý, điều chỉnh các vấn
đề liên quan đến tên doanh nghiệp trong ĐKDN.
II. Các lý thuyết liên quan
Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) là một trong
những khung lý thuyết phổ biến dùng để giải thích sự tương tác giữa các tổ chức
trong quá trình hình thành và phát triển của chúng với tư cách là những chủ thể
xã hội. Sự phát triển của lý thuyết này bắt đầu từ Douglass North, trong kinh
tế học thể chế mới, thể chế tạo ra một “cấu trúc khuyến khích”[5] ảnh
hưởng đến chi phí giao dịch và từ đó định hình các quyết định kinh tế phù hợp
với bối cảnh xã hội.[6] Tiếp
đó, nghiên cứu của Meyer và Rowan đã khẳng định rằng, hành vi của tổ chức không
chỉ được định hướng bởi hiệu quả kinh tế, mà còn bởi nhu cầu đạt được tính
chính đáng (legitimacy) trong khuôn khổ thể chế xã hội mà tổ chức tồn tại.[7] Các
quan điểm nền tảng này được Oliver mở rộng, theo đó, tổ chức còn có thể chủ
động phản ứng, thích nghi hoặc thương lượng với các ràng buộc thể chế nhằm vừa
duy trì tính chính đáng, vừa bảo vệ lợi ích chiến lược của mình.[8] Nói
cách khác, các quy định pháp lý, với vai trò là một trong những thành phần thể
chế chính thức, đang tác động và chịu tác động từ hành vi của doanh nghiệp.[9] Tuy
nhiên, để được hưởng các quyền và nghĩa vụ pháp lý này, thì trước hết doanh
nghiệp phải là một tổ chức được thừa nhận thông qua việc ĐKDN, trong đó, phải
kể đến đầu tiên là thủ tục đặt tên. Tóm lại, lý thuyết này giúp lý giải mối
quan hệ giữa tổ chức và pháp luật làm cơ sở để cải thiện pháp luật về ĐKDN liên
quan đến tên doanh nghiệp do nhu cầu chính đáng của tổ chức.
Bên cạnh đó,
theo Gindis, doanh nghiệp là một chủ thể thực tế (real entity) trên cơ sở đáp
ứng đặc trưng cơ bản về bản chất nhận dạng, tính thống nhất, và sự bền vững.[10] Tên
doanh nghiệp là hình thức thể hiện của các đặc điểm này vì: thứ nhất,
tên doanh nghiệp cho phép các chủ thể xã hội khác phân biệt một doanh nghiệp cụ
thể này với các chủ thể kinh doanh khác; thứ hai, tên doanh nghiệp là
biểu tượng cho sự tổng hợp các giá trị tạo thành,[11] như giá trị về nhân lực,
văn hóa và thương mại; thứ ba, tên doanh nghiệp có tính ổn định và liên
tục, gắn bó lâu dài xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển và duy trì uy
tín trên thị trường. Vì thế nên, bài viết còn vận dụng lý thuyết tín hiệu
(“Signaling theory”) để lý giải vai trò của tên doanh nghiệp như một công cụ
truyền tải thông tin và định vị trên thị trường. Lý thuyết tín hiệu ra đời từ
nghiên cứu về thị trường lao động của Michael Spence,[12] và ngày nay được áp dụng
rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, trong đó có quản trị doanh nghiệp. Thông qua tên
gọi, doanh nghiệp có thể cung cấp cho các chủ thể trên thị trường những tín
hiệu về loại hình hoạt động, lĩnh vực kinh doanh, quy mô, uy tín, hoặc mối quan
hệ sở hữu. Trong bối cảnh đó, quy định pháp luật về tên doanh nghiệp đóng vai
trò như một công cụ thể chế hỗ trợ quá trình phát tín hiệu, bảo đảm rằng thông
tin được truyền tải một cách chính xác, minh bạch và phù hợp với trật tự thị
trường. Việc chuẩn hóa quy trình và kiểm soát tên doanh nghiệp giúp ngăn ngừa
sự trùng lặp hoặc gây nhầm lẫn, từ đó duy trì tính minh bạch của thông tin thị
trường. Ví dụ điển hình là công ty cổ phần FPT, khi nghe tên doanh nghiệp này
công chúng liên tưởng ngay về dịch vụ công nghệ thông tin, đội ngũ lãnh đạo và
phương châm kinh doanh đặc trưng của công ty và đồng thời, là biểu tượng của
chất lượng ổn định, hoạt động lâu dài trên thị trường.
Vậy, bằng lý
thuyết thể chế và lý thuyết tín hiệu, khi tên doanh nghiệp trở thành phương
tiện nhận diện xã hội của tổ chức, việc can thiệp điều chỉnh các vấn đề như lựa
chọn, sử dụng và bảo hộ tên doanh nghiệp là điều tất yếu. Pháp luật đóng vai
trò như một thể chế chính thức, tác động trực tiếp đến hành vi lựa chọn, đăng
ký và quản lý tên doanh nghiệp. Khi số lượng doanh nghiệp hoạt động trên thị
trường ngày càng tăng, sự tồn tại của một thể chế chính thức như pháp luật trở
thành công cụ hữu hiệu để giảm chi phí giao dịch.[13] Việc chuẩn hóa quy định về
điều kiện, trình tự, thủ tục đăng ký và quản lý tên doanh nghiệp giúp đồng bộ
hóa tiêu chuẩn gia nhập thị trường, đảm bảo tính minh bạch và khả năng dự đoán
trong môi trường kinh doanh. Từ đó, việc tuân thủ pháp luật không chỉ là nghĩa
vụ pháp lý, mà còn là cơ sở của tính chính đáng trong hoạt động kinh doanh.
III. Luật Đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014 của Singapore
Singapore
là quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh và bậc nhất của thế giới trong
nhiều thập niên qua, với tỷ lệ số doanh nghiệp tính trên đầu người dân rất cao
và cơ chế thành lập doanh nghiệp thông thoáng, hiệu quả. Theo Ngân hàng Thế
giới (WB), chỉ số thông thoáng trong thành lập doanh nghiệp tại Singapore được
đánh giá rất cao ở thang điểm 93.57/100 điểm (giữ khoảng cách xa so với Việt
Nam chỉ đạt 65.47 điểm).[14]
Thành quả này đến từ sự cải cách môi trường kinh doanh, mà theo đó, việc cải
cách pháp luật theo hướng minh bạch, phù hợp trong một khoảng thời gian ngắn đã
tạo động lực thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển tại Singapore. Các đạo luật
quan trọng liên quan đến doanh nghiệp mà quốc đã này đã ban hành và thực thi
trong suốt nhiều thập kỷ qua, có thể kể đến đầu tiên là Luật Công ty năm 1967;
tiếp theo là Luật Đăng ký doanh nghiệp năm 1974 và đặc biệt là Luật Đăng ký tên
doanh nghiệp năm 2014 – đạo luật điều chỉnh riêng biệt về tên doanh nghiệp mà
hiếm có quốc gia nào trên thế giới có được. Luật Đăng ký tên doanh nghiệp của
Singapore vào năm 2014 mang dấu ấn riêng biệt, có hiệu lực từ ngày 03/01/2016
đến nay. Việc ban hành đạo luật riêng về đăng ký tên doanh nghiệp tại Singapore
là bước đột phá trong hoạt động lập pháp tại đảo quốc này, trong khi tại nhiều
nền kinh tế khác như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản, kể cả Việt Nam cũng đều
chưa có hoạt động lập pháp tương tự. Một đạo luật riêng về tên doanh nghiệp đã
góp phần tháo gỡ nhiều vướng mắc quan trọng trong quá trình ĐKDN liên quan đến
vấn đề tên riêng, giúp giải quyết dứt điểm các vấn đề pháp lý phát sinh từ thực
tiễn thực hiện quy định về tên doanh nghiệp trong Luật Đăng ký doanh nghiệp năm
1974 (sau này là Luật Đăng ký doanh nghiệp năm 2004). Từ đó, bảo vệ lợi ích của
nhà đầu tư tốt hơn trong việc lưu giữ, đăng ký tên doanh nghiệp và đồng thời là
cơ sở pháp lý để tăng cường tính hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp. Đây cũng chính là lý do cho việc học hỏi, tiếp thu từ Singapore cách
giải quyết đối với những vấn đề tương tự hiện đang có ở Việt Nam.
Luật Đăng ký
tên doanh nghiệp năm 2014 của Singapore được thiết kế gồm có ba phần với 45
điều luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tên doanh nghiệp như điều kiện
đăng ký, cách thức đăng ký, trình tự, thủ tục đăng ký, địa vị pháp lý của cơ
quan, cá nhân liên quan đến quản lý tên doanh nghiệp, vấn đề lưu giữ tên doanh
nghiệp (reserve a name). Với nền tảng pháp lý cụ thể, rõ ràng, một mặt, đạo
luật có tác động tích cực trong việc thúc đẩy sự gia nhập thị trường của nhà
đầu tư, tạo thuận lợi cho cơ quan công quyền giải quyết thủ tục thành lập doanh
nghiệp tại quốc gia này một cách nhanh chóng cho nhà đầu tư. Mặt khác, đạo luật
này còn tạo hành lang pháp lý để bảo vệ nhà đầu tư đối với tên doanh nghiệp mà
họ đã đặt trước, là cơ sở để xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến tên doanh
nghiệp tại đảo quốc này. Hiện nay, Luật Đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014 tại
Singapore bao gồm nhưng không giới hạn các vấn đề pháp lý cơ bản như sau:
Thứ
nhất, Singapore thiết lập cơ quan và cán bộ chuyên trách trong quản lý đăng ký
tên doanh nghiệp. Theo
đó, cơ quan chuyên trách giải quyết đăng ký doanh nghiệp cho nhà đầu tư có tên
gọi là Cơ quan quản lý doanh nghiệp và kế toán (Accounting and Corporate
Regulatory Authority – ACRA). Cơ quan này được thành lập theo Luật Quản lý kế
toán và doanh nghiệp năm 2004. ACRA được xác định là cơ quan quản lý quốc gia
đối với tất cả các doanh nghiệp cũng như quản lý kế toán viên hành nghề và các
nhà cung cấp dịch vụ đăng ký doanh nghiệp tại Singapore. Đây là điểm đặc thù
trong việc tổ chức hệ thống cơ quan ĐKKD của Singapore so với phần còn lại thế
giới. ACRA có 3 chức năng chính: một là, tạo lập một hệ thống đăng ký
doanh nghiệp tin cậy, cung cấp dịch đăng ký doanh nghiệp cho nhà đầu tư, cải
thiện chất lượng cung cấp dịch vụ và hiệu quả của quy trình đăng ký doanh
nghiệp; hai là, nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm toán và thông tin
tài chính doanh nghiệp; ba là, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về doanh
nghiệp để cải thiện hoạt động quản trị doanh nghiệp và giảm thiểu gánh nặng chi
phí tuân thủ pháp luật cho doanh nghiệp.
Trong ACRA,
chủ thể được giao quyền giải quyết việc đăng ký tên doanh nghiệp được gọi là
Đăng ký viên (Registrar) – Là người đăng ký tên doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ
Tài chính bổ nhiệm. Sau khi tham khảo ý kiến của ACRA, Bộ trưởng Bộ Tài
chính, bổ nhiệm một viên chức của ACRA làm Đăng ký viên tên doanh nghiệp cùng
với số lượng Phó đăng ký viên và Trợ lý đăng ký tên doanh nghiệp từ các viên
chức của ACRA, viên chức nhà nước và viên chức của bất kỳ cơ quan theo luật
định nào khác. Đăng ký viên tại Singapore có trách nhiệm lưu giữ thông tin của
người đăng ký và tên doanh nghiệp mà họ đã đăng ký. Họ có nhiệm vụ thực hiện
các quy định tại Luật Đăng ký tên doanh nghiệp 2014, thu các khoản phí phải trả
theo luật định và nộp tất cả các khoản tiền thu được này vào quỹ của cơ quan.[15]
Ngoài ra, Đăng ký viên này cũng có thể ủy quyền cho cấp phó hoặc một trợ lý để
họ thực thi tất cả hoặc một số quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ của Đăng ký
viên. Tuy nhiên, các chủ thể này không được ủy quyền lại cho người khác.
Như vậy, có
thể nói, tại Singapore, việc đăng ký tên doanh nghiệp đã được luật hóa cụ thể
thông qua việc chỉ định chủ thể có chuyên môn riêng biệt về lĩnh vực này phụ
trách chính trong việc xem xét, đánh giá tính phù hợp hay không phù hợp của tên
doanh nghiệp, trả kết quả giải quyết cho nhà đầu tư khi thành lập doanh nghiệp.
Qua đó, góp phần tạo thuận lợi cho nhà đầu tư gia nhập thị trường, loại bỏ ngay
từ đầu các rào cản về tên doanh nghiệp vốn là khúc mắc chính mà các nhà đầu tư
tại đảo quốc này đã gặp phải trong quá khứ. Có lẽ nhờ những thay đổi quan trọng
trong việc thiết lập ra bộ phận phụ trách chuyên biệt về tên doanh nghiệp này
mà thủ tục thành lập doanh nghiệp tại Singapore được đánh giá là tối ưu hàng
đầu trên thế giới, bỏ xa nhiều quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á.[16]
Thứ hai,
Singapore xây dựng trình tự, thủ tục đăng ký tên doanh nghiệp chặt chẽ
Tại
Singapore, bất kỳ nhà đầu tư trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh tại
Singapore, nhân thân của họ và tên doanh nghiệp đó phải được đăng ký. Nếu nhà
đầu tư có ý định kinh doanh tại Singapore dưới nhiều tên doanh nghiệp khác nhau
thì họ phải có các đăng ký riêng biệt đối với từng tên doanh nghiệp đó.[17]
Về trình tự
đăng ký tên doanh nghiệp, theo quy định tại Điều 8 Luật Đăng ký tên doanh
nghiệp năm 2014 thì khi nhận được đơn đăng ký nêu trên, cơ quan đăng ký (ACRA)
phải thực hiện hai thao tác quan trọng: (1) Đăng ký người nộp đơn và tên doanh
nghiệp của người đó; (2) Cấp cho người nộp đơn một thông báo đăng ký, trong đó
ghi rõ tên doanh nghiệp đã đăng ký và ngày đăng ký. Sau khi nhận được đơn yêu
cầu từ người đã được đăng ký, cùng với lệ phí theo quy định, ACRA sẽ cấp Giấy
xác nhận đăng ký đối với người đó và tên doanh nghiệp mà nhà đầu tư đó đăng ký
theo mẫu do cơ quan đăng ký quy định.
Thời hạn giải
quyết cho mỗi lần đăng ký tên doanh nghiệp do ACRA quy định và phụ thuộc vào
các quy định khác của Luật Đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014 và có thể được gia
hạn trong thời hạn do ACRA đặt ra. ACRA có thể yêu cầu người nộp đơn cung cấp
thông tin bổ sung hoặc các thông tin khác nếu thấy cần thiết. ACRA có quyền từ
chối việc đăng ký tên doanh nghiệp của nhà đầu tư hoặc từ chối gia hạn việc
đăng ký nêu trên nếu họ không chấp thuận với các thông tin hoặc thông tin bổ
sung được nhà đầu tư cung cấp theo luật định. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày
nhận được thông báo từ chối, người đăng ký có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ
Tài chính và quyết định của Bộ trưởng này là quyết định sau cùng.
Ngoài ra,
theo Điều 12 Luật Đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014, đăng ký viên còn có thể
hủy đăng ký của nhà đầu tư và tên doanh nghiệp của người đó nếu có cơ sở cho
rằng: (1) Doanh nghiệp của nhà đầu tư đó đang bị sử dụng hoặc sẽ bị sử dụng cho
mục đích phi pháp hoặc cho các mục đích gây phương hại đến trật tự công cộng,
phúc lợi hoặc trật tự xã hội ở Singapore hoặc việc nhà đầu tư đó tiếp tục được
đăng ký sẽ đi ngược lại với an ninh quốc gia hoặc lợi ích quốc gia; (2) Doanh
nghiệp của nhà đầu tư đó, người đang điều hành doanh nghiệp đó hoặc bất kỳ
người nào khác được nhà đầu tư bổ nhiệm để quản lý doanh nghiệp thay mặt cho
người đó (toàn bộ hoặc phần lớn) đã bị kết án về hành vi phạm tội; (3) Nhà đầu
tư đó được yêu cầu cần phải bổ nhiệm một đại diện theo ủy quyền khi tất cả chủ
sở hữu không có mặt tại Singapore vào thời điểm đăng ký và cả sau đó; (4) Nhà
đầu tư không thực hiện bổ nhiệm đại diện được ủy quyền trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày mà đại diện duy nhất của nhà đầu tư từ chức, nghỉ hưu, qua đời, hoặc
vì bất kỳ lý do nào khác mà chấm dứt vai trò hoặc không còn đủ điều kiện để làm
đại diện được ủy quyền của nhà đầu tư nữa.
Bên cạnh đó,
Điều 15 Luật Đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định rõ việc một người
đã đăng ký tên doanh nghiệp theo đạo luật này thì không được phép tiến hành
kinh doanh dưới tên doanh nghiệp khác với tên doanh nghiệp mà họ đã đăng ký.
Ngoài ra, việc đăng ký tên doanh nghiệp tại Singapore không đồng nghĩa với việc
cho phép sử dụng tên doanh nghiệp đã đăng ký nếu việc sử dụng tên đó bị cấm
theo bất kỳ văn bản pháp luật nào hoặc luật khác.
Thứ ba,
Singapore cho phép đăng ký lưu giữ tên doanh nghiệp trước rồi mới tiến hành thủ
tục thành lập doanh nghiệp sau
Tại
Singapore, theo quy định tại Điều 16 Luật đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014,
nhà đầu tư có thể nộp đơn đến Đăng ký viên để xin “đặt giữ chỗ” tên doanh
nghiệp dự kiến sẽ đăng ký của mình và tiến hành thủ tục thành lập doanh nghiệp
sau. Trong trường hợp này, Đăng ký viên chỉ từ chối chấp thuận đơn đặt chỗ
trước tên doanh nghiệp nếu xét thấy tên đó có thể sẽ được sử dụng vào mục đích
bất hợp pháp hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, phúc lợi hoặc an ninh công
cộng tại Singapore hoặc việc đăng ký tên doanh nghiệp đó trái với an ninh, lợi
ích quốc gia của Singapore hoặc đơn được nộp bởi một công ty nước ngoài chưa
đăng ký thành lập theo Luật Công ty năm 1967. Theo quy định tại Luật đăng ký
tên doanh nghiệp năm 2014, việc đặt chỗ trước đối với tên doanh nghiệp tại
Singapore có thời hạn lưu giữ tối đa là 60 ngày, kể từ ngày việc đăng ký bảo
lưu tên doanh nghiệp được Đăng ký viên chấp thuận. Tuy nhiên, nó có thể được
gia hạn nhiều lần. Trường hợp nhà đầu tư bị từ chối chấp thuận đơn đăng ký lần
đầu hoặc không được gia hạn tên doanh nghiệp đã đặt trước thì họ có quyền khiếu
nại lên Bộ trưởng Bộ Thương mại trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được
thông báo về quyết định từ chối của Đăng ký viên. Khi đó, quyết định giải quyết
khiếu nại của Bộ trưởng Bộ thương mại sẽ là quyết định cuối cùng.
IV. Một số bất cập trong đăng ký doanh nghiệp liên quan đến tên doanh nghiệp tại
Việt Nam
Nếu
như tại Singapore, Luật Đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014, kể cả Luật Công ty
năm 1967 của quốc gia này không có quy định cụ thể về cấu trúc tên doanh nghiệp
và các điều cấm đoán trong đặt tên doanh nghiệp. Thay vào đó, họ chỉ quy định
cơ quan đăng ký phải từ chối tên doanh nghiệp nếu họ xác định là không phù hợp
hoặc trùng với bất kỳ tên doanh nghiệp đã đăng ký nào khác, hoặc trùng với tên
đã được giữ chỗ (reserve a name) theo quy định tại Điều 16 của Đạo luật này
hoặc đó là tên mà Bộ trưởng đã chỉ đạo Cơ quan đăng ký bằng thông báo không
chấp nhận cho đăng ký.[18]
Khác
với Singapore, Luật doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022, 2025) đã
luật hóa cụ thể cấu trúc tên doanh nghiệp gồm có hai thành tố là loại hình
doanh nghiệp và tên riêng, đồng thời quy định ba điều cấm đoán trong đặt tên
doanh nghiệp, đó là tên doanh nghiệp không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên
của doanh nghiệp đã được đăng ký; không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm
truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc; không
sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, tên của tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp để làm toàn bộ
hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của
cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó.[19]
Qua
thực tiễn thực hiện các quy định trên, những thách thức lớn trong ĐKDN liên
quan đến tên doanh nghiệp tại Việt Nam có thể được kể đến như sau:
Một
là, tiêu chí xác
định tên doanh nghiệp vi phạm điều cấm chưa được quy định rõ ràng, cụ thể. Một
trong những quy định cấm trong đặt tên doanh nghiệp là việc “sử dụng từ ngữ, ký
hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của
dân tộc” được quy định tại Khoản 3 Điều 38 LDN năm 2020. Tuy nhiên, xuyên suốt
các quy định của LDN năm 2020 cũng như Nghị định 168/2025/NĐ-CP về đăng ký
doanh nghiệp không có một quy định nào giải thích về từ ngữ, ký hiệu vi phạm
truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện
nay, vẫn có những trường hợp rất khó để xác định có hay vi phạm truyền thống
lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Việc xác định tên
doanh nghiệp có vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong
mỹ tục của dân tộc cần có tiêu chí và quy định rõ ràng hoặc phải có cơ sở lý
luận, nếu không thì thường khó thuyết phục được các bên. Chẳng hạn, có những
trường hợp người dự định thành lập doanh nghiệp lựa chọn những tên riêng, như:
“Thay Trời Hành Đạo”, “Sung Sướng” hoặc “Một Mình Tao” (Minh Chung, Quang Huy,
n.d)… thì Phòng Đăng ký kinh doanh có quyền chấp thuận hoặc từ chối tên dự kiến
đăng ký của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và ý kiến Phòng Đăng ký
kinh doanh là quyết định cuối cùng theo khoản 2 Điều 14 Nghị định số
168/2025/NĐ-CP. Nếu không có cơ sở pháp lý hay cơ sở lý luận, khoa học, lịch sử
thì những quyết định từ chối tên dự kiến đăng ký của doanh nghiệp có thể bị
khởi kiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Việc cấm đoán như
tại Khoản 3 Điều 38 LDN năm 2020 cũng phần nào tác động tiêu cực đến quyền lợi
của nhà đầu tư, khiến cho cơ hội gia nhập thị trường của họ bị thu hẹp đáng kể,
bởi lẽ do không có cơ sở cụ thể để xác định thế nào là tên doanh nghiệp bị cấm
đoán theo Khoản 3 Điều 38 LDN năm 2020 thì sự thành bại trong đăng ký tên doanh
nghiệp của họ phụ thuộc vào ý chí của cơ quan đăng ký kinh doanh, điều này dễ
làm nản lòng nhà đầu tư khi họ bỏ vốn vào kinh doanh đem lại những hệ quả tích
cực cho nền kinh tế và cho nhà nước.
Hai
là, pháp luật
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa có quy định điều chỉnh về quyền của nhà đầu
tư trong việc đăng ký lưu giữ tên doanh nghiệp trước rồi mới tiến hành thủ tục
thành lập doanh nghiệp sau. Điều này sẽ trở lên khó khăn khi xử lý việc nhiều
nhà đầu tư chọn trùng tên tại cùng thời điểm đăng ký. Từ đó, các nhà đầu tư khó
dự đoán được tên doanh nghiệp nào được chấp thuận và cái tên nào có khả năng bị
từ chối. Trong trường hợp bị từ chối, thời gian thực hiện việc ĐKDN sẽ bị kéo
dài.
Vì lẽ đó, Nhà
nước cần phải thiết lập các quy chuẩn thống nhất và minh bạch về việc lựa chọn,
đăng ký và sử dụng tên doanh nghiệp, nhằm mục đích giúp doanh nghiệp dễ dàng
gia nhập thị trường.
V. Một số khuyến nghị cho Việt Nam
Vấn
đề tên doanh nghiệp là vấn đề pháp lý phức tạp trong quá trình giải quyết đăng
ký doanh nghiệp tại các quốc gia.[20]
Tại Việt Nam, sau gần 40 năm đổi mới và hội nhập, tính đến thời điểm
31/12/2024, Việt Nam đã có khoảng 940,078 doanh nghiệp đang hoạt động trong nền
kinh tế.[21]
Theo Nghị quyết 68/NQ-TW về phát triển kinh tế tư nhân, mục tiêu đến năm
2030, Việt Nam phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh
tế, cụ thể, tỷ lệ là 20 doanh nghiệp hoạt động trên một ngàn dân và có ít nhất
20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.[22] Để đạt
được mục tiêu mà Nghị quyết 68/NQ-TW đã đề ra thì việc tiếp tục cải cách môi
trường kinh doanh nói chung cũng như hoàn thiện pháp luật về thành lập doanh
nghiệp nói riêng là điều cần thiết và cấp bách nhằm tạo sự thông thoáng trong
thủ tục gia nhập thị trường của nhà đầu tư, góp phần thu hút đầu tư, đồng thời,
nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp. Trước bối cảnh đó,
việc cải thiện pháp luật thực định Việt Nam bằng cách học hỏi, tiếp thu các quy
định của pháp luật nước ngoài có khả năng phù hợp để giải quyết các vấn đề tại
Việt Nam là một trong những con đường hiệu quả. Qua nghiên cứu các vấn đề trên
tại Luật đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014 của Singapore, Việt Nam có thể tiếp
thu để hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp về ĐKDN ở những nội dung sau:
Thứ
nhất, Việt Nam nên thực hiện bổ nhiệm công chức chuyên trách quản lý tên doanh
nghiệp phục vụ cho việc đăng ký doanh nghiệp
Tại
Việt Nam, theo quy định hiện hành, cơ quan ĐKKD cấp tỉnh thuộc Sở Tài chính có
thẩm quyền cấp GCNĐKDN cho doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa
điểm kinh doanh của doanh nghiệp trong phạm vi địa phương quản lý và Ban quản
lý khu công nghệ cao cấp đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp, chi nhánh,
văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh có địa chỉ đặt trong khu công nghệ cao.
Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022, 2025) và Nghị
định 168/2025/NĐ-CP chỉ dừng lại ở việc quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn chung của cơ quan ĐKKD mà không có một cơ chế riêng biệt để chuyên môn hóa
đối với vấn đề đăng ký, lựa chọn, quản lý tên doanh nghiệp. Vì vậy, việc chấp
thuận hay từ chối tên doanh nghiệp mà nhà đầu tư đăng ký hoàn toàn do cán bộ cơ
quan ĐKKD tự quyết dưới danh nghĩa của cơ quan ĐKKD.[23] Có thể
thấy rằng, do thiếu cá nhân chuyên trách về tên doanh nghiệp trong khi số lượng
doanh nghiệp thành lập lại có sự gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây đã
dẫn đến một số hạn chế phát sinh trong quá trình thực thi, phổ biến là trường
hợp cơ quan ĐKKD từ chối tên doanh nghiệp do thuật ngữ lồng ghép trong đặt tên
doanh nghiệp hiểu đa nghĩa. Chẳng hạn, vào tháng 06/2021, tại Thành phố Hồ Chí
Minh, nhà đầu tư đăng ký thành lập Công ty TNHH Một Mình Tao nhưng bị từ chối
cấp ĐKDN do tên doanh nghiệp vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, thuần phong
mỹ tục của dân tộc.[24]
Việc từ chối này phụ thuộc ý chí chủ quan của cán bộ cơ quan ĐKKD, trong khi họ
chưa hẳn là những người có chuyên môn chuyên biệt về tên doanh nghiệp như tại
Singapore nên đã phát sinh nhiều tranh luận, ý kiến trái chiều liên quan đến
tên doanh nghiệp. Để khắc phục các hạn chế trên, thì việc định hình và phát
triển khái niệm về cán bộ có chuyên môn cao để xử lý riêng các vấn đề về tên
doanh nghiệp trong ĐKKD như Đăng ký viên tại Singapore là một giải pháp hợp lý
và cần thiết.
Thứ
hai, Việt Nam nên thiết lập cơ chế cho phép nhà đầu tư được quyền lưu giữ tên
doanh nghiệp trước rồi tiến hành thủ tục thành lập doanh nghiệp sau.
Đăng
ký lưu giữ tên doanh nghiệp trước rồi mới thực hiện thủ tục thành lập doanh
nghiệp sau là một xu thế chung trong pháp luật doanh nghiệp tại nhiều quốc gia
trên thế giới. Chẳng hạn, tại Trung Quốc, họ cho phép tên công ty được bảo lưu
trước và thành lập công ty sau (reserve a name) trong thời hạn 06 tháng nhưng
trong thời gian bảo lưu này, nhà đầu tư không được chuyển nhượng tên doanh
nghiệp đó cho nhà đầu tư khác.[25]
Hoặc tại tiểu bang Florida (Hoa Kỳ), Luật Công ty năm 2023 của tiểu bang này
cho phép nhà đầu tư có thể đăng ký lưu giữ tên doanh nghiệp trước và thành lập
doanh nghiệp sau, với thời hạn bảo lưu là 120 ngày, không có gia hạn.[26]
Luật Đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014 của Singapore đã mở ra cơ chế cho nhà
đầu tư được quyền đăng ký “đặt trước” đối với tên doanh nghiệp và nếu được cơ
quan ĐKKD chấp thuận thì thời hạn bảo lưu tên doanh nghiệp có thể lên đến 60
ngày và được gia hạn nếu có nhu cầu từ phía nhà đầu tư với một khoản chi phí
nhất định. Hiện tại, Luật doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022 và
2025) và Nghị định 168/2025/NĐ-CP, kể cả các đạo luật doanh nghiệp được ban
hành trước đó đều không quy định việc cho phép nhà đầu tư đăng ký lưu giữ tên
doanh nghiệp trước như pháp luật doanh nghiệp các quốc gia khác trên thế giới.
Sự thiếu vắng loại quy định quan trọng này phần nào gây khó khăn cho quá trình
gia nhập thị trường của nhà đầu tư cũng như tác động bất lợi đến quyền tự chủ
kinh doanh của nhà đầu tư, chưa đáp ứng được nguyện vọng của số đông nhà đầu tư
trong nền kinh tế. Vì vậy, việc cho phép nhà đầu tư có quyền đăng ký lưu giữ
tên doanh nghiệp trước rồi đăng ký thành lập doanh nghiệp sau, với điều kiện có
thu phí như thông lệ tại một số quốc gia khác trên thế giới là điều cần thiết.
Điều này xuất phát từ các lý do chính sau: (i) Bảo vệ quyền tự chủ trong
kinh doanh của nhà đầu tư, họ có quyền tự quyết đối với tên doanh nghiệp trước
khi khai sinh ra doanh nghiệp, giúp bảo vệ ý tưởng kinh doanh của nhà đầu tư; (ii)
Tăng thu ngân sách nhà nước, vì một khi cho phép nhà đầu tư đăng ký trước tên
doanh nghiệp kèm theo khoản đóng góp tài chính nhất định để được nhà nước bảo
vệ quyền của họ đối với tên doanh nghiệp đó thì sẽ góp phần tại nguồn thu đáng
kể cho cơ quan ĐKKD nói riêng và ngân sách nhà nước nói chung; (iii)
Kích thích sự gia nhập thị trường của nhà đầu tư, vì một khi cho phép đăng ký
lưu giữ tên doanh nghiệp trước và thành lập doanh nghiệp sau thì điều đó đồng
nghĩa với việc nhà đầu tư đã hoàn tất một công đoạn quan trọng nhất trong thủ
tục ĐKDN, đó là đặt tên doanh nghiệp đúng luật định; (iv) Thúc đẩy quá
trình giải quyết thủ tục ĐKDN nhanh chóng cho nhà đầu tư về sau. Đây là phương
thức mà nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới đã và đang áp dụng.
Thứ
ba, xây dựng một đạo luật riêng biệt về đăng ký doanh nghiệp nhằm tạo hành lang
pháp lý thuận lợi cho việc gia nhập thị trường của nhà đầu tư
Sự
phát triển của Singapore thông qua cải tiến pháp luật đã cho thấy rằng, để thu
hút được các nguồn lực của xã hội nhằm mục đích phát triển kinh tế thì việc xây
dựng một khung pháp luật đầy đủ, kịp thời, mang tính khả thi cao để điều chỉnh
các vấn đề phát sinh trong thực tiễn hoạt động thương mại, đầu tư là cần thiết.
Singapore đã ban hành Luật đăng ký doanh nghiệp ngay từ năm 1974 – chỉ 15 năm
sau khi chính thức độc lập. Chính khung pháp lý này đã giúp cho Singapore thu hút được nguồn vốn đầu tư rất lớn trong
và ngoài nước, làm gia tăng số lượng doanh nghiệp thành lập và có kinh tế phát
triển bậc nhất tại Châu Á trong thời gian ngắn. Đến năm 2014, họ lại ban hành
riêng một đạo luật về đăng ký tên doanh nghiệp nhằm tháo gỡ các vướng mắc, bất
cập của pháp luật về tên doanh nghiệp tại Luật đăng ký doanh nghiệp năm 1974.
Trải qua 10 năm thực thi, Luật đăng ký tên doanh nghiệp năm 2014 của Singapore
đã chứng minh sự thành công đáng kể trong quá trình giải quyết ĐKDN cho nhà đầu
tư và gia tăng tính hiệu quả trong quản
lý nhà nước tại đảo quốc này đối với doanh nghiệp.
Tại
Việt Nam hiện nay, không có Luật đăng ký doanh nghiệp và đồng thời cũng không
có Luật về đăng ký tên doanh nghiệp riêng biệt như tại Singapore. Vì vậy, việc
điều chỉnh về ĐKDN nói chung và tên doanh nghiệp nói riêng được luật hóa tại
các đạo luật chung về doanh nghiệp và nghị định do Chính phủ ban hành về ĐKDN.
Việc điều chỉnh của Nhà nước về vấn đề này là chưa đủ so với yêu cầu của thực
tiễn kinh tế thị trường đang diễn ra. Bởi lẽ, số lượng doanh nghiệp tại Việt
Nam được thành lập mới trong năm năm gần nhất đều chạm ngưỡng trên 100,000
doanh nghiệp một năm. Trong đó, các quy định pháp lý về tên doanh nghiệp là một
trong những trở ngại lớn trên con đường gia nhập thị trường của nhà đầu tư vì
những vấn đề đã đề cập bên trên. Bên cạnh đó, thực tiễn hoạt động lập pháp ở
nước ta cho thấy, đại đa số sáng kiến lập pháp đều do Chính phủ khởi xướng.[27]
Vì vậy, để rút ngắn thời gian ĐKDN cho nhà đầu tư, tạo lập một môi trường kinh
doanh thông thoáng để thu hút đầu tư, bài viết đề xuất kiến nghị Chính phủ xem
xét xây dựng dự thảo đạo luật riêng biệt về đăng ký doanh nghiệp, trong đó, bao
gồm các nội dung chi tiết, cụ thể về tên doanh nghiệp như cách thức Singapore
đã thực hiện. Bởi lẽ, nếu Việt Nam luật hóa tên doanh nghiệp bằng một đạo luật
riêng thì chắc chắn có giá trị pháp lý cao hơn hẳn so với các nghị định về ĐKDN
như thời gian qua, điều đó sẽ tạo ra sự ổn định trong khung pháp luật điều
chỉnh, tạo sự an tâm hơn cho nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài
khi họ làm thủ tục gia nhập thị trường tại Việt Nam. Ngoài ra, việc chi tiết
hóa toàn bộ được các vấn đề pháp lý quan trọng liên quan đến tên doanh nghiệp
vào trong một đạo luật thống nhất, thay vì điều chỉnh phân tán tại Luật doanh
nghiệp năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2022 và năm 2025), các nghị định thi hành
cũng như các luật chuyên ngành như Luật công chứng năm 2024, Luật luật sư năm
2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012),…sẽ góp phần giải quyết dứt điểm các vướng
mắc, bất cập phát sinh trong quá trình thực thi Luật doanh nghiệp năm 2020 (sửa
đổi, bổ sung năm 2022 và năm 2025) trong quy định về tên doanh nghiệp thời gian
qua như đã phân tích tại Mục III..
VI. Kết luận
Tên doanh nghiệp là điều kiện quan trọng để cơ quan ĐKKD của một quốc gia xem xét, giải quyết việc cấp GCNĐKDN cho nhà đầu tư gia nhập thị trường. Vì lẽ đó, khung pháp luật điều chỉnh vấn đề liên quan đến tên doanh nghiệp luôn được quy định cụ thể trong pháp luật doanh nghiệp tại các nước. Singapore, với vị thế là một nền kinh tế có tốc độ phát triển cao, thịnh vượng tại khu vực Châu Á, đã ban hành một đạo luật riêng trực tiếp điều chỉnh cách thức đặt tên doanh nghiệp khi thành lập và các thay đổi liên quan đến tên doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm nhưng không giới hạn ở các nội dung như: (i) xây dựng cơ chế chuyên môn đặc thù cho cán bộ phụ trách tên doanh nghiệp (Đăng ký viên); (ii) việc cho phép nhà đầu tư lưu giữ tên doanh nghiệp trước và thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp sau; (iii) cụ thể hóa trình tự, thủ tục về đặt tên doanh nghiệp; cũng như (iv) quy trình cơ quan ĐKKD giải quyết yêu cầu đặt tên doanh nghiệp cho phía nhà đầu tư. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam nhằm cải thiện các quy định pháp lý trong ĐKDN liên quan đến tên doanh nghiệp. Từ đó, đẩy mạnh việc cải cách môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi cho việc gia nhập thị trường của nhà đầu tư trong thời gian tới.
Danh mục tài liệu tham
khảo
1. Luật
Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, ngày 17 tháng 06 năm 2020
2. Hoa Kỳ,
Luật công ty thương mại bang Florida năm 2023
3.
Singapore, Luật đăng ký tên doanh nghiệp 2014, ngày 03 tháng 01 năm 2016 (sửa
đổi, bổ sung ngày 31/12/2021)
4.
Singapore, Luật đăng ký doanh nghiệp ngày 01 tháng 09 năm 1974 (sửa đổi, bổ
sung ngày 31/07/2004)
5. Trung
Quốc, Quy chế đăng ký công ty năm 1994 (sửa đổi gần nhất ngày 6 tháng 2
năm 2016)
6.
Nghị quyết số 68/NQ-TW, ngày 04 tháng 05 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát
triển kinh tế tư nhân
7. Nghị
định số 168/2025/NĐ-CP, ngày 30 tháng 06 năm 2025 của Chính phủ về đăng ký
doanh nghiệp
8. Nghị
định số 65/2023/NĐ-CP, ngày 23 tháng 08 năm 2023 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công
nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản
lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
9.
Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Báo cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp năm 2024,
(06/01/2025, 17:00),
https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/tin-tuc/598/6818/bao-cao-tinh-hinh-dang-ky-doanh-nghiep-nam-2024.aspx
10. Christine Oliver, Strategic
Responses to Institutional Processes, The Academy of Management
Review, 16, 1, 145 (1991)
11. Douglass North, Institutions,
Journal of Economic Perspectives, 5(1), 97 (1991)
12. DOUGLASS
NORTH, INSTITUTIONS, INSTITUTIONAL CHANGE AND ECONOMIC PERFORMANCE,
CAMBRIDGE UNIVERSITY PRESS, POLITICAL ECONOMY OF INSTITUTIONS AND DECISIONS
(1990)
13. David Gindis, From
Fictions and Aggregates to Real Entities in the Theory of the Firm, Journal
of Institutional Economics, 5.1, 25 (2009)
14. EVA MICHELER, COMPANY LAW: A REAL ENTITY
THEORY, OXFORD UNIVERSITY PRESS (2022)
15. John W. Meyer &
Brian Rowan, Institutionalized organizations: Formal structure as myth and
ceremony, American Journal of Sociology, 83(2), 340 (1977)
16. Khánh Linh, Chiếm
gần 98% tổng số doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ở đâu trong nền kinh
tế, (14:00 27/02/2025), https://baodautu.vn/chiem-gan-98-tong-so-doanh-nghiep-doanh-nghiep-nho-va-vua-dang-o-dau-trong-nen-kinh-te-d249574.html.
17. Lynne Rudder Baker,
The Ontology of Artifacts, Philosophical Explorations, 7(2),
99 (2004)
18. Michael Spence, Job
Market Signaling, The Quarterly Journal of Economics, 87, 3, 355 (1973)
19. Minh Đức, Doanh nghiệp đăng ký thành lập
"Công ty TNHH Một Mình Tao" có phạm luật? (15:51, 08/06/2021), https://vtv.vn/phap-luat/doanh-nghiep-dang-ky-thanh-lap-cong-ty-tnhh-mot-minh-tao-co-pham-luat-2021060815070724.htm
20. Phạm Duy Nghĩa, Lập
pháp thời chuyển đổi số, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 5 (439), 5 (2021)
21. Ronald Coase, The
Nature of the Firm, Economica, 4(16), 386 (1937)
22. Ronald Coase, The
New Institutional Economics, The American Economic Review, 88(2), 72 (1998)
23. Trần Huỳnh Thanh
Nghị, Nguyễn Thị Anh, Nguyễn Ngọc Trâm Anh, Tên doanh nghiệp theo pháp luật
Việt Nam và một số quốc gia dưới góc độ so sánh, Tạp chí Luật học, 10, 75
(2024)
24. World Bank, Business Ready 2024 report, https://openknowledge.worldbank.org/server/api/core/bitstreams/08942fab-9080-4f37-b7be-ef61c9f9aed9/content
* Giám
đốc Chương trình đào tạo Luật Kinh tế, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Email: thanhnghi@ueh.edu.vn, ngày duyệt đăng
28/11/2025
** Phó Trưởng khoa Luật, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Email: anhluatkt@ueh.edu.vn
***Giảng viên khoa Luật, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Email: anhnnt@ueh.edu.vn
****Giảng viên khoa
Luật, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh. Email: thovd@huflit.edu.vn
[1] EVA MICHELER, COMPANY LAW: A REAL
ENTITY THEORY, OXFORD UNIVERSITY PRESS, 29 (2022)
[2] Trần Huỳnh Thanh Nghị, Nguyễn Thị
Anh, Nguyễn Ngọc Trâm Anh, Tên doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và một
số quốc gia dưới góc độ so sánh, Tạp chí Luật học, 10, 75, 75 (2024)
[3] Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Báo
cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp năm 2024, (06/01/2025, 17:00),
https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/tin-tuc/598/6818/bao-cao-tinh-hinh-dang-ky-doanh-nghiep-nam-2024.aspx
[4] Singapore, Luật Đăng ký tên doanh
nghiệp 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Phiên bản hợp nhất không chính thức có
hiệu lực từ ngày 09/06/2025: https://sso.agc.gov.sg/Act/BNRA2014
[5] Douglass North, Institutions,
Journal of Economic Perspectives, 5(1), 97-112 (1991)
[6] Ronald Coase, The Nature of
the Firm, Economica, 4(16), 386-405 (1937) và Ronald Coase, The New
Institutional Economics, The American Economic Review, 88(2), 72- 74 (1998)
[7] John W. Meyer & Brian
Rowan, Institutionalized organizations: Formal structure as myth and
ceremony, American Journal of Sociology, 83(2), 340-363 (1977)
[8] Christine Oliver, Strategic
Responses to Institutional Processes, The Academy of Management
Review, 16, 1, 145–179 (1991)
[9] DOUGLASS
NORTH, INSTITUTIONS, INSTITUTIONAL CHANGE AND ECONOMIC PERFORMANCE,
CAMBRIDGE UNIVERSITY PRESS, POLITICAL ECONOMY OF INSTITUTIONS AND DECISIONS, 6
(1990)
[10] David Gindis, From Fictions
and Aggregates to Real Entities in the Theory of the Firm, Journal of
Institutional Economics, 5.1, 25–46 (2009)
[11] Lynne Rudder Baker, The
Ontology of Artifacts, Philosophical Explorations, 7(2), 99–111
(2004)
[12] Michael Spence, Job Market
Signaling, The Quarterly Journal of Economics, 87, 3, 355–74 (1973)
[13] DOUGLASS NORTH, tlđd, 9,
27-35
[14] World Bank, Business Ready 2024
report, 40,
https://openknowledge.worldbank.org/server/api/core/bitstreams/08942fab-9080-4f37-b7be-ef61c9f9aed9/content
[15] Singapore, Luật Đăng ký tên doanh
nghiệp năm 2014, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 3
[16] World Bank, tlđd, 15, 39-40
[17] Singapore, Luật Đăng ký tên doanh
nghiệp năm 2014, Điều 5.
[18] Singapore, Luật Đăng ký tên doanh
nghiệp năm 2014, Điều 17
[19] Luật doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022,
2025), Điều 38
[20] Trần Huỳnh Thanh Nghị, Nguyễn Thị
Anh, Nguyễn Ngọc Trâm Anh, tlđd, 2, 78
[21] Khánh Linh, Chiếm gần 98% tổng
số doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ở đâu trong nền kinh tế, (14:00
27/02/2025), https://baodautu.vn/chiem-gan-98-tong-so-doanh-nghiep-doanh-nghiep-nho-va-vua-dang-o-dau-trong-nen-kinh-te-d249574.html.
[22] Nghị quyết 68/NQ-TW ngày 04 tháng
05 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân
[23] Nghị định 168/2025/NĐ-CP, Điều
14, khoản 2.
[24] Minh Đức, Doanh nghiệp đăng ký
thành lập "Công ty TNHH Một Mình Tao" có phạm luật? (15:51,
08/06/2021), https://vtv.vn/phap-luat/doanh-nghiep-dang-ky-thanh-lap-cong-ty-tnhh-mot-minh-tao-co-pham-luat-2021060815070724.htm
[25] Trung Quốc, Quy chế đăng ký công ty năm 1994
(sửa đổi gần nhất ngày 6 tháng 2 năm 2016), Điều 19,
[26] Hoa Kỳ, Luật công ty
thương mại Florida năm 2023, Điều 607.04021
[27] Phạm Duy
Nghĩa, Lập pháp thời chuyển đổi số, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 5
(439), 5, (2021)