Nghiên cứu lý luận

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo pháp luật Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ và Việt Nam về nhượng quyền thương mại

Trần Hoàng Minh Triết* Mai Nguyễn Dũng** Thứ bảy, 29/11/2025 - 09:50
Nghe audio
0:00

(PLPT) - Bài viết bàn luận về các thỏa thuận đang bị xem là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại để đưa ra các bình luận và kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định này tại Việt Nam.

Tóm tắt: Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại sử dụng các thỏa thuận về giá, chất lượng sản phẩm, địa điểm kinh doanh như một công cụ nhằm kiểm soát lẫn nhau từ đó đảm bảo khả năng kinh doanh của cơ sở nhượng quyền và tính thống nhất của toàn bộ hệ thống nhượng quyền. Tuy nhiên, các thỏa thuận này có khả năng cấu thành các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh. Bài viết bàn luận về các thỏa thuận đang bị xem là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, trong đó có liên hệ đến pháp luật của Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ, bao gồm các án lệ và đặc biệt là Nghị quyết số 720/2022 của Liên minh Châu Âu có hiệu lực từ ngày 10/05/2022. Trên cơ sở so sánh đó, bài đưa ra các bình luận và kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định này tại Việt Nam.

Từ khóa: Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Nhượng quyền thương mại, Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Abstract: In franchising, parties in a franchise agreement utilize agreements regarding pricing, product quality, and business location as tools in order to maintain mutual control, thereby ensuring the operational viability of the franchisee and the consistency of the entire franchise system. However, these arrangements may constitute anti-competitive agreements prohibited under the current Law on Competition in Vietnam. This article discusses agreements currently considered anti-competitive agreements in franchise agreements, with references to similar provisions in the European Union and the United States, specifically precedents from these jurisdictions and EU Regulation 720/2022, which took effect on May 10, 2022. Based on this comparative analysis, the article provides comments and recommendations for improving the legal frameworks in Vietnam.

Keywords: Law on Commerce, Law on Competition, Franchise, Anti-competitive agreement.

I. Đặt vấn đề

Hiện nay, nhượng quyền thương mại là một trong các hoạt động thương mại phổ biến mang lại nhiều giá trị cho nền kinh tế của một quốc gia.[1] Trong quá trình kinh doanh diễn ra, bên nhượng quyền có quyền kiểm soát cơ sở nhượng quyền của bên nhận quyền nhằm đảm bảo việc cung cấp sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ của các bên nhận quyền đồng nhất về chất lượng, số lượng và giá cả.[2] Điều này nhằm tránh trường hợp người tiêu dùng thấy sự khác biệt khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ ở các cơ sở nhượng quyền khác. Bỡi lẽ, dưới góc nhìn của người tiêu dùng, các cơ sở nhượng quyền này là đồng nhất và đều có chung một chủ sở hữu với nhiều chi nhánh khác nhau, việc một chi nhánh cung cấp hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến danh tiếng của toàn bộ hệ thống nhượng quyền.

Ngược lại, dưới góc độ của thương nhân nhượng quyền, sự tồn tại của các cơ sở nhượng quyền là độc lập về tài chính, pháp lý[3]. Với một hệ thống nhượng quyền mang tính đồng bộ về giá cả, chất lượng và mặt hàng cung ứng, người tiêu dùng có thể tùy chọn một cơ sở nhượng quyền trong số đó. Một khu vực địa lý với sự xuất hiện dày đặc của nhiều cơ sở nhượng quyền chung một hệ thống có thể dẫn đến việc tệp khách hàng của khu vực đó bị chia nhỏ, khiến doanh thu vốn có bị giảm sút và tạo ra tính cạnh tranh nội bộ giữa các bên nhận quyền trong cùng một hệ thống với nhau. Điều này đã dẫn đến sự hình thành của thỏa thuận về địa điểm kinh doanh hoặc phân chia khu vực kinh doanh của các cơ sở nhượng quyền để hạn chế tình trạng này.

Như vậy, chính sự đồng nhất, tính cạnh tranh nội bộ đã dẫn đến sự hình thành của các thỏa thuận đặc thù nêu trên trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, những thỏa thuận này có thể cấu thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm dưới góc độ của Luật Cạnh tranh hiện hành. Về bản chất, hoạt động nhượng quyền vẫn cần chịu sự điều chỉnh của pháp luật về cạnh tranh tương tự với các hoạt động thương mại khác. Song, việc đặt mối quan hệ nhượng quyền thương mại chịu vào sự điều chỉnh theo quy định chung của Luật Cạnh tranh hiện hành như các hoạt động thương mại khác có thể dẫn đến các bất cập. Bởi lẽ, điều này sẽ thay đổi đặc điểm vốn có trong quá trình kinh doanh của hoạt động cũng như làm mất đi các quyền lợi chính đáng của các thương nhân tham gia vào quan hệ nhượng quyền. Hệ quả là sự suy giảm động lực đầu tư của thương nhân trong nước cũng như nước ngoài, gây ra sự kém phát triển của hoạt động này trong tương lai và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của Việt Nam.

Bài viết này trình bày và phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại, trong đó liên hệ các quy định tương tự theo pháp luật tại Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ, lãnh thổ và quốc gia đã nhiều lần thay đổi khung pháp lý để phù hợp với sự phát triển của hoạt động này. Trên cơ sở so sánh, bài viết đưa ra các gợi mở về các hướng tiếp cận khả thi và phù hợp đối với vấn đề này tại Việt Nam.

II. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

Pháp luật cạnh tranh hiện nay phân thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thành hai nhóm là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan (thỏa thuận theo chiều ngang) và thỏa thuận giữa các doanh nghiệp trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối và cung ứng (thỏa thuận theo chiều dọc). Theo đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể phát sinh cả hai nhóm thỏa thuận: Thứ nhất, thỏa thuận giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan trong trường hợp bên nhượng quyền cũng thực hiện hoạt động kinh doanh như bên nhận quyền. Chẳng hạn, A đang thực hiện hoạt động kinh doanh quán cà phê và A nhượng quyền cho B để mở một quán cà phê tương tự khác thì thỏa thuận giữa A và B được xem là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan. Thứ hai, thỏa thuận giữa các doanh nghiệp trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối và cung ứng trong trường hợp bên nhượng quyền không tham gia hoạt động kinh doanh này. Ví dụ, A nhượng quyền cho B kinh doanh quán cà phê nhưng A không trực tiếp mở và chỉ điều hành các cơ sở kinh doanh thì thỏa thuận giữa A và B được xem là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối và cung ứng. Dựa trên các đặc điểm về tính đồng nhất và cạnh tranh nội bộ nêu trên, một số thỏa thuận thường có trong một hợp đồng nhượng quyền thương mại nhưng cấu thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm:

2.1. Thỏa thuận về giá

Thông thường, thỏa thuận về giá phân phối, cung ứng hàng hóa, dịch vụ được các bên áp dụng để đưa ra một mức giá cụ thể cho đối tượng được kinh doanh trong hoạt động nhượng quyền.[4] Thỏa thuận này có thể được thể hiện thông qua việc các bên thỏa thuận về mức giá cố định, mức giá tối thiểu, mức giá tối đa hoặc cách thức tính giá chung của hàng hóa, dịch vụ. Điều này khiến thỏa thuận này có thể bị xem là “thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp” và bị cấm nếu thuộc trường hợp tại khoản 1 Điều 12 đối với thỏa thuận của các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan hoặc khoản 4 Điều 12 của Luật Cạnh tranh 2018 đối với thỏa thuận của các doanh nghiệp thuộc cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng và gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường (khi thị phần của từng doanh nghiệp tham gia thỏa thuận từ 15% trở lên theo điểm b khoản 3 Điều 11 Nghị định 35/2020/NĐ-CP). Về bản chất, thỏa thuận ấn định giá bị cấm do hành vi này dẫn đến giá của hàng hóa, dịch vụ không còn được hình thành bởi quy luật tự nhiên của thị trường mà được tạo ra bởi các bên tham gia thỏa thuận. Mức giá trong trường hợp này thường cao một cách bất thường so với giá được tạo ra theo quy luật thị trường dẫn đến các tác động tiêu cực cho người tiêu dùng. Đặt dưới quan hệ nhượng quyền, thỏa thuận ấn định giá đóng vai trò đảm bảo tính đồng bộ cần có của hệ thống. Việc thỏa thuận này bị cấm theo quy định chung hiện hành có thể gây cản trở hoạt động này phát triển. Thế nhưng, không thể phủ nhận thỏa thuận về giá dù trong hoạt động nhượng quyền thương mại thì vẫn ảnh hưởng đến sự cạnh tranh và quy luật cung cầu của thị trường. Trong một số lĩnh vực cụ thể, các hệ thống nhượng quyền với quy mô lớn thậm chí có khả năng tác động đến giá của hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, thỏa thuận về giá trong hoạt động này vẫn cần sự điều chỉnh song dưới một khung pháp lý phù hợp hơn.

Ngoài ra, thỏa thuận về giá trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể bị xem là “thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh” thuộc khoản 5 hoặc “thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận” thuộc khoản 6 Điều 11 của Luật Cạnh tranh 2018. Các thỏa thuận này mặc nhiên bị cấm theo khoản 2 Điều 12 Luật này. Bởi lẽ, các mức giá trong trường hợp này tạo ra một “hàng rào ngăn cản” đủ lớn để các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể tham gia thị trường,[5] không thể mở rộng thêm quy mô kinh doanh[6] hoặc thậm chí rút lui khỏi thị trường liên quan.[7] Ngược lại với trường hợp trên, mức giá trong trường hợp này thấp một cách bất thường so với giá được tạo ra theo quy luật thị trường. Việc giá của hàng hóa, dịch vụ quá thấp khiến người tiêu dùng từ bỏ hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác để sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp trong thỏa thuận. Điều này gián tiếp tạo áp lực lên các doanh nghiệp phải điều chỉnh mức giá đi xuống trong khi việc giá thấp bất thường có thể dẫn đến việc kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó không sinh lợi. Hành vi này làm giảm động lực đầu tư kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mới, hạn chế sự phát triển các doanh nghiệp trong cùng thị trường và thậm chí loại bỏ doanh nghiệp khác trong cùng thị trường và cách thức để các bên tham gia thỏa thuận đạt được vị trí cao hơn trong thị trường.

2.2. Thỏa thuận về phân phối, cung ứng độc quyền

Trong quan hệ nhượng quyền, bên nhận quyền chỉ được phân phối, cung ứng các hàng hóa, dịch vụ gắn liền với nhãn hiệu và các quyền sở hữu trí tuệ khác của bên nhượng quyền để tránh trường hợp mang lại lợi ích cho bên thứ ba hoặc đối thủ cạnh tranh trong cùng thị trường liên quan.[8] Việc chỉ cho phép bên nhận quyền cung ứng sản phẩm, dịch vụ một cách độc quyền của bên nhượng quyền dẫn tới việc bên nhận quyền không được giao dịch với doanh nghiệp khác và giảm khả năng tiếp cận của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp này. Qua đó, thỏa thuận phân phối, cung ứng độc quyền ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc mở rộng kinh doanh và có thể cấu thành “thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh” và mặc nhiên bị cấm theo Luật Cạnh tranh 2018.[9] Tuy nhiên, với việc thỏa thuận này rõ ràng được xác lập để đáp ứng yêu cầu tính đồng bộ nhằm duy trì sự ổn định của hệ thống nhượng quyền, nếu bên nhượng quyền cho phép các bên nhận quyền được quyền phân phối, cung ứng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác thì cơ sở nhượng quyền sẽ có sự khác biệt rõ rệt dẫn đến sự so sánh của người tiêu dùng và thậm chí là ảnh hưởng đến nét đặc trưng của hệ thống.

2.3. Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Hợp đồng nhượng quyền còn có thể phát sinh điều khoản về việc áp đặt bên nhượng quyền phải mua hàng hóa, dịch vụ kèm theo, đặc biệt trong lĩnh vực về dịch vụ nhà hàng ăn uống, khách sạn.[10] Theo đó, điều khoản này yêu cầu mua hàng hóa, dịch vụ khác từ chính bên nhượng quyền hoặc bên thứ ba do bên nhượng quyền chỉ định. Điều này có nghĩa là bên nhận quyền phải thỏa mãn điều kiện mua hàng hóa, dịch vụ khác kèm theo để thực hiện hoạt động kinh doanh cơ sở nhượng quyền. Thỏa thuận này có thể cấu thành “Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng” theo khoản 8 Điều 11 và bị cấm nếu thuộc trường hợp tại khoản 3 (thỏa thuận giữa các doanh nghiệp cùng thị trường và gây tác động hoặc có tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể- thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận nhỏ hơn 5% theo theo điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị định 35/2020/NĐ-CP) và khoản 4 (thỏa thuận giữa các doanh nghiệp trong cùng chuỗi sản xuất, phân phối và cung ứng và gây tác động hoặc có tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể) Điều 12 Luật Cạnh tranh 2018.

Về bản chất, việc buộc bên nhượng quyền mua hàng hóa, dịch vụ kèm theo này nhằm mục đích đảm bảo chất lượng của sản phẩm, dịch vụ đồng nhất trong toàn bộ hệ thống nhượng quyền . Chẳng hạn, bên A đồng ý nhượng quyền cho bên B thực hiện việc kinh doanh một quán cà phê với điều kiện phải mua ly gia công từ bên C nhằm đảm bảo chất lượng của ly giấy. Điều khoản này giúp đảm bảo tất cả các cơ sở nhượng quyền đều sử dụng chung một loại ly giấy và tránh trường hợp chất lượng của ly giấy do bên nhận quyền tự mua từ bên khác không đạt yêu cầu của bên nhượng quyền đưa ra, dẫn đến ảnh hưởng đến trải nghiệm của khách hàng. Tuy nhiên, nếu thỏa thuận áp đặt bên nhận quyền phải mua các hàng hóa, dịch vụ không là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại và không đóng vai trò trong việc giữ việc thì vẫn cần được xem xét cấm theo quy định. Cụ thể, giả định bên B (bên nhận quyền) ký hợp đồng nhượng quyền thương mại với bên A (bên nhượng quyền) để được quyền kinh doanh quán ăn đã có nhiều chi nhánh trên toàn quốc. Trong đó, bên A ràng buộc bên B phải mua các công cụ làm bếp như chảo, nồi, v.v… từ bên C để đảm bảo chất lượng của thành phẩm. Đáng lưu ý là các công cụ làm bếp này có thể được mua từ các doanh nghiệp khác mà vẫn có chất lượng giống như bên C cũng như các công cụ này không đóng vai trò đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền vì khách hàng không trực tiếp vào bếp để quan sát quá trình đồ ăn được thực hiện. Như vậy, thỏa thuận áp đặt điều kiện mua hàng hóa này của bên A được xem là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần được xem xét để cấm.

2.4. Thỏa thuận phân chia thị trường

Thỏa thuận phân chia thị trường thường tồn tại trong điều khoản về phạm vi nhượng quyền nhằm xác định phạm vi nhượng quyền về mặt địa lý, địa điểm kinh doanh.[11] Dưới góc độ pháp luật về cạnh tranh, thỏa thuận này bị xem là “thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ” và bị cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 và khoản 4 Điều 12 Luật Cạnh tranh 2018. Rõ ràng, thỏa thuận này có tạo ra hành vi hạn chế cạnh tranh giữa các cơ sở trong cùng một hệ thống nhượng quyền và tạo ra sự hạn chế cho bên nhận quyền về việc mở rộng thị trường. Tuy nhiên, tính cạnh tranh nội bộ này là một vấn đề mà các bên nhận quyền trong cùng một hệ thống nhượng quyền cần giải quyết. Như đã phân tích ở trên, với việc sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như nhau và không có gì đặc biệt để phân biệt, các cơ sở nhượng quyền sẽ không có khả năng cạnh tranh. Điều này dẫn đến việc kinh doanh không được tối ưu nếu có quá nhiều cơ sở nhượng quyền trên cùng một khu vực địa lý. Do đó, trong khi có khả năng bị cấm, thỏa thuận này lại đóng vai trò giải quyết vấn đề về cạnh tranh nội bộ của hệ thống nhượng quyền được nêu trên và là một thành tố quan trọng trong một hợp đồng nhượng quyền thương mại.

Đáng lưu ý, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh vẫn được hưởng miễn trừ nếu thuộc và thỏa mãn các điều kiện của Điều 14 Luật Cạnh tranh hiện hành. Thế nhưng, thỏa thuận phân chia thị trường trong hợp đồng nhượng quyền thương mại khó có thể áp dụng quy định này để biện minh.[12] Đồng thời, quy định này cũng chỉ cho phép thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được miễn trừ có thời hạn, trong khi các thỏa thuận này lại không thể thiếu vì phát sinh từ bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại. Điều này càng cho thấy một nhu cầu tất yếu khách quan với việc hình thành một khung pháp lý riêng trong pháp luật về cạnh tranh cho hoạt động này.

III. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại theo pháp luật tại Liên minh Châu Âu - Hoa Kỳ

3.1. Pháp luật Liên minh Châu Âu: Khung pháp lý miễn trừ theo khối đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại

3.1.1. Án lệ Pronuptia v Schillgalis

Án lệ số 161/84 Pronuptia v Schillgalis có thể được xem là nền tảng hình thành nên các quy định cụ thể về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại sau này tại Liên minh Châu Âu. Trong đó, nguyên đơn là bên nhượng quyền (Pronuptia de Paris) và bị đơn là bên nhận quyền (Schillagalis). Hai bên đã ký kết và thực hiện hợp đồng nhượng quyền thương mại để kinh doanh váy cưới và các quần áo, phụ kiện khác liên quan đến cưới hỏi. Tình huống này xoay quanh việc giải quyết tranh chấp về phí nhượng quyền (royalty) phát sinh từ hợp đồng nhượng quyền này. Bị đơn lập luận rằng hợp đồng này bị vô hiệu do vi phạm quy định tại Điều 101(1) về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm của Hiệp ước Vận hành Liên minh Châu Âu (The Treaty on the Functioning of European Union) nhằm không phải trả chi phí tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nhượng quyền. Để phù hợp với bản chất của nhượng quyền thương mại, hợp đồng này về cơ bản cũng có chứa các thỏa thuận mang tính chất hạn chế cạnh tranh và được đã Tòa án Công lý Liên minh châu Âu (CJEU) xác định như sau:

Thứ nhất, các thỏa thuận mang tính chất hạn chế cạnh tranh nhưng không thuộc trường hợp vi phạm quy định tại Điều 101(1) nêu trên vì các thỏa thuận này xuất phát từ bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại nhằm bảo vệ tính đồng nhất, nét đặc trưng, quyền sở hữu trí tuệ cũng như uy tín của hệ thống nhượng quyền, bao gồm các thỏa thuận như:

- Thỏa thuận về việc chỉ phân phối, cung ứng hàng hóa mang nhãn hiệu “Pronuptia de Paris”.

- Thỏa thuận phải mua 80% sản phẩm áo cưới và phụ kiện kèm theo từ bên nhượng quyền và 20% còn lại từ bên thứ ba do bên nhượng quyền chấp thuận. Đây là thỏa thuận áp đặt bên nhượng quyền phải mua hàng hóa, dịch vụ từ phía bên nhượng quyền.

- Thỏa thuận về việc tham khảo giá bán được đề nghị bởi bên nhượng quyền nhưng bên nhượng quyền vẫn được quyền tự do định đoạt về giá. Thỏa thuận này mang bản chất tương tự thỏa thuận ấn định giá nhưng các bên trong trường hợp này chỉ thỏa thuận về việc tham khảo mức giá mà không mang tính ràng buộc thống nhất giá. Đáng lưu ý, mức giá do bên nhượng quyền đưa ra tuy chỉ mang tính chất tham khảo nhưng bên nhận quyền sẽ khó đưa ra một mức giá thấp hơn vì mức giá tham khảo đã được tính toán kỹ lưỡng bởi bên nhượng quyền nhằm đạt được sự tối đa trong doanh thu.

Thứ hai, thỏa thuận về việc nhượng quyền trong phạm vi lãnh thổ là ba thành phố của Đức (Hamburg, Hanover và Oldenburg) trong đó bên nhượng quyền không được mở bất kỳ cơ sở nào khác trong các lãnh thổ này mà chỉ được bán hàng tại các địa điểm đã được chỉ định và không được cạnh tranh với các cơ sở nhượng quyền Pronuptia khác ngoài phạm vi lãnh thổ này. Tòa án cho rằng thỏa thuận này đã cấu thành thỏa thuận phân chia thị trường và thuộc trường hợp tại Điều 101(1) đồng thời không được hưởng quyền miễn trừ theo quy định tại Điều 101(3) của Hiệp ước này vì đã vượt xa mức cần thiết để bảo vệ tính đồng nhất của hoạt động nhượng quyền và hạn chế sự cạnh tranh giữa các thành viên trong cùng hệ thống nhượng quyền. Cụ thể, bên nhượng quyền trong trường hợp này không những hạn chế việc thành lập cơ sở nhượng quyền khác trong các lãnh thổ trên mà còn buộc bên nhận quyền chỉ được thực hiện việc cung ứng, phân phối tại địa điểm được chỉ định thông qua việc cấm bên nhận quyền không được mở cửa hàng thứ hai bên ngoài lãnh thổ được nhượng quyền.[13] Tuy nhiên, không phải tất cả thỏa thuận phân chia thị trường đều bị cấm mà còn tùy thuộc vào bản chất của quan hệ thương mại và trường hợp cụ thể.[14] Trong nhượng quyền thương mại, các loại trừ này xuất phát từ tính cạnh tranh nội bộ giữa các bên nhận quyền trong cùng một hệ thống nhượng quyền và đồng thời dựa vào hệ thống phân phối mà bên nhượng quyền thực hiện.

3.1.2. Nghị quyết 720/2022

Pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại của Liên minh Châu Âu xem quan hệ nhượng quyền giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền mang bản chất của thỏa thuận theo chiều dọc vì bên nhượng quyền ở mức độ cao hơn bên nhận quyền trong cùng một chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Do đó, dựa trên án lệ Pronuptia, Nghị quyết 4087/88 được ban hành quy định về thỏa thuận theo chiều dọc trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Các quy định này sau đó được quy định cụ thể tại Nghị quyết 2790/99, Nghị quyết 330/2010 và văn bản hiện hành là Nghị quyết 720/2022 có hiệu lực từ ngày 10/05/2022 về việc “Áp dụng Điều 101(3) của Hiệp ước Vận hành Liên minh Châu Âu đối với các loại thỏa thuận dọc và thực tiễn phối hợp”. Theo Hướng dẫn về Hạn chế theo chiều dọc, Nghị quyết 720/2022 được áp dụng đối với hợp đồng nhượng quyền thương mại nếu thị phần của mỗi bên tham gia thỏa thuận không vượt quá 30% và đồng thời thỏa thuận này không thuộc trường hợp tuyệt đối bị cấm theo Điều 4 (hard-core restrictions) của Nghị quyết này, nghĩa là bất cứ thỏa thuận nào mang tính hạn chế cạnh thuộc Điều 4 này đều bị cấm mà không cần xét đến yếu tố về thị phần.[15]

Trong đó, có hai thỏa thuận thường có trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể bị cấm tuyệt đối là thỏa thuận hạn chế khả năng định đoạt giá cung ứng, phân phối hàng hóa, dịch vụ của bên nhận quyền và thỏa thuận phân chia thị trường. Đối với thỏa thuận hạn chế khả năng định đoạt giá cung ứng, phân phối hàng hóa, dịch vụ, đây là một dạng thỏa thuận về giá hàng hóa, dịch vụ. Theo đó, Điều 4(a) Nghị quyết này nghiêm cấm các thỏa thuận làm hạn chế khả năng định đoạt giá bán của bên nhận quyền. Quy định này không cấm các việc bên nhượng quyền đưa ra mức giá trần hoặc mức giá tham khảo (tương tự như án lệ Pronuptia) nhưng cấm việc đưa mức giá cố định và tối thiểu. Điều này là phù hợp vì mức giá trần có thể bảo vệ người tiêu dùng và mức giá tham khảo không làm mất đi quyền định đoạt giá bán của bên nhận quyền trong khi mức giá tối thiểu có thể gây ra phản cạnh tranh và mức giá cố định làm mất đi khả năng thay đổi giá theo quy luật thị trường. Bên nhận quyền khó có thể định đoạt mức giá thấp hơn mức giá trần quá nhiều hoặc theo mức giá tham khảo vì các mức giá này đã được bên nhượng quyền tính toán kỹ lưỡng nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra ổn định. Đối với thỏa thuận phân chia thị trường, Nghị quyết 720/2022 căn cứ vào phương thức tiếp cận hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng và hệ thống phân phối để đưa ra khung pháp lý phù hợp. Trong đó, phương thức tiếp cận hàng hóa, dịch vụ bao gồm hai dạng là mua bán chủ động (active sales) - việc người bán chủ động tiếp cận người mua và mua bán bị động (passive sales) - việc người mua chủ động tiếp cận người bán. Các phương thức này có thể diễn ra trong tất cả các hệ thống nhượng quyền. Theo phân loại của Nghị quyết 720/2022, nhượng quyền thương mại tại Liên minh Châu Âu có thể thực hiện theo ba hệ thống chính là hệ thống nhượng quyền độc quyền, hệ thống nhượng quyền chọn lọc và hệ thống nhượng quyền tự do. Dựa trên hai yếu tố này mà Nghị quyết đưa ra các trường hợp cụ thể như sau:

Thứ nhất, Nghị quyết này cấm các thỏa thuận phân chia thị trường trong trường hợp bên nhượng quyền thực hiện hoạt động này theo hệ thống phân phối độc quyền - hệ thống phân phối mà bên nhượng quyền chỉ định một lãnh thổ hoặc một nhóm khách hàng cho bên nhận quyền và hạn chế tất cả bên nhận quyền khác thực hiện việc chủ động bán vào khu vực hoặc nhóm khách hàng độc quyền, trừ 05 ngoại lệ sau:[16]

Một, thỏa thuận về việc bên nhượng quyền hạn chế bên nhận quyền độc quyền thực hiện việc mua bán chủ động trong lãnh thổ hoặc nhóm khách hàng đã được chỉ định. Bởi lẽ, bản chất của nhượng quyền theo mô hình phân phối độc quyền yêu cầu sự bảo vệ của bên nhượng quyền nhằm bảo đảm hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền. Với việc quy định này chỉ cho phép hành vi mua bán chủ động, việc mua bán bị động bị cấm do gây ra hạn chế sự lựa chọn của người tiêu dùng.

Hai, trong trường hợp bên nhượng quyền thực hiện việc nhượng quyền vừa theo mô hình phân phối độc quyền ở lãnh thổ này vừa theo mô hình phân phối chọn lọc ở lãnh thổ cụ thể khác, pháp luật cho phép thỏa thuận về việc bên nhượng quyền hạn chế bên nhận quyền theo mô hình phân phối độc quyền mua bán chủ động hoặc thụ động sang lãnh thổ đang thực hiện mô hình phân phối chọn lọc. Điều này nhằm bảo vệ mô hình phân phối chọn lọc sẽ được phân tích tại phần dưới.

Ba, Nghị quyết này cho phép bên nhượng quyền giới hạn nơi thành lập cơ sở nhượng quyền thông qua việc chỉ định cụ thể địa điểm thành lập, trừ trường hợp thành lập cơ sở nhượng quyền hoạt động trực tuyến (thương mại điện tử).

Bốn, trong trường hợp bên nhận quyền hoạt động bán buôn, thỏa thuận hạn chế bên nhận quyền bán buôn thực hiện việc mua bán chủ động và bị động đến người tiêu dùng được cho phép. Điều này nhằm bảo vệ và tách bạch giữa các bên trong cùng một chuỗi sản xuất, cung ứng, phân phối.

Năm, thỏa thuận hạn chế bên nhận quyền thực hiện việc mua bán chủ động hoặc thụ động các thành phần cấu thành hàng hóa, dịch vụ cho đối thủ của bên nhượng quyền nhằm mục đích sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ tương tự.

Thứ hai, Nghị quyết này cấm các thỏa thuận phân chia thị trường trong trường hợp bên nhượng quyền thực hiện hoạt động này theo hệ thống phân phối chọn lọc (selective distribution) - hệ thống phân phối mà bên nhượng quyền chỉ giao kết hợp đồng nhượng quyền với bên nhận quyền đáp ứng các tiêu chí đặc thù được đưa ra và bên nhượng quyền phải cam kết không cung ứng, phân phối hàng hóa, dịch vụ cho bên thứ ba không được quyền trong lãnh thổ được chỉ định để thực hiện hoạt động nhượng quyền. Quy định này cũng bao gồm 05 trường hợp ngoại lệ như sau:

Một, thỏa thuận phân chia thị trường trong đó hạn chế bên nhận quyền thực hiện việc mua bán chủ động đến lãnh thổ hoặc nhóm khách hàng được thực hiện theo mô hình phân phối độc quyền.

Hai, thỏa thuận phân chia thị trường trong đó hạn chế bên nhận quyền thực việc mua bán chủ động hoặc thụ động cho bên thứ ba không được quyền trong lãnh thổ được thực hiện hình thức phân phối chọn lọc.

Ba, thỏa thuận hạn chế nơi thành lập cơ sở nhượng quyền.

Bốn, thỏa thuận hạn chế bên nhận quyền hoạt động bán buôn thực hiện việc mua bán chủ động hoặc thụ động trực tiếp đến người tiêu dùng.

Năm, thỏa thuận hạn chế khả năng mua bán chủ động hoặc thụ động thành phần của hàng hóa, dịch vụ cho đối thủ của bên nhượng quyền.

Thứ ba, trong trường hợp bên nhượng quyền thực hiện hoạt động nhượng quyền theo mô hình phối phối tự do, nghĩa là không theo mô hình phân phối độc quyền hay chọn lọc, thỏa thuận phân chia thị trường cũng bị cấm ngoại trừ 05 trường hợp tương tự với các ngoại lệ của hai mô hình nêu trên nhằm đảm chuỗi phân phối, cung ứng hàng hóa, dịch vụ đến người tiêu dùng hoạt động một cách hiệu quả, cụ thể như sau:

Một, thỏa thuận phân chia thị trường trong đó hạn chế bên nhận quyền thực hiện việc mua bán chủ động đến lãnh thổ hoặc nhóm khách hàng được thực hiện theo mô hình phân phối độc quyền.

Hai, thỏa thuận phân chia thị trường trong đó hạn chế bên nhận quyền thực việc mua bán chủ động hoặc thụ động cho bên thứ ba không được nhượng quyền trong lãnh thổ được thực hiện hình thức phân phối chọn lọc.

Ba, thỏa thuận hạn chế nơi thành lập cơ sở nhượng quyền.

Bốn, thỏa thuận hạn chế bên nhận quyền hoạt động bán buôn thực hiện việc mua bán chủ động hoặc thụ động trực tiếp đến người tiêu dùng.

Năm, thỏa thuận hạn chế khả năng mua bán chủ động hoặc thụ động thành phần của hàng hóa, dịch vụ cho đối thủ của bên nhượng quyền.

Ngoài ra, Nghị quyết này cũng cấm các thỏa thuận làm cản trở việc sử dụng internet một cách hiệu quả của bên nhận quyền vì điều này cấu thành hành vi hạn chế thị trường tiêu thụ và gây bất lợi cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, bên nhượng quyền vẫn có thể áp đặt các hạn chế nhất định trong hoạt động này nhằm đảm bảo hoạt động nhượng quyền được thực hiện hiệu quả. Cụ thể, quy định trên đưa ra hai loại trừ bao gồm các hạn chế khác trong việc mua bán trực tuyến không làm cản trở việc sử dụng hiệu quả internet và hạn chế việc quảng cáo trực tuyến mà không cấm hoàn toàn hoạt động này.

3.2. Pháp luật Hoa Kỳ: Sự phát triển của nguyên tắc đánh giá tác động hợp lý (Rule of Reason) và các án lệ chuyển đổi đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại

Các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền thương mại tại Mỹ đã có một thời gian dài đấu tranh để có thể đưa các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh vào hợp đồng nhượng quyền thương mại một cách hợp pháp.[17] Trong giai đoạn trước nửa đầu những năm 1970 tại Mỹ, các thỏa thuận mang tính chất hạn chế cạnh tranh trong hoạt động này thường có xu hướng bị cấm theo nguyên tắc vi phạm mặc nhiên (Per se illegal) quy định tại Mục 1 Đạo luật Sherman. Rõ ràng, như các phân tích trên, nguyên tắc này không thực sự phù hợp khi áp dụng để xem xét các thỏa thuận trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Do đó, cùng với sự đấu tranh tại Tòa của các thương nhân nhượng quyền, kể từ nửa sau những năm 1970, Tòa án Mỹ bắt đầu giải quyết các tranh chấp này theo hướng tiếp cận mới bằng việc áp dụng nguyên tắc đánh giá tác động hợp lý (Rule of reason).[18] Đề cập đến giai đoạn này, các án lệ sau đây đã đặt ra nền tảng mới trong việc áp dụng nguyên tắc này để giải quyết vấn đề về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại thay cho nguyên tắc vi phạm mặc nhiên, cụ thể:

Thứ nhất, án lệ Continental T.V., Inc, kiện GTE Sylvania., Inc (1977) đã tiếp cận thỏa thuận phân chia thị trường theo nguyên tắc đánh giá tác động thay vì nguyên tắc mặc nhiên vi phạm trước đó được giải quyết trong án lệ United States kiện Arnold, Schwinn & Co. (1967).

Thứ hai, án lệ State Oil Co. kiện Khan (1997) đã giải quyết thỏa thuận ấn định giá tối đa dựa trên nguyên tắc đánh giá tác động thay cho nguyên tắc mặc nhiên vi phạm trước đó được giải quyết trong vụ án Albrecht kiện Herald Co. (1968).

Thứ ba, án lệ Leegin Creative Leather Products., kiện PSKS, Inc (2007) đã giải quyết thỏa thuận ấn định giá tối thiểu dựa trên nguyên tắc đánh giá tác động thay cho nguyên tắc mặc nhiên vi phạm trước đó được giải quyết trong vụ án Dr. Miles Medical Co. kiện John D. Park & Sons Co. (1911).[19]

Bản chất của nguyên tắc đánh giá tác động hợp lý yêu cầu việc đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh phải tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, trong đó xem xét sự chênh lệch của hai khía cạnh là thỏa thuận có tác động thúc đẩy cạnh tranh và thỏa thuận có tác động phản cạnh tranh, từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan về tác động tích cực lẫn tiêu cực cũng như hiệu quả kinh tế của thỏa thuận đó mang lại.[20] Việc áp dụng nguyên tắc này thông thường dựa trên hai yếu tố là yếu tố thị trường liên quan và sức mạnh thị trường của bên nhượng quyền. Một bên được xem là có sức mạnh thị trường và có tác động hạn chế cạnh tranh nếu có mức thị phần chiếm hơn 30%. Ngược lại, nếu mức thị phần thị phần dưới 30% thì không có xu hướng gây ra tác động hạn chế cạnh tranh.[21]

Ngoài ra, đối với thỏa thuận mang tính áp đặt điều kiện ký kết hợp đồng nhượng quyền sẽ bị cấm nếu chứa các yếu tố: (1) hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền và hàng hóa, dịch vụ kèm theo có thể tách rời và phân biệt được; (2) bên nhượng quyền có sức mạnh thị trường đáng kể đối với hàng hóa, dịch vụ kèm theo để ép buộc bên nhận quyền mua; và (3) thỏa thuận này ảnh hưởng một cách đáng kể đến thị trường của hàng hóa, dịch vụ kèm theo.[22] Vấn đề này ban đầu được tiếp cận tại án lệ Siegel kiện Chicken Delight, theo đó bên nhượng quyền (Chicken Delight) cửa hàng thức ăn nhanh áp đặt bên nhượng quyền (Siegel) phải mua các sản phẩm đính kèm như bếp, chảo, bao bì, v.v… Tòa án trong trường hợp này cho rằng việc bên nhượng quyền chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu “Chicken Delight” đã có đủ sức mạnh thị trường để được xem là vi phạm Đạo luật Sherman và bị cấm theo quy định của pháp luật.[23] Tuy nhiên, án lệ Illinois Tool Works Inc. kiện Independent Ink, Inc (2006), Tòa án Mỹ đã loại bỏ quan điểm này, cho rằng sức mạnh thị trường của bên nhượng quyền không thể được thừa nhận một cách hiển nhiên nếu chỉ dựa trên bằng độc quyền sáng chế nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung của bên nhượng quyền. Án lệ này đặt ra yêu cầu về việc bên nhận quyền cần phải chứng minh yếu tố sức mạnh thị trường một cách độc lập.

Có thể nói, sự thay đổi trong hướng tiếp cận đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại tại Mỹ là một xu hướng tích cực giúp hoạt động này phát triển lành mạnh. Hơn thế nữa, điều này hạn chế việc bên nhận quyền tận dụng nguyên tắc vi phạm mặc nhiên để yêu cầu tuyên bố hợp đồng nhượng quyền vô hiệu trong khi bên nhận quyền có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhượng quyền, gây thiệt hại không đáng có cho bên nhượng quyền và làm ảnh hưởng đến bản chất cần có để hoạt động này vận hành đúng hướng.

IV. Kiến nghị

Nhìn chung, hoạt động nhượng quyền vẫn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật về cạnh tranh nhưng với các quy định về trường hợp ngoại lệ được miễn trừ phù hợp để hoạt động thương mại này phát triển theo đúng bản chất của nó trong khi không gây ra sự mâu thuẫn giữa pháp luật về thương mại và pháp luật về cạnh tranh. Từ các phân tích trên, tác giả đưa ra các kiến nghị sau đây nhằm phát triển các quy định của pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam về nhượng quyền thương mại, cụ thể:

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam cần thống nhất về loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được phép trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Như đã đề cập ở trên, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam có thể là thỏa thuận theo chiều ngang và thỏa thuận theo chiều dọc nhưng bản chất mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong hoạt động này mang bản chất của thỏa thuận theo chiều dọc vì bên nhượng quyền ở mức độ cao hơn bên nhận quyền trong cùng một chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhất định cũng hàng hóa, dịch vụ mà các bên là như nhau và đồng nhất dưới góc độ của người tiêu dùng. Điều này tương tự quy định của Nghị định 720/2022 của Liên minh Châu Âu khi các thỏa thuận trong hợp đồng nhượng quyền thương mại được xem là dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc.

Thứ hai, đối với các thỏa thuận mang tính hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, các phân tích trên về quy định của pháp luật tại Mỹ và Liên minh Châu Âu cho thấy điểm chung của quốc gia và lãnh thổ này là việc áp dụng mức trần 30% đối với thị phần của mỗi bên tham gia giao dịch để đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh. Điều này cho thấy 30% là một mức trần phù hợp khi tác động thúc đẩy cạnh tranh cao hơn tác động phản cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền, cao hơn so với quy định tại khoản 4 Điều 12 Luật Cạnh tranh và điểm b khoản 3 Điều 11 Nghị định 35/2020/NĐ-CP là 15%. Theo đó, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam có thể được hưởng quyền miễn trừ nếu không vượt quá mức thị phần này.

Bên cạnh đó, pháp luật về cạnh canh cũng cần quy định các trường hợp đặc thù. Cụ thể, một số thỏa thuận mang tính hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại không cần phải phụ thuộc vào mức trần 30% nêu trên vì nó nhằm mục đích bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và phục vụ cho tính động bộ của cơ sở nhượng quyền. Trong khi đó, vẫn tồn tại các thỏa thuận trong hợp đồng này cần có các quy định chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo không gây ra tình trạn ngăn cản, kim hãm các đối thủ cạnh tranh của bên nhượng quyền cũng như hạn chế quyền được tự do lựa chọn của người tiêu dùng. Như vậy, tác giả kiến nghị đưa ra các trường hợp đặc thù cho các thỏa thuận trên như sau:

(1) Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của hợp đồng nhượng quyền thương mại được mặc nhiên hưởng quyền miễn trừ, nghĩa là không phụ thuộc vào mức trần nêu trên, bao gồm:

Một, thỏa thuận về phân phối độc quyền được miễn trừ nhằm đảm bảo tính đồng bộ của hoạt động nhượng quyền;

Hai, thỏa thuận áp đặt điều kiện giao kết hợp đồng nhượng quyền sẽ được miễn trừ nhưng cần phải đáp ứng các tiêu chí do pháp luật đưa ra, cụ thể như việc hàng hóa, dịch vụ kèm theo này phải liên quan mật thiết đến đối tượng của hợp đồng. Tham khảo hướng tiếp cận tại Hoa Kỳ, thỏa thuận áp đặt điều kiện ký kết hợp đồng nhượng quyền sẽ được miễn trừ nếu không chứa các yếu tố sau: (i) hàng hóa, dịch vụ kèm theo có thể tách rời khỏi đối tượng của hợp đồng nhượng quyền và có thể bị thay thế bởi hàng hóa, dịch vụ tương tự. (Vì điều này cho thấy hàng hóa, dịch vụ kèm theo đó không hoàn toàn có “mối liên hệ bật thiết” và vẫn có thể bị thay thế bởi các hàng hóa, dịch vụ khác trên cùng thị trường); (ii) bên nhượng quyền có sức mạnh thị trường đáng kể đối với hàng hóa, dịch vụ kèm theo; và (iii) thỏa thuận này ảnh hưởng một cách đáng kể đến thị trường của hàng hóa, dịch vụ kèm theo. Điều này cho thấy pháp luật Việt Nam cũng cần đưa ra giải thích cụ thể về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại để đưa ra cách tiếp cận phù hợp nhất với quy định này.

(2) Các thỏa thuận cần có các quy định chặt chẽ hơn bao gồm:

Một, thỏa thuận ấn định giá tối thiểu. Khác với thỏa thuận thỏa thuận ấn định giá tối đa và giá cố định có thể được hưởng quyền miễn trừ nếu thuộc trường hợp nêu trên, thỏa thuận ấn định giá tối thiểu gây ra tình trạng ngăn cản, kìm hãm và loại bỏ các đối thủ cạnh tranh của bên nhượng quyền, làm ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường nên sẽ thuộc trường hợp mặc nhiên bị cấm.

Hai, thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ có thể được hưởng quyền miễn trừ trong trường hợp thỏa mãn điều kiện về việc thị phần của từng bên tham gia thỏa thuận dưới 30% và thỏa thuận này không hạn chế việc hành vi mua bán thụ động gây ra sự hạn chế trong lựa chọn tiêu dùng của người tiêu dùng. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam có thể tham khảo việc đưa ra các ngoại lệ cho thỏa thuận này trên cơ sở phân chia mô hình phân phối tương tự như Liên minh Châu Âu.

V. Kết luận

Nhìn chung, nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại đặc biệt đòi hỏi sự cân bằng hài hòa giữa pháp luật về thương mại và pháp luật về cạnh tranh. Tính đồng nhất của hệ thống nhượng quyền song nảy sinh sự cạnh tranh nội bộ giữa các bên nhận quyền là yếu tố dẫn đến sự tất yếu khách quan trong việc pháp luật về cạnh tranh cần có một khung pháp lý đặc thù để điều chỉnh. Với các quy định đã được hình thành từ cuối thế kỷ XX, pháp luật hiện hành tại Liên minh Châu Âu và Mỹ về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại là tương đối đầy đủ và phù hợp. Pháp luật của các lãnh thổ, quốc gia này có thể trở thành một nguồn tham khảo cần thiết và đáng tin cậy để hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại nhằm đảm bảo hoạt động này phát triển hơn nữa tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1. Luật Cạnh tranh 2018 số 23/2018/QH14.

2. Luật Thương mại 2005 sô 36/2005/QH11 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2019).

3. Nghị định số 35/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh.

4. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh.

5. Nghị quyết 720/2022 Liên minh Châu Âu quy định về việc áp dụng Điều 101(3) của Hiệp ước Vận hành Liên minh Châu Âu đối với các loại thỏa thuận dọc và thực tiễn phối hợp.

6. Pronuptia de Paris GmbH v. Pronuptia de Paris Irmgard Schillgallis, Case 161/84, [1986] E.C.R 353

7. Siegel v. Chicken Delight, Inc., 311 F. Supp. 847 (N.D. Cal. 1970)

8. Continental T.V., Inc, kiện GTE Sylvania., Inc (1977)

9. United States v Arnold, Schwinn & Co. (1967).

10. State Oil Co. v Khan (1997)

11. Albrecht v Herald Co. (1968)

12. Leegin Creative Leather Products., v PSKS, Inc (2007)

13. Dr. Miles Medical Co. v John D. Park & Sons Co. (1911).

14. Guidelines on vertical restraints (2022/C 248/01)

15. Tạp chí Tài chính, Quản lý nhà nước về nhượng quyền thương mại và một số kiến nghị”, (23/07/2015) https://tapchitaichinh.vn/quan-ly-nha-nuoc-ve-nhuong-quyen-thuong-mai-va-mot-so-khuyen-nghi.html

16. ThS Tạ Kiến Tường - ThS Đỗ Thị Cẩm Vân Nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công thương (04/11/2022) https://tapchicongthuong.vn/nhuong-quyen-thuong-mai-va-hop-dong-nhuong-quyen-thuong-mai-theo-phap-luat-viet-nam-99780.htm

17. Phùng Văn Thành, Khái quát những nội dung pháp lý cơ bản về thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo pháp luật nước ngoài (22/7/2019) https://www.bvntd.gov.vn/tintuc_sukien/khai-quat-nhung-noi-dung-phap-ly-co-ban-ve-thoa-thuan-han-che-canh-tranh-theo-phap-luat-nuoc-ngoai/n).

18. Vũ Đặng Hải Yến, Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại, Tạp chí Luật học số 11, 63, 64 (2008).

19. ThS Nguyễn Thị Hồng Vân Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (01/9/2011) https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/207633/Cac-thoa-thuan-han-che-canh-tranh-trong-hop-dong-nhuong-quyen-thuong-mai.html

20. Nguyễn Thị Tình, Pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động NQTM ở Việt Nam hiện nay, (Luận án Tiến sĩ Luật học), Trường Đại học Luật Hà Nội, (2015).

21. Nguyễn Anh Thơ, Tranh chấp về quyền đối với tài sản trí tuệ và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam số 10(182), 37, 47 (2024)

22. TS. Trần Thăng Long – Nguyễn Trần Vũ Tuân Thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh đối với hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ăn uống, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (04/01/2021)

https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210642/Thoa-thuan-gay-han-che-canh-tranh-doi-voi-hoat-dong-nhuong-quyen-thuong-mai-trong-linh-vuc-kinh-doanh-dich-vu-an-uong.html

23. COMPETITION LAW, RICHARD WHISH & DAVID BAILEY, NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC OXFORD.

24. Robert T. Joseph, Antitrust Law, Franchising, and Vertical Restraints, Franchise Law Journal, Volume 31, Number 1, Summer 1.

25. UC Davis, What Do Franchisees Do? Vertical Restraints as Workplace Fissuring and Labor Discipline Devices (2021) https://escholarship.org/uc/item/9x17w2kv

[*] Giảng viên Khoa Cơ bản, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Phân hiệu Vĩnh Long, Email: trietthm@ueh.edu.vn

[**] ThS, Giảng viên Khoa Luật, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Email: dungmn@ueh.edu.vn

[1] Quản lý nhà nước về nhượng quyền thương mại và một số kiến nghị, Tạp chí Tài chính (23/07/2015) https://tapchitaichinh.vn/quan-ly-nha-nuoc-ve-nhuong-quyen-thuong-mai-va-mot-so-khuyen-nghi.html

[2] ThS Tạ Kiến Tường - ThS Đỗ Thị Cẩm Vân Nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công thương (04/11/2022) https://tapchicongthuong.vn/nhuong-quyen-thuong-mai-va-hop-dong-nhuong-quyen-thuong-mai-theo-phap-luat-viet-nam-99780.htm

[3] Vũ Đặng Hải Yến, Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại, Tạp chí Luật học số 11, 63, 64 (2008).

[4] Nguyễn Thị Tình, Pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động NQTM ở Việt Nam hiện nay, (Luận án Tiến sĩ Luật học), Trường Đại học Luật Hà Nội, (2015).

[5] Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh, Điểm b khoản 1 Điều 19.

[6] Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh, Điểm b khoản 2 Điều 19.

[7] Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh, Điều 20.

[8] ThS Nguyễn Thị Hồng Vân, Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (01/9/2011) https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/207633/Cac-thoa-thuan-han-che-canh-tranh-trong-hop-dong-nhuong-quyen-thuong-mai.html

[9] Luật Cạnh tranh 2018 số 23/2018/QH14, Điều 20.

[10] TS. Trần Thăng Long – Nguyễn Trần Vũ Tuân, Thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh đối với hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ăn uống, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (04/01/2021)

https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210642/Thoa-thuan-gay-han-che-canh-tranh-doi-voi-hoat-dong-nhuong-quyen-thuong-mai-trong-linh-vuc-kinh-doanh-dich-vu-an-uong.html

[11] Nguyễn Thị Tình, tlđd, 04.

[12] Nguyễn Anh Thơ, Tranh chấp về quyền đối với tài sản trí tuệ và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam số 10(182), 37, 47 (2024)

[13] Pronuptia de Paris GmbH v. Pronuptia de Paris Irmgard Schillgallis, Case 161/84, [1986] E.C.R 353

[14] COMPETITION LAW, RICHARD WHISH & DAVID BAILEY, NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC OXFORD, 645-646.

[15] Guidelines on vertical restraints (2022/C 248/01)

[16] Guidelines on vertical restraints (2022/C 248/01)

[17] UC Davis, What Do Franchisees Do? Vertical Restraints as Workplace Fissuring and Labor Discipline Devices (2021) https://escholarship.org/uc/item/9x17w2kv

[18] Robert T.Joseph, Antitrust Law, Franchising, and Vertical Restraints, Franchise Law Journal, Volume 31, Number 1, Summer (2011), file:///C:/Users/admin/Downloads/Joseph%20Robert%20T%2000%20pdf%20(3).pdf

[19] Robert T. Joseph, tlđd, 16.

[20] Phùng Văn Thành, Khái quát những nội dung pháp lý cơ bản về thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo pháp luật nước ngoài (22/7/2019) https://www.bvntd.gov.vn/tintuc_sukien/khai-quat-nhung-noi-dung-phap-ly-co-ban-ve-thoa-thuan-han-che-canh-tranh-theo-phap-luat-nuoc-ngoai/n).

[21] Robert T. Joseph, tlđd, 16.

[22] ThS Nguyễn Thị Hồng Vân, tlđd, 8.

[23] Siegel v. Chicken Delight, Inc., 311 F. Supp. 847 (N.D. Cal. 1970)

Cùng chuyên mục

Hoàn thiện khung pháp lý ghi nhận vai trò của các tổ chức tôn giáo trong việc hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận tác phẩm tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý ghi nhận vai trò của các tổ chức tôn giáo trong việc hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận tác phẩm tại Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  4 tuần trước

(PLPT) - Bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận tác phẩm của người khuyết tật (NKT).

Quy định pháp luật về nhãn hàng hoá đối với sản phẩm nước ép trái cây: Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam

Quy định pháp luật về nhãn hàng hoá đối với sản phẩm nước ép trái cây: Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  4 tuần trước

(PLPT) - Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về nhãn hàng hoá cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này đối với sản phẩm nước ép trái cây trên thị trường, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về ghi nhãn hàng hóa, hướng đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về thực phẩm.

Phát triển đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam và những vấn đề pháp lý đặt ra

Phát triển đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam và những vấn đề pháp lý đặt ra

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Đại lý hải quan tại Việt Nam hiện mới dừng ở dịch vụ khai thuê, chưa phát huy vai trò “cánh tay nối dài” của cơ quan Hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số. Nhiều vướng mắc pháp lý đang cản trở sự phát triển chuyên nghiệp của mô hình này, đòi hỏi hoàn thiện khung pháp luật để phù hợp với xu thế tự động hóa và hội nhập.

Đảm bảo quyền của cổ đông thiểu số trong đề cử và bầu thành viên độc lập Hội đồng quản trị tại các công ty đại chúng niêm yết trong bối cảnh sở hữu tập trung  - kinh nghiệm quốc tế và gợi mở cho Việt Nam

Đảm bảo quyền của cổ đông thiểu số trong đề cử và bầu thành viên độc lập Hội đồng quản trị tại các công ty đại chúng niêm yết trong bối cảnh sở hữu tập trung - kinh nghiệm quốc tế và gợi mở cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Bài viết so sánh quy định của Italia và Trung Quốc về bảo vệ quyền cổ đông thiểu số trong đề cử, bầu thành viên độc lập HĐQT tại công ty đại chúng niêm yết, đồng thời chỉ ra các khó khăn trong thực thi. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra khuyến nghị cho Việt Nam nhằm hoàn thiện pháp lý, nâng cao hiệu quả quản trị và củng cố niềm tin nhà đầu tư.

Tư cách pháp nhân của Công ty cổ phần tại Việt Nam: Vấn đề tiếp thu lý thuyết pháp nhân hư cấu - Triết học Marx – Engels và thực tiễn

Tư cách pháp nhân của Công ty cổ phần tại Việt Nam: Vấn đề tiếp thu lý thuyết pháp nhân hư cấu - Triết học Marx – Engels và thực tiễn

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Bài viết cho rằng việc tiếp thu thuyết “pháp nhân hư cấu” trong lý luận về tư cách pháp nhân của công ty cổ phần ở Việt Nam có nhiều điểm chưa phù hợp với nền tảng triết học Marx – Engels. Tác giả chỉ ra một số quan điểm mang tính duy tâm, xa rời thực tiễn doanh nghiệp, và đề xuất hướng khắc phục để phù hợp với bối cảnh pháp lý Việt Nam.

Quyền bề mặt trong pháp luật La Mã và một số kiến nghị cho Việt Nam

Quyền bề mặt trong pháp luật La Mã và một số kiến nghị cho Việt Nam

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Chế định quyền bề mặt (superficies), có nguồn gốc từ Luật La Mã, là một quyền tài sản quan trọng cho phép tách bạch quyền sở hữu công trình trên mặt đất với quyền sử dụng đất

Pháp luật về hợp đồng kỳ hạn trong hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa

Pháp luật về hợp đồng kỳ hạn trong hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Bài viết nghiên cứu hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng kỳ hạn trong hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa tại Việt Nam.

Xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

Xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

Nghiên cứu lý luận -  1 tháng trước

(PLPT) - Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chủ thể có quyền tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm cũng như quyền lợi của họ khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Việc tuân thủ nguyên tắc này là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản theo quy định pháp luật Việt Nam.