Chính sách, pháp luật về kinh tế số của một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam
(PLPT) - Bài viết này phân tích chính sách, pháp luật về kinh tế số của một số nước và khu vực tiêu biểu, qua đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam.
Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ chế miễn trách nhiệm do người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ theo Điều 79(2) Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), một quy định đặc thù với các điều kiện áp dụng chặt chẽ nhằm hạn chế việc chuyển giao rủi ro từ bên có nghĩa vụ sang bên còn lại. Thông qua việc làm rõ khái niệm “người thứ ba”, mối quan hệ giữa Điều 79(1) và Điều 79(2), cũng như thực tiễn giải thích của tòa án và trọng tài quốc tế, bài viết chỉ ra phạm vi áp dụng rất hẹp của cơ chế “miễn trách kép” trong CISG. Trên cơ sở so sánh với pháp luật Việt Nam, bài viết cho thấy hệ thống pháp luật hiện hành chưa ghi nhận minh thị trường hợp miễn trách nhiệm do người thứ ba không thực hiện nghĩa vụ và vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề này. Từ đó, bài viết đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam theo hướng làm rõ lập trường lập pháp và tăng cường mức độ hài hòa với CISG.
Từ khóa: bất khả kháng; CISG; miễn trách; người thứ ba; hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Abstract: This article analyzes the mechanism of exemption from liability due to third-party failure to perform obligations under Article 79(2) of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG), a specific provision with strict application conditions aimed at limiting the transfer of risk from the obligated party to the other party. By clarifying the concept of "third party," the relationship between Article 79(1) and Article 79(2), as well as the practical interpretation of international courts and arbitration, the article points out the very narrow scope of application of the "double exemption" mechanism in the CISG. Based on a comparison with Vietnamese law, the article shows that the current legal system has not explicitly recognized the case of exemption from liability due to third-party failure to perform obligations and there are still differing views surrounding this issue. Therefore, the article proposes improving Vietnamese law by clarifying the legislative position and increasing the degree of harmonization with the CISG.
Keywords: CISG; exemption from liability; force majeure;international sale contracts; third person.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, một bên có thể gặp phải trở những trở ngại khách quan không lường trước được, không kiểm soát được và không khắc phục được, khiến bên đó không thể thực hiện được nghĩa vụ trong hợp đồng. Trong những trường hợp như vậy, việc buộc bên gặp trở ngại phải chịu trách nhiệm pháp lý do không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng là không hợp lý, thậm chí đi ngược lại với nguyên tắc thiện chí trong giao kết và thực hiện hợp đồng. Chính vì vậy, các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới đều có quy định về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng khi một bên gặp phải các trở ngại khách quan có tính chất bất khả kháng.
Quy định về miễn trách nhiệm đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế vì các giao dịch xuyên biên giới phải đối diện với nhiều rủi ro như thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh, sự thay đổi của chính sách, pháp luật... Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên 1980 – CISG) quy định về miễn trách nhiệm tại Điều 79. Ngoài quy định chung về trường hợp bất khả kháng tại khoản 1, khoản 2 của điều này còn quy định riêng về trường hợp miễn trách do người thứ ba mà một bên đã thuê để thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng đã không thực hiện được nghĩa vụ. Đây là một trường hợp miễn trách đặc thù của CISG và không có điều khoản tương đồng trong pháp luật Việt Nam.
Mặc dù ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về Điều 79(2) CISG (sẽ được trình bày tại phần 3), đa số mới dừng lại ở việc nêu ra vấn đề mà chưa có sự phân tích thấu đáo. Đặc biệt, câu hỏi Việt Nam có nên tiếp thu cách tiếp cận của CISG hay không và nếu có thì ở mức độ nào vẫn chưa được trả lời một cách thấu đáo. Bài viết này góp thêm một số luận điểm mới thông qua việc khảo cứu các tư liệu pháp lý được công bố trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, tác giả đi sâu hơn so với các nghiên cứu trước bằng cách so sánh với pháp luật của một số quốc gia, đối chiếu quan điểm của nhiều học giả có uy tín và xem xét một số tranh chấp tiêu biểu đã được Tòa án một số nước giải quyết.
Phần đầu của bài viết tập trung làm rõ các vấn đề về học thuyết, lịch sử ra đời và các khía cạnh pháp lý của quy định về miễn trách do người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ theo Điều 79(2) của CISG. Qua đó, bài viết làm rõ nội hàm của một quy định còn ít được các chuyên gia pháp lý và cộng đồng doanh nghiệp trong nước hiểu thấu đáo, dù Việt Nam đã gia nhập CISG gần mười năm nay.
Ở phần sau, bài viết phân tích quan điểm của các học giả trong nước, đồng thời tham khảo pháp luật của một số quốc gia để có thêm góc nhìn đa chiều nhằm trả lời câu hỏi có cần thiết bổ sung quy định tương ứng vào pháp luật Việt Nam. Bài viết đi đến kết luận: mặc dù việc bổ sung quy định này không phải một yêu cầu cấp thiết nhưng việc hoàn thiện pháp luật nội địa theo hướng hài hòa với CISG sẽ tránh tình trạng tồn tại song song hai hệ thống quy định về hợp đồng, góp phần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Sự hài hòa này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh các giao dịch thương mại quốc tế ngày càng phức tạp và có sự tham gia của nhiều chủ thể.
Khi giao kết hợp đồng, nguyên tắc pacta sunt servanda - các giao ước phải được tôn trọng và thực hiện - yêu cầu các bên thực hiện đầy đủ và thiện chí những nghĩa vụ đã thỏa thuận.[1] Nguyên tắc này đảm bảo tính ràng buộc và ổn định của hợp đồng, gắn quyền tự do hợp đồng với nghĩa vụ không được làm trái kỳ vọng đã tạo ra cho các bên. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, có các ngoại lệ cho phép bên vi phạm được miễn hoặc giảm trừ trách nhiệm, phổ biến nhất là trường hợp bất khả kháng - bên vi phạm được miễn trừ nếu chứng minh được việc không thực hiện nghĩa vụ là do trở ngại khách quan không thể tiên liệu, nằm ngoài khả năng kiểm soát và không thể khắc phục. Ngoài ra trong trường hợp một bên gặp khó khăn (hardship) - chẳng hạn do hoàn cảnh thay đổi cơ bản - các nghĩa vụ trong hợp đồng có thể được điều chỉnh để cân bằng giữa nguyên tắc pacta sunt servanda và sự công bằng trong thực tiễn thực hiện hợp đồng.[2]
Theo Phòng Thương mại Quốc tế (ICC), lý do bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản thường được viện dẫn khi các sự kiện bất ngờ khiến việc thực hiện nghĩa vụ trở nên không không khả thi, hoặc làm mất cân bằng đáng kể lợi ích hợp đồng. Trong trường hợp bất khả kháng, bên gặp bất khả kháng sẽ được miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên gặp trở ngại có quyền yêu cầu đàm phán lại để điều chỉnh hợp đồng. Đặc biệt, ICC nhận định, nếu trước đây các sự kiện được xem là bất khả kháng chủ yếu là thiên tai (act of God) thì ngày nay chúng đã đa dạng hơn nhiều. Do pháp luật quốc gia thường quy định về vấn đề này, sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật có thể dẫn tới sự áp dụng và hậu quả pháp lý khác nhau.[3]
Tiếp thu cả truyền thống Common Law và Civil Law, Điều 79 của CISG đưa ra một số quy định về miễn trách trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Điều 79(1) quy định rằng một bên sẽ “không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào của mình nếu bên đó chứng minh được rằng việc không thực hiện đó là do trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát của mình và không thể mong đợi một cách hợp lý rằng bên đó đã tính đến trở ngại đó vào thời điểm ký kết hợp đồng hoặc đã tránh hoặc khắc phục trở ngại đó hoặc hậu quả của nó.” Có thể nói, Điều 79(1) xoay quanh nguyên tắc nền tảng, theo đó bên có nghĩa vụ không nên bị buộc chịu trách nhiệm pháp lý do việc thực hiện hợp đồng bị cản trở bởi một trở ngại mà bên có nghĩa vụ không thể lường trước, kiểm soát và khắc phục.[4] Thông qua việc bảo vệ bên vi phạm trong những tình huống mà bên này không thể thực hiện nghĩa vụ ngay cả khi đã nỗ lực hết sức, quy định này cũng thể hiện nguyên tắc công bằng trong phân bổ rủi ro và thiết lập giới hạn hợp lý đối với trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.[5]
Trong khi đó, Điều 79(2) quy định chi tiết về điều kiện miễn trách nhiệm khi hành vi vi phạm của một bên liên quan tới người thứ ba:
“Nếu việc một bên không thực hiện nghĩa vụ là do việc không thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba mà họ nhờ thực hiện toàn bộ hoặc một phần của hợp đồng, bên đó chỉ được miễn trách nhiệm nếu:
a. bên đó được miễn trách nhiệm theo quy định tại khoản trên;
b. người thứ ba cũng được miễn trách nhiệm nếu quy định tại khoản trên áp dụng đối với người thứ ba đó.”
Trong pháp luật dân sự, quan hệ người uỷ nhiệm - người đại diện (principal - agent) hàm ý bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về hành vi của những người mà họ nhờ cậy, thuê mướn để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Chỉ trong một số trường hợp nhất định, người uỷ nhiệm mới có thể thoái thác trách nhiệm do hành vi của người đại diện. Chẳng hạn, theo đặc thù của ngành hàng hải, người vận chuyển rất khó kiểm soát thuyền trưởng và thuỷ thủ đoàn sau khi tàu đã ra khơi. Do đó, người vận chuyển sẽ được miễn trách nhiệm bồi thường đối với tổn thất hàng hóa nếu tổn thất phát sinh do lỗi của thuyền trưởng, thuyền viên, hoa tiêu hàng hải hoặc người làm công của người vận chuyển trong việc điều khiển hoặc quản trị con tàu.[6]
Điều 79(2) CISG về cơ bản không đi ngược lại nguyên tắc principal - agent bởi trong đa số trường hợp, một bên trong hợp đồng vẫn phải chịu trách nhiệm nếu người thứ ba mà họ uỷ thác, thuê mướn không thực hiện được nghĩa vụ.[7] Điều khoản này chỉ đặt ra một ngoại lệ hẹp đối với nguyên tắc đó: bên có nghĩa vụ chỉ có thể dựa vào việc người thứ ba (mà họ đã thuê để thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng) không thực hiện được nghĩa vụ để xin miễn trách nhiệm nếu chính người thứ ba cũng đáp ứng đầy đủ các điều kiện miễn trách theo Điều 79(1). Vì vậy, Điều 79(2) giới hạn rất chặt khả năng chuyển tiếp ảnh hưởng của trở ngại từ người thứ ba (agent) sang bên có nghĩa vụ (principal).
Theo quy định tại Điều 79(2) CISG, việc người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ có thể trở thành căn cứ miễn trách nhiệm cho bên vi phạm trong hợp đồng với điều kiện cả bên vi phạm và người thứ ba đều đáp ứng các tiêu chí miễn trách được quy định rõ tại Điều 79(1). Nói cách khác, để viện dẫn Điều 79(2) CISG, cần áp dụng các tiêu chí về trở ngại khách quan cho cả bên vi phạm và người thứ ba mà bên đó đã thuê. Về bản chất, Điều 79(2) làm tăng trách nhiệm của bên viện dẫn khoản này so với trường hợp miễn trách theo Điều 79(1). Vấn đề này sẽ được phân tích sâu hơn ở mục 2.3 của bài viết.
Trước hết, cần làm rõ khái niệm người thứ ba (third person) được nhắc đến tại khoản 2 của Điều 79 CISG. Mặc dù CISG không định nghĩa khái niệm này, trong pháp luật hợp đồng Anh - Mỹ, thuật ngữ “người thứ ba” thường được dùng để chỉ các chủ thể không tham gia giao kết hợp đồng, do đó không có quyền và nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ hợp đồng. Việc xem hợp đồng là thỏa thuận riêng giữa các bên (privity of contract) là học thuyết cơ bản trong luật hợp đồng Common Law, theo đó chỉ các bên trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng mới có quyền lợi hoặc chịu trách nhiệm theo các điều khoản của nó.[8] Nguyên tắc này bảo vệ tính riêng tư của thỏa thuận, đảm bảo hợp đồng chỉ ràng buộc các bên đã giao kết, ngăn chặn người thứ ba can thiệp hay yêu cầu thực hiện hợp đồng, đồng thời tránh trách nhiệm pháp lý bất ngờ đối với các chủ thể không tham gia giao kết hợp đồng.[9]
Tuy vậy, trong ngữ cảnh của Điều 79(2) CISG, người thứ ba dù không tham gia giao kết hợp đồng song có tham gia nhất định vào quá trình thực hiện hợp đồng do được một bên thuê (engage). Nếu diễn giải rộng, người thứ ba có thể là người lao động hay người làm công của một bên, nhà cung cấp, hoặc nhà thầu phụ mà bên đó đã thuê để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.[10] Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung của luật lao động, người làm chủ phải chịu trách nhiệm về hành vi của người làm công, do đó Hội đồng Tư vấn CISG và các học giả đều đồng tình rằng người lao động không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 79(2).[11]
Trong thực tiễn xét xử, Tòa án Phúc thẩm bang Ticino (Thụy Sĩ) trong vụ án Furniture V đã khẳng định nhân viên của bên bán không được coi là người thứ ba theo nghĩa của CISG, mà phải là các bên có tính tự chủ và độc lập, tham gia thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng.[12] Theo quan điểm của Toà án, người thứ ba theo Điều 79(2) CISG phải được một bên thuê mướn, nhờ cậy sau khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để thực hiện nghĩa vụ đối với bên còn lại. Chẳng hạn, hãng vận tải thông qua đó bên bán giao hàng cho bên mua hay nhà thầu phụ mà bên bán chỉ định để thực hiện các công đoạn hoàn thiện sản phẩm có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của điều khoản này.
Hội đồng Tư vấn CISG đã đưa ra kiến giải nhằm làm rõ khái niệm người thứ ba theo Điều 79(2). Hội đồng cho rằng có hai nhóm người thứ ba cần xem xét: một nhóm tạo tiền đề để giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế xảy ra và một nhóm được thuê sau khi giao kết hợp đồng để thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng.[13] Nhóm thứ nhất gồm các nhà cung cấp nguyên liệu hoặc các đại lý hỗ trợ mua, bán hàng. Nhóm này thông thường không thuộc đối tượng điều chỉnh của Điều 79(2), bởi lẽ một bên vẫn phải chịu rủi ro khi nhà cung cấp không thực hiện được nghĩa vụ với bên đó.[14] Trong trường hợp này, Điều 79(1) vẫn là quy phạm chủ đạo để xác định trách nhiệm của bên vi phạm hợp đồng.[15]
Phán quyết của nhiều Toà án và hội đồng trọng tài đã củng cố hướng giải thích này.[16] Vụ Vine wax được Tòa án Tối cao Đức (BGH) xét xử năm 1999 là một án lệ quan trọng liên quan tới trách nhiệm của bên bán theo Điều 79(2) của CISG. Trong tranh chấp này, bên mua là nhà vườn chuyên về ghép nho đã đặt mua sáp nho đen từ bên bán - người nhập sáp từ nhà sản xuất bên thứ ba. Sáp được giao trực tiếp từ nhà sản xuất nhưng chưa được bên bán kiểm tra, không đáp ứng tiêu chuẩn ngành nên đã gây thiệt hại lớn cho bên mua. Bên bán cho rằng họ chỉ là trung gian, lỗi nằm ngoài tầm kiểm soát của họ nên đã viện dẫn Điều 79(2) CISG để yêu cầu miễn trách nhiệm. Tuy nhiên, Tòa án bác bỏ lập luận này, xác định rằng bên bán phải chịu trách nhiệm vì lỗi này dù phát sinh từ nhà sản xuất song vẫn thuộc trách nhiệm của bên bán. Tòa án nhấn mạnh rằng việc nhà sản xuất giao hàng không phù hợp không phải là bất khả kháng theo Điều 79, bởi bên bán có thể và phải kiểm soát nguồn cung ứng, bao gồm việc kiểm tra sản phẩm mới. Do đó, Toà án kết luận bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do giao hàng không phù hợp hợp đồng cho bên mua.[17]
Nhóm người thứ ba còn lại mà Hội đồng Tư vấn CISG đề cập là các bên độc lập mà một bên thuê để thực hiện toàn bộ hay một phần nghĩa vụ hợp đồng đối với bên còn lại. Việc thuê theo mục đích này cho thấy người thứ ba chỉ tham gia sau khi giao kết hợp đồng để bên có nghĩa vụ có thể thực hiện hợp đồng. Do đó, nhóm này có thể gồm các nhà thầu phụ thực hiện một phần việc của một bên cũng như các hãng vận tải, miễn là họ trực tiếp giúp bên có nghĩa vụ thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình.[18] Có thể nói, Điều 79(2) CISG không áp dụng khi người thứ ba chỉ đóng vai trò hỗ trợ gián tiếp hay tạo tiền đề cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế mà không trực tiếp đảm nhận việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó.[19]
Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp cho thấy cách hiểu về nhóm người thứ ba này vẫn còn có sự bất đồng. Như đã đề cập ở trên, theo Tòa án Phúc thẩm bang Ticino (Thụy Sĩ), người thứ ba bao gồm các đơn vị vận chuyển giao hàng giúp bên bán và các nhà thầu phụ được người bán chỉ định để thực hiện một phần công việc. Trái lại, trong một bản án của Tòa Thương mại bang Zurich (Thụy Sĩ), đơn vị vận chuyển lại không được xem là người thứ ba theo Điều 79(2) CISG.[20]
Tóm lại, khái niệm người thứ ba theo khoản 2 của Điều 79 CISG cần được diễn giải hẹp. Dù chưa có định nghĩa thống nhất, các học giả và cơ quan giải quyết tranh chấp có xu hướng xem người thứ ba là một chủ thể độc lập mà một bên đã thuê sau khi giao kết hợp đồng để thực hiện toàn bộ hoặc một phần hợp đồng cho bên còn lại, chẳng hạn các nhà thầu phụ hay hãng vận tải. Ngược lại, nhà cung cấp hoặc nhân sự của bên có nghĩa vụ về cơ bản không thuộc đối tượng điều chỉnh của Điều 79(2).
Nếu không được hiểu đúng đắn, Điều 79(2) có thể gây nhầm lẫn trong thực tiễn áp dụng. Để làm rõ trường hợp áp dụng Điều 79(2) CISG, ta cần phân biệt mục đích của khoản 1 và khoản 2 của điều này. Có thể thấy Điều 79(1) quy định nguyên tắc chung về miễn trách nhiệm do trở ngại khách quan, còn Điều 79(2) áp dụng khi một bên mong muốn được miễn trách do người thứ ba mà họ đã thuê thực hiện toàn bộ hoặc một phần hợp đồng không thực hiện được nghĩa vụ.
Trước hết, qua phân tích ở trên, có thể thấy Điều 79(2) CISG không hoàn toàn loại trừ khả năng áp dụng Điều 79(1) với các hợp đồng có liên quan đến người thứ ba. Các học giả và cơ quan giải quyết tranh chấp nhìn chung đều cho rằng Điều 79(2) chỉ áp dụng khi một bên giao phó việc thực hiện toàn bộ hay một phần nghĩa vụ của họ cho một nhóm người thứ ba đặc thù (chẳng hạn, nhà thầu phụ). Nếu vi phạm của một bên xuất phát từ lỗi của những người thứ ba khác (chẳng hạn, người làm công), Điều 79(2) sẽ không áp dụng mà cần viện dẫn Điều 79(1).[21]
Theo quan điểm phổ biến hiện nay, các nhà cung cấp thượng nguồn không phải là đối tượng điều chỉnh của Điều 79(2). Họ thường tạo tiền đề hoặc hỗ trợ việc thực hiện hợp đồng chứ không được thuê để thực hiện toàn bộ hay một phần nghĩa vụ hợp đồng. Họ có thể cung cấp cho bên bán nguyên liệu thô hoặc bán thành phẩm cần thiết để sản xuất hàng hóa. Trong một số trường hợp, thí dụ như khi bên bán là đại lý hoa hồng, nhà cung cấp thậm chí còn giao chính hàng hóa của hợp đồng mua bán quốc tế cho bên bán. Thông thường, cơ quan giải quyết tranh chấp nhận định việc bên bán phải chịu trách nhiệm về nhà cung cấp là một phần rủi ro mà bên này phải chịu để đảm bảo hàng hóa sẽ được giao. Do đó, bên bán thường không được miễn trách theo Điều 79 nếu nhà cung cấp không giao hàng hoặc giao hàng hóa có khiếm khuyết, ngay cả khi đây là tình huống không thể lường trước.[22]
Vụ án Powder milk được Tòa án Tối cao Đức (BGH) xét xử năm 2002 là một thí dụ khác về trách nhiệm của bên bán khi giao hàng không phù hợp. BGH nhận định lỗi vẫn thuộc về bên bán ngay cả khi việc thực hiện nghĩa vụ của bên bán phụ thuộc vào nhà cung cấp. Do đó, BGH đã huỷ bỏ bản án của Tòa án cấp dưới và yêu cầu xác minh việc sữa bột bị hỏng có thực sự nằm ngoài khả năng kiểm soát của bên bán - tức là có thoả mãn Điều 79(1) CISG hay không.[23]
Đặt trong bối cảnh các biến động kinh tế chính trị gần đây, có thể giả định trường hợp bên bán không thể thực hiện nghĩa vụ giao hàng do nhà cung cấp nguyên liệu bị ảnh hưởng bởi các biện pháp trừng phạt kinh tế. Trong trường hợp này, để được miễn trách nhiệm theo CISG, bên bán cần xem xét liệu các điều kiện của Điều 79(1) đã được đáp ứng chưa. Tương tự, nếu bên mua không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán vì ngân hàng của bên này bị phong tỏa do lệnh cấm của chính phủ, bên này phải viện dẫn Điều 79(1) thay vì Điều 79(2). Tuy nhiên nếu sau khi ký kết hợp đồng mua bán quốc tế, bên bán đã giao việc sản xuất hàng hóa cho một nhà thầu phụ và nhà thầu phụ này không thực hiện được hợp đồng vì các biện pháp hạn chế nhập khẩu, bên bán cần viện dẫn Điều 79(2) thay vì Điều 79(1) để được miễn trách. Tương tự, Điều 79(2) cũng sẽ áp dụng nếu bên mua đã giao phó nghĩa vụ nhận hàng hoặc thanh toán cho một người thứ ba độc lập.
Khoản 2 Điều 79 CISG quy định bên vi phạm chỉ được miễn trách nhiệm khi đồng thời thỏa mãn hai tiêu chí: (1) bản thân bên vi phạm đủ điều kiện miễn trách theo quy định tại khoản 1 Điều 79; và (2) người thứ ba cũng đáp ứng đầy đủ các điều kiện miễn trách theo khoản 1. Cơ chế này thường được gọi là “miễn trách kép”, theo đó cả bên vi phạm và người thứ ba đều phải không thể thực hiện nghĩa vụ do gặp trở ngại khách quan ngoài tầm kiểm soát.[24] Mục tiêu của quy định này là khiến cho việc miễn trách nhiệm trở nên khó khăn hơn trong trường hợp nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã được giao lại cho người thứ ba. Quy định này cũng nhấn mạnh rằng để được miễn trách nhiệm theo Điều 79, việc thực hiện nghĩa vụ phải thực sự bị cản trở vì trở ngại khách quan. Một lý do như nhà thầu phụ không thực hiện được nghĩa vụ tự nó chưa đủ để miễn trách nhiệm cho bên vi phạm.[25]
Về điều kiện miễn trách đầu tiên, một bên chỉ được miễn trách nếu vi phạm hợp đồng của bên này xuất phát từ một trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát, mà trở ngại này bắt nguồn từ việc một người thứ ba độc lập không thực hiện được nghĩa vụ đã thỏa thuận với bên đó. Nói cách khác, bản thân việc người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ phải có tính chất của một sự kiện khách quan, thể hiện ở chỗ bên vi phạm không thể lường trước, cũng như không thể ngăn ngừa hoặc khắc phục hậu quả dù đã áp dụng các biện pháp hợp lý.
Để đáp ứng điều kiện thứ hai, cần xem xét liệu vi phạm của người thứ ba có xuất phát từ một trở ngại thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 79(1) CISG hay không. Điều đó đòi hỏi người thứ ba cũng phải chịu ảnh hưởng của một trở ngại khách quan không thể lường trước, nằm ngoài tầm kiểm soát và không thể khắc phục được. Nếu không thỏa mãn điều kiện này, người thứ ba sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý theo hợp đồng giữa họ và bên vi phạm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Đồng thời, bên vi phạm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với bên còn lại.[26]
Học giả Schlechtriem và Schwenzer tổng kết rằng việc viện dẫn lỗi của người thứ ba không tạo thành cơ sở miễn trách trừ khi người thứ ba gặp phải cùng một trở ngại có tính bất khả kháng như chính bên có nghĩa vụ.[27] Một số học giả cho rằng việc chứng minh chính người thứ ba cũng gặp phải tình huống bất khả kháng thường rất khó khăn, từ đó làm giảm đáng kể khả năng miễn trách theo cơ chế “kép” được đặt ra trong Điều 79(2) CISG.[28] Như đã phân tích ở trên, thực tiễn giải quyết tranh chấp trên thế giới cho thấy Điều 79(2) được áp dụng rất thận trọng với những tiêu chuẩn khắt khe, nhất là khi người thứ ba là nhà cung cấp của bên bán.
Khi đối chiếu với pháp luật Việt Nam, có thể thấy rằng vấn đề miễn trách do hành vi của người thứ ba từng được ghi nhận trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989.[29] Cụ thể, khoản 3 Điều 40 của Pháp lệnh này quy định bên vi phạm có thể được “xét giảm hoặc miễn hoàn toàn trách nhiệm tài sản” nếu việc không thực hiện nghĩa vụ là do “bên thứ ba vi phạm hợp đồng kinh tế với bên vi phạm nhưng bên thứ ba không phải chịu trách nhiệm tài sản” do bên thứ ba đã gặp phải những trở lực khách quan không thể lường trước được và đã thi hành mọi biện pháp cần thiết để khắc phục hoặc do bên này phải thi hành lệnh khẩn cấp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Tuy vậy, quy định này đã không còn xuất hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật sau này, kể từ Bộ luật Dân sự (BLDS) 1995. Hiện nay, khoản 2 Điều 351 của BLDS 2015 chỉ quy định về miễn trách khi một bên gặp phải sự kiện bất khả kháng như sau: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Trước đó, khái niệm sự kiện bất khả kháng được định nghĩa tại khoản 1 Điều 156: “sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.”
Điều 294 của Luật Thương mại (LTM) 2005 quy định về bốn trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm, trong đó hai trường hợp có thể liên quan đến sự tham gia của người thứ ba: (1) khi xảy ra sự kiện bất khả kháng; và (2) khi hành vi vi phạm của một bên phát sinh từ việc thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết vào thời điểm giao kết hợp đồng. Có thể thấy, trong trường hợp miễn trách do quyết định của cơ quan có thẩm quyền, pháp luật không trực tiếp coi cơ quan này - với tư cách bên thứ ba - là căn cứ miễn trách, mà nhấn mạnh vào hệ quả khách quan do quyết định đó gây ra đối với việc thực hiện hợp đồng. Cũng cần lưu ý rằng khoản 2 Điều 294 của LTM 2005 chỉ áp dụng với “hành vi vi phạm của một bên” chứ không mở rộng áp dụng với hành vi vi phạm của người thứ ba được bên đó thuê để thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng (kể cả khi người thứ ba chịu ảnh hưởng từ quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền). Do đó, ta có thể loại trừ trường hợp này và chỉ tập trung vào trường hợp miễn trách khi xảy ra sự kiện bất khả kháng.
Việc loại bỏ quy định vốn nằm trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 có thể được diễn giải theo hai hướng. Thứ nhất, có thể cho rằng cơ quan lập pháp của Việt Nam không còn công nhận đây là trường hợp miễn trách. Hướng lập luận này có cơ sở hơn khi kết hợp với Điều 283 của BLDS 2015, theo đó, “bên có nghĩa vụ có thể nhờ người thứ ba thực hiện nghĩa vụ, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Như vậy, quan điểm chủ đạo của BLDS 2015 là bên có nghĩa vụ vẫn phải chịu trách nhiệm với bên còn lại ngay cả khi đã chuyển giao nghĩa vụ thực hiện hợp đồng cho người thứ ba.[30] Như đã nhận định ở trên, có thể xem Điều 79(2) là một ngoại lệ hẹp của nguyên tắc principal - agent. Việc BLDS 2015 không có quy định nào khác ngoài nguyên tắc chung tại Điều 283 có thể là chỉ dấu cho thấy luật không chấp nhận xem việc người thứ ba không thực hiện nghĩa vụ là một trường hợp miễn trách cho một bên trong hợp đồng.
Về hướng diễn giải thứ hai, một số học giả Việt Nam (trong các nghiên cứu được dẫn ở phần 4 của bài viết) cho rằng trường hợp bất khả kháng được định nghĩa tại Điều 156 của BLDS 2015 đủ rộng để bao hàm cả trường hợp người thứ ba không thực hiện nghĩa vụ. Lý do được đưa ra là, khái niệm sự kiện bất khả kháng trong BLDS 2015 có sự tương đồng với khái niệm “trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát” (impediment beyond control) của Điều 79 CISG. Ngoài ra, khoản 1 Điều 156 của BLDS 2015 cũng đưa ra khái niệm “trở ngại khách quan” bên cạnh khái niệm sự kiện bất khả kháng.[31] Tuy nhiên, cần nhận định rằng sự tương đồng giữa các khái niệm này là điều khá dễ hiểu vì tiêu chí để xác định tình huống bất khả kháng (force majeure) trong luật pháp của các quốc gia về cơ bản giống nhau. Cũng cần lưu ý rằng khái niệm “trở ngại khách quan” tại Điều 156 của BLDS 2015 chỉ áp dụng trong ngữ cảnh liên quan đến thời hiệu khởi kiện. Quan trọng hơn, sự tương đồng của khái niệm bất khả kháng trong pháp luật Việt Nam và trở ngại khách quan trong CISG không giúp trả lời câu hỏi cốt lõi liệu việc người thứ ba không thực hiện nghĩa vụ có được xem là một trường hợp miễn trách hay không.
Để trả lời câu hỏi trên cần phải xác định nếu dựa trên các tiêu chí của sự kiện bất khả kháng (có tính khách quan, không thể lường trước, không thể kiểm soát và không thể khắc phục được), thì sự kiện bất khả kháng có thể được diễn giải rộng để bao gồm cả trường hợp người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ hay không. Ta hãy xem xét thí dụ bên bán viện dẫn lý do chậm giao hàng do nhà thầu phụ của họ không thực hiện hợp đồng đúng tiến độ. Tính không thể tiên đoán và không thể khắc phục của sự kiện này có thể được chứng minh khá dễ dàng. Tuy nhiên, để xem xét liệu sự kiện này có tính khách quan hay không, ta phải trở lại với nguyên tắc cốt lõi: mối quan hệ principal- agent mà Điều 283 của BLDS 2015 đã xác lập. Bên mua có thể lập luận rằng họ không cần biết bên bán đã thuê mướn, nhờ cậy người thứ ba nào thực hiện nghĩa vụ do bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm với tư cách người uỷ nhiệm. Theo góc độ này, đây là sự kiện có tính chủ quan, không đáp ứng tiêu chí khách quan của sự kiện bất khả kháng. Có thể nói khi pháp luật đã xác định bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của người thứ ba mà không có ngoại lệ nào khác thì việc người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ về nguyên tắc không thể được xem là sự kiện bất khả kháng theo quan điểm của pháp luật Việt Nam.
Tác giả cho rằng đây là mấu chốt khiến CISG tách trường hợp miễn trách do người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ thành một khoản riêng tại Điều 79 và đặt ra các điều kiện áp dụng khắt khe hơn so với trường hợp miễn trách chung. Cách thiết kế này phản ánh rõ triết lý phân bổ rủi ro của CISG: về nguyên tắc, bên có nghĩa vụ phải chịu rủi ro đối với những chủ thể mà họ thuê mướn, nhờ cậy để thực hiện hợp đồng. Việc đặt ra cơ chế “miễn trách kép” tại Điều 79(2) CISG cho thấy Công ước không coi mọi thất bại trong việc thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba là sự kiện bất khả kháng đối với bên có nghĩa vụ. Trái lại, chỉ trong những trường hợp đặc biệt, khi việc không thực hiện của người thứ ba hội đủ các tiêu chí của một trở ngại mang tính khách quan theo nghĩa chặt chẽ, rủi ro này mới có thể được dịch chuyển khỏi bên có nghĩa vụ.
Trong khi đó, nếu cho rằng khái niệm bất khả kháng trong BLDS 2015 và LTM 2005 có thể bao hàm cả trường hợp người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ, thì việc miễn trách sẽ chỉ được xem xét dựa trên các tiêu chí chung về bất khả kháng mà không đặt ra yêu cầu kiểm tra độc lập đối với chính người thứ ba. Cách tiếp cận này dẫn tới sự không rõ ràng trong việc xác định ranh giới giữa rủi ro nội tại phát sinh từ quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng và các trở ngại thực sự mang tính khách quan, đồng thời không thiết lập được tiêu chuẩn rõ ràng để xem xét đây có phải là một ngoại lệ đối với nguyên tắc principal - agent được quy định tại Điều 283 BLDS 2015 hay không. Chính sự mơ hồ này khiến phạm vi áp dụng của bất khả kháng trong trường hợp có sự tham gia của người thứ ba trở nên khó dự đoán trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Như vậy, dù pháp luật Việt Nam hiện hành khá tương thích với CISG về một số khái niệm, không có quy định cụ thể nào ghi nhận việc người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ có thể trở thành căn cứ miễn trách nhiệm cho một bên trong hợp đồng. Điều này dẫn tới những cách diễn giải và những góc nhìn khác nhau về sự cần thiết phải hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam.
Một số tác giả cho rằng việc chuyển hóa quy định tại Điều 79(2) CISG vào pháp luật Việt Nam là cần thiết. Phan Thị Thanh Thuỷ (2014) cho rằng “đây là một thực tiễn thương mại hoàn toàn có thể xảy ra trên thực tế mà pháp luật Việt Nam cần phải bổ sung để bảo đảm tính toàn diện và công bằng của miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng”.[32] Lê Minh Thái (2023) cho rằng: “Cùng với sự phát triển của kinh tế quốc tế, sự giao thương rộng mở, dịch vụ giao nhận vận tải và logistics phát triển thì việc xuất hiện người thứ ba tham gia vào quy trình thực hiện hợp đồng là rất phổ biến trên thực tế. Xét riêng trên khía cạnh các trường hợp miễn trách thì Công ước Viên năm 1980 sẽ bảo đảm tính công bằng và an toàn hơn đối với các chủ thể.”[33] Theo Phạm Minh Quốc (2024), Việt Nam đã chính thức gia nhập CISG, do đó việc bổ sung quy định về căn cứ miễn trách nhiệm cho bên vi phạm do người thứ ba có quan hệ hợp đồng với bên vi phạm gặp bất khả kháng trong LTM 2005 là cần thiết để đáp ứng sự tương thích với thực tiễn và thông lệ quốc tế.[34]
Trong khi đó, Trần Thanh Tâm và Phạm Thanh Cao (2017) cho rằng việc bổ sung quy định này không cần thiết vì “dù không có một quy định riêng về miễn trách nhiệm do người thứ ba, nhưng có thể hiểu rằng miễn trách nhiệm do bên thứ ba vẫn có thể đạt được nếu đó là trường hợp bất khả kháng đối với một bên trong hợp đồng hoặc đó là trường hợp đã được thỏa thuận giữa các bên.”[35] Lê Thị Anh Xuân và Nguyễn Thị Minh Trang (2021) cũng khẳng định, mặc dù không có quy định rõ ràng về vai trò của người thứ ba trong vi phạm của bên vi phạm như quy định của Điều 79(2) CISG, các quy định tại Điều 156 của BLDS 2015 và Điều 294 của LTM 2005 đã phần nào thể hiện quan điểm khá tương đồng của Việt Nam về vấn đề miễn trách.[36]
Như vậy, hiện có hai luồng quan điểm khác nhau về việc có cần phải bổ sung quy định này vào pháp luật Việt Nam hay không. Điều đáng tiếc là các tác giả cho rằng quy định của pháp luật Việt Nam đủ rộng để bao hàm trường hợp này hầu như không đưa ra lý giải thích. Như đã phân tích ở mục 3, việc khái niệm bất khả kháng trong BLDS 2015 và LTM 2005 có bao hàm trường hợp này hay không vẫn chỉ là suy đoán và có những điểm mơ hồ, thậm chí mâu thuẫn nếu diễn giải theo hướng đó. Ngoài ra, Phạm Thanh Tâm và Trần Thanh Cao (2017) còn cho rằng việc người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ vẫn có thể được xem là trường hợp miễn trách nếu đây là “trường hợp đã được thỏa thuận giữa các bên”.[37] Điều này hoàn toàn hợp lý nhưng cũng khá hiển nhiên. Vấn đề sẽ chỉ phức tạp khi các bên không quy định. Xét đến cùng mục đích của pháp luật là lấp đầy khoảng trống (gap filling) khi các bên không có quy định cụ thể trong hợp đồng.
Một lý do khác được các học giả trong và ngoài nước nhận định là quy định tại Điều 79(2) CISG không xuất hiện trong pháp luật hợp đồng của nhiều quốc gia[38], chẳng hạn như Luật Hợp đồng Trung Quốc.[39] Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) của UNIDROIT cũng không quy định về trường hợp này.[40] Tuy vậy, Bộ luật dân sự Đức (BGB) có quy định khá toàn diện về vấn đề này tại §275, theo đó “yêu cầu thực hiện nghĩa vụ sẽ không được chấp nhận trong phạm vi mà việc thực hiện là bất khả thi đối với bên có nghĩa vụ hoặc đối với bất kỳ người nào khác”. Điểm đáng chú ý là, BGB tách vấn đề miễn thực hiện nghĩa vụ ra khỏi vấn đề miễn bồi thường và quy định như sau về trách nhiệm khi xảy ra vi phạm do người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ.
§832 Trách nhiệm đối với người làm công gián tiếp[41]
(1) Người giao phó cho người khác thực hiện một công việc phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người đó gây ra một cách trái pháp luật cho người thứ ba khi thực hiện công việc được giao. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường không phát sinh nếu người giao phó đã thực hiện sự cẩn trọng cần có trong giao dịch thương mại khi lựa chọn người được giao hoặc - trong phạm vi họ phải chuẩn bị phương tiện, thiết bị hoặc quản lý hoạt động kinh doanh - đã thực hiện sự cẩn trọng trong việc chuẩn bị hoặc quản lý đó; hoặc nếu thiệt hại vẫn sẽ xảy ra ngay cả khi sự cẩn trọng này đã được thực hiện.
Như vậy, theo quan điểm của BGB, việc một bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ do bất khả thi không đồng nghĩa bên đó đương nhiên được miễn trách nhiệm bồi thường. Thay vào đó, trách nhiệm bồi thường được xem xét độc lập, dựa trên mức độ cẩn trọng và lỗi của bên có nghĩa vụ trong quá trình tổ chức, lựa chọn và quản lý việc thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba. Đối với Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC), Jenkins cho rằng về miễn trách do hành vi không thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba, cả CISG và UCC đều thừa nhận khả năng miễn trách liên quan tới người thứ ba. Tuy nhiên, UCC có tính khắt khe hơn CISG xét về điều kiện áp dụng. Để Điều 2-615 của UCC (về miễn trách nhiệm do không đáp ứng các điều kiện tiền định) được áp dụng, phải chứng minh việc nhà cung cấp độc quyền đã được các bên thỏa thuận, hoặc một nhà cung cấp được tiền định hay dự liệu là nhà cung cấp cụ thể cho hợp đồng đó không thực hiện nghĩa vụ.[42]
Trong luật Anh, force majeure, là khái niệm du nhập từ Civil Law nên không phải là một thuật ngữ pháp lý có tính học thuyết như học thuyết frustration trong luật hợp đồng của một số quốc gia. Do đó, bất khả kháng nhìn chung chỉ có hiệu lực khi được ghi nhận rõ trong hợp đồng, nếu không thì có thể không được áp dụng. Điều này khác với nhiều hệ thống pháp luật của nhiều nước châu Âu và một số hệ thống lai như Hoa Kỳ.[43] Do đó, nhìn chung miễn trách do người thứ ba không phải là một quy định chung trong pháp luật Anh và chỉ áp dụng khi có quy định cụ thể trong hợp đồng.
Qua so sánh với pháp luật nước ngoài, có thể thấy sự đa dạng trong cách tiếp cận và việc pháp luật Việt Nam không có quy định này cũng không phải là trường hợp dị biệt.
Về lý do đã được một số nghiên cứu đã đưa ra để ủng hộ việc bổ sung quy định này (đảm bảo tính toàn diện, công bằng, phù hợp với bối cảnh hội nhập, tương thích với thông lệ quốc tế), tác giả bài viết này cũng chia sẻ quan điểm đó. Ngoài ra, còn phải nhận thấy rằng việc hài hoà hoá với CISG có ý nghĩa quan trọng về mặt hiệu quả của pháp luật. Không chỉ riêng Điều 79(2) mà nhiều quy định khác của CISG có cách tiếp cận khác biệt với pháp luật Việt Nam (chẳng hạn, quy định về vi phạm cơ bản ở Điều 25 hay quy định về huỷ bỏ hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ ở Điều 72). Sự khác biệt này là tất yếu do truyền thống pháp luật (CISG chịu ảnh hưởng sâu sắc của Common Law, được xem là cầu nối Common Law và Civil Law).[44] Nếu nhìn từ góc độ kinh tế học pháp luật và lấy hiệu quả của pháp luật là một yếu tố để xem xét, sự hài hoà hoá là cần thiết để tránh tình trạng cùng một doanh nghiệp nhưng phải tuân theo hai hệ thống luật hợp đồng khác nhau. Điều này gây bất tiện nhiều nhất đối với các doanh nghiệp vừa có hoạt động kinh doanh trong nước vừa tham gia giao dịch quốc tế. Nếu các tiêu chí về vi phạm cơ bản, điều kiện huỷ bỏ hợp đồng, căn cứ miễn trách nhiệm… khác biệt giữa luật hợp đồng nội địa và luật hợp đồng quốc tế, doanh nghiệp sẽ phải duy trì hai bộ quy tắc, hai quy trình rà soát và tư vấn pháp lý song song. Việc này không chỉ làm tăng chi phí tuân thủ và chi phí giao dịch, mà còn tạo ra rủi ro sai sót bởi cùng một tình huống thực tế nhưng cần đánh giá khác nhau tùy theo hợp đồng có tính quốc tế hay nội địa. Về dài hạn, sự thiếu hài hoà đó dẫn đến lãng phí nguồn lực, giảm tính cạnh tranh và khả năng phản ứng nhanh của doanh nghiệp trên thị trường.
Tác giả cho rằng dù chọn cách tiếp cận nào, trước hết cũng cần làm rõ quan điểm của pháp luật Việt Nam về vấn đề miễn trách do người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ. Nếu Việt Nam lựa chọn không chấp nhận trường hợp miễn trách này, lập trường này cần được thể hiện một cách minh thị trong văn bản quy phạm pháp luật, nhằm loại bỏ mọi hoài nghi về phạm vi áp dụng của điều khoản bất khả kháng. Hướng tiếp cận này phủ định mô hình chia sẻ rủi ro của Điều 79(2) CISG và đặt hoàn toàn rủi ro liên quan đến người thứ ba về phía bên có nghĩa vụ. Cần lưu ý, hướng tiếp cận này giúp đạt được sự rõ ràng nhưng lại làm giảm mức độ hòa hợp giữa pháp luật Việt Nam với thông lệ quốc tế.
Nếu tiếp nhận hướng tiếp cận của Điều 79(2) CISG, theo đó thừa nhận khả năng miễn trách liên quan đến người thứ ba với các điều kiện chặt chẽ và được quy định minh thị trong luật, pháp luật Việt Nam không nên mở rộng khái niệm bất khả kháng hiện có trong BLDS 2015 và LTM 2005 mà cần bổ sung một định nghĩa riêng và các điều kiện áp dụng rõ ràng, dựa trên nguyên tắc “miễn trách kép”. Nghĩa là, cần quy định cụ thể rằng trong trường hợp bên vi phạm đã thuê người thứ ba để thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ thì bên này chỉ được miễn trách nếu chứng tỏ được người thứ ba cũng gặp phải một trở ngại khách quan xét theo các tiêu chí nói trên. Cách tiếp cận này vừa tiếp thu tinh thần của CISG về trở ngại liên quan đến người thứ ba, vừa tránh được tình trạng đồng nhất mọi khó khăn xuất phát từ người thứ ba với sự kiện bất khả kháng. Bởi lẽ nhiều học giả Việt Nam cũng có quan niệm hẹp về khái niệm bất khả kháng, nên thay vì mở rộng khái niệm bất khả kháng, việc bổ sung một quy định riêng sẽ dễ được chấp nhận hơn.[45]
Khi đưa thêm một điều khoản về trường hợp miễn trách này, pháp luật Việt Nam cần quy định các điều kiện cụ thể để dễ áp dụng và tránh sự lạm dụng. Chẳng hạn, bên có nghĩa vụ cần chứng minh rằng họ đã áp dụng các biện pháp hợp lý để lựa chọn và kiểm soát người thứ ba nhưng vẫn không thể ngăn được người thứ ba vi phạm và không thể khắc phục được hậu quả của sự vi phạm này. Điều này dễ sẽ giúp lấp đầy khoảng trống pháp lý có thể thấy được từ thực tiễn xét xử trên thế giới, nhất là khi hoạt động thương mại hiện đại ngày càng phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng, dịch vụ thuê ngoài và nhà cung cấp trung gian. Nó cũng nhằm cụ thể hóa trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, đồng thời tăng cường khả năng dự đoán trong giải quyết tranh chấp.
Ngoài ra, bài viết này cũng đồng tình với quan điểm của các tác giả Lê Thị Anh Xuân, Nguyễn Thị Minh Trang (2021) khi cho rằng nên chuyển các khái niệm bất khả kháng và trở ngại khách quan ra khỏi Điều 156 và đưa về phần giải thích các thuật ngữ để mang tính chuyên nghiệp hơn cho Bộ luật này.[46]
Dù theo hướng nào, một nhiệm vụ song hành không thể thiếu là tăng cường giáo dục, đào tạo và phổ biến pháp luật cho thẩm phán, trọng tài viên, luật sư và cộng đồng doanh nghiệp về cơ chế miễn trách nhiệm theo Điều 79(2) CISG. Nếu Việt Nam lựa chọn tiếp thu mô hình của CISG và xây dựng một quy định riêng về miễn trách nhiệm liên quan đến người thứ ba, công tác giáo dục và phổ biến pháp luật sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các chủ thể xác định rõ ranh giới giữa miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng theo nghĩa truyền thống và trường hợp miễn trách nhiệm do người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ. Qua đó, khả năng dự đoán và mức độ an toàn pháp lý trong quá trình giao kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp hợp đồng sẽ được nâng cao. Ngược lại, nếu Việt Nam lựa chọn không tiếp nhận hướng tiếp cận này, công tác giáo dục pháp luật cần làm rõ một cách minh thị sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và CISG, nhằm tránh những kỳ vọng sai lệch từ phía doanh nghiệp và thúc đẩy sự thận trọng cần thiết khi ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng phức tạp, việc một bên trong hợp đồng giao phó toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ cho người thứ ba đã trở thành hiện tượng phổ biến trong thực tiễn thương mại. Xu hướng này làm gia tăng nguy cơ phát sinh tranh chấp khi người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ, đồng thời đặt ra những thách thức mới đối với cơ chế phân bổ rủi ro và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Trong bối cảnh đó, quy định tại Điều 79(2) CISG đem lại một cách tiếp cận thận trọng và rõ ràng, theo đó việc miễn trách liên quan đến người thứ ba được thừa nhận nhưng chỉ trong những điều kiện hết sức khắt khe.
Đối chiếu với pháp luật Việt Nam hiện hành, có thể thấy rằng vấn đề miễn trách nhiệm do người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ chưa được ghi nhận một cách minh thị, dẫn đến những cách hiểu khác nhau trong học thuật và tiềm ẩn sự thiếu thống nhất trong thực tiễn áp dụng. Do đó, yêu cầu đặt ra không nhất thiết là phải tiếp thu trực tiếp mô hình của CISG, mà trước hết là cần làm rõ lập trường của pháp luật Việt Nam đối với trường hợp này. Việc lựa chọn không thừa nhận đây là căn cứ miễn trách, hoặc thừa nhận kém theo cơ chế “miễn trách kép” chặt chẽ như Điều 79(2) CISG, đều cần được thể hiện rõ ràng trong quy định pháp luật nhằm tăng cường khả năng dự đoán và sự an toàn pháp lý cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng, đặc biệt trong bối cảnh các giao dịch thương mại hiện đại.
Danh mục tài liệu tham khảo
1.
CISG Advisory Council, CISG-AC Opinion No. 7, Exemption of
Liability for Damages under Article 79 of the CISG (Rapporteur: Alejandro
M. Garro), adopted at the 11th meeting in Wuhan, People’s Republic of China
(2007).
2.
ĐỖ VĂN ĐẠI (2016), BÌNH LUẬN KHOA HỌC NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ
LUẬT DÂN SỰ 2015, NXB HỒNG ĐỨC – HỘI LUẬT GIA VIỆT NAM.
3.
EISELEN, SIEG, “THE CISG AS BRIDGE BETWEEN COMMON AND CIVIL LAW,”
TRONG L.A. DIMATTEO (ED.), INTERNATIONAL SALES LAW: A GLOBAL CHALLENGE,
CAMBRIDGE UNIVERSITY PRESS (2014), TR. 612–629.
4.
Graham, Colin & Rupert Reece (2020), “The Impact of the New
Coronavirus (Covid-19) on International Contractual Obligations: Force Majeure
under English Law,” Client Alert, Gide Loyrette Nouel.
5.
Hội đồng Nhà nước (1989), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế số
24-LCT/HĐNN8 ngày 25/9/1989.
6.
International Chamber Of Commerce, Icc Force Majeure And
Hardship Clauses (2020).
7.
Jenkins, Sarah Howard, “Exemption for Nonperformance: UCC, CISG,
UNIDROIT Principles – A Comparative Assessment,” Tulane Law Review, Vol.
72 (1998), tr. 2015–2030.
8.
Kim, Kyujin, “Can Economic Sanctions be Grounds for Exemption
under the CISG?,” Journal of Korea Trade, Vol. 26, No. 5 (2022), tr.
88–105.
9.
Legal Information Institute (2021), “Privity,” Wex, Cornell
Law School.
10.
Lê Minh Thái, “Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên năm 1980,” Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật, Kỳ 1, số 394 (2023)
11.
Lê Thị Anh Xuân & Nguyễn Thị Minh Trang (2021), “Miễn trách
nhiệm do có sự tham gia của bên thứ ba theo CISG 1980 và pháp luật Việt Nam,”
Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 47, Chuyên đề 01.
12.
MAZZACANO, PETER J. (2013), EXEMPTIONS FOR THE NON-PERFORMANCE
OF CONTRACTUAL OBLIGATIONS IN CISG ARTICLE 79 AND THE QUEST FOR UNIFORMITY IN
INTERNATIONAL SALES LAW, PHD DISS., OSGOODE HALL LAW SCHOOL, YORK
UNIVERSITY.
13.
NWAFOR, NDUBUISI AUGUSTINE (2015), COMPARATIVE AND CRITICAL
ANALYSIS OF THE DOCTRINE OF EXEMPTION/FRUSTRATION/FORCE MAJEURE UNDER THE
UNITED NATIONS CONVENTION ON THE CONTRACT FOR THE INTERNATIONAL SALE OF GOODS,
ENGLISH LAW AND UNIDROIT PRINCIPLES, PHD THESIS, UNIVERSITY OF STIRLING.
14.
NGUYỄN MINH HẰNG (CHỦ BIÊN) (2016), 101 CÂU HỎI – ĐÁP VỀ CISG,
NXB THANH NIÊN.
15.
Phạm Minh Quốc (2024), “Miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa trong pháp luật Việt Nam,” Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 1, số 404.
16.
Phan Thị Thanh Thủy (2014), “So sánh các quy định về trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên
1980,” Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, số 3, tr. 50–60.
17.
SCHLECHTRIEM, PETER (1986), UNIFORM SALES LAW – THE
UN-CONVENTION ON CONTRACTS FOR THE INTERNATIONAL SALE OF GOODS, MANZ,
VIENNA.
18.
SCHWENZER, INGEBORG & ULRICH G. SCHROETER (EDS.) (2022), SCHLECHTRIEM
& SCHWENZER: COMMENTARY ON THE UN CONVENTION ON THE INTERNATIONAL SALE OF
GOODS (CISG), 5TH ED., OXFORD UNIVERSITY PRESS.
19.
Trần Thanh Tâm & Phạm Thanh Cao (2017), “Miễn trách nhiệm
do người thứ ba theo Điều 79(2) Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế: Từ góc nhìn so sánh luật,” Tạp chí Khoa học pháp lý, số
07 (110).
20.
Trần Thị Thuận Giang (2017), “Điều khoản miễn trách nhiệm do
hành vi giao hàng không phù hợp theo Công ước Vienna năm 1980,” Tạp chí
Khoa học pháp lý, số 07 (110).
21.
UK Parliament (1999), Contracts (Rights of Third Parties) Act
1999, section 1.
22.
UNIDROIT (2016), UNIDROIT Principles Of International
Commercial Contracts.
23.
Bundesgerichtshof, Vine Wax Case, VIII ZR 121/98 (24 March
1999).
24.
Bundesgerichtshof, Milk Powder Case, VIII ZR 304/00 (9
January 2002).
25.
China (1999), Contract Law of the People’s Republic of China.
26.
Protocol Amending the International Convention for the Unification
of Certain Rules of Law relating to Bills of Lading 1924, as amended by the Brussels
Protocols 1968 and 1979.
[*] TS, Khoa Luật, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Email: duydk@ueh.edu.vn, ngày duyệt đăng 31/12/2025
[1] Điều 1.3 Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT (PICC).
[2] Xem PICC Điều 7.1.7 và Điều 6.2.2
[3] International Chamber of Commerce. ICC Force Majeure and Hardship Clauses, from https://iccwbo.org/business-solutions/model-contracts-clauses/icc-force-majeure-and-hardship-clauses/ (truy cập 6/12/ 2025).
[4] SCHWENZER, INGEBORG, AND ULRICH G SCHROETER (EDS), SCHLECHTRIEM & SCHWENZER: COMMENTARY ON THE UN CONVENTION ON THE INTERNATIONAL SALE OF GOODS (CISG), 5TH EDITION (2022; ONLINE EDN, OXFORD LAW PRO), tr. 1374.
[5] Trần Thị Thuận Giang (2017), “Điều khoản miễn trách nhiệm do hành vi giao hàng không phù hợp theo Công ước Vienna năm 1980”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 07 (110).
[6] Điều IV(2)(a), Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế về thống nhất một số quy tắc pháp luật liên quan đến vận đơn ngày 25 tháng 8 năm 1924, đã được sửa đổi bởi Nghị định thư Brussels năm 1968 và tiếp tục được sửa đổi bởi Nghị định thư Brussels năm 1979. Xem thêm điều 151, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 (sửa đổi).
[7] Tlđd, 4, tr. 1374.
[8] Legal Information Institute (2021). Privity. Wex, Cornell Law School, https://www.law.cornell.edu/wex/privity (truy cập 5/12/2025).
[9] UK Parliament. (1999). Contracts (Rights of Third Parties) Act 1999, section 1, https://www.legislation.gov.uk/ukpga/1999/31/section/1 (truy cập 5/12/2025).
[10] PETER SCHLECHTRIEM (1986), UNIFORM SALES LAW - THE UN-CONVENTION ON CONTRACTS FOR THE INTERNATIONAL SALE OF GOODS, MANZ, VIENNA, tr. 104, https://iicl.law.pace.edu/sites/default/files/cisg_files/schlechtriem.html, truy cập ngày 16/09/2025.
[11] CISG Advisory Council (2007), Opinion No. 7: Exemption of Liability for Damages under Article 79 of the CISG, Rapporteur: Professor Alejandro M. Garro, Columbia University School of Law, New York, N.Y., USA. Adopted by the CISG-AC at its 11th meeting in Wuhan, People’s Republic of China (2007), đoạn 17-22, https://cisgac.com/opinions/cisgac-opinion-no-7/ (truy cập ngày 14/9/2025).
[12] Tribunale d’appello del Cantone Ticino, Furniture case V (2003) 12.2002.181, CISG-online 912, CLOUT 890, https://cisg-online.org/search-for-cases?caseId=6837 (truy cập 20/9/2025)
[13] Tlđd, 11, đoạn 17-22.
[14] Tugce Oral (2019), “Exemption from Liability According to the Art. 79 of the Convention on International Sale of Goods (CISG)”, Juridical Tribune (Tribuna Juridica) 9(3), 644–658, tr. 652-653.
[15] Tlđd, tr. 653. Xem thêm tlđd, 11, đoạn 18.
[16] PETER J. MAZZACANO (2013), EXEMPTIONS FOR THE NON-PERFORMANCE OF CONTRACTUAL OBLIGATIONS IN CISG ARTICLE 79 AND THE QUEST FOR UNIFORMITY IN INTERNATIONAL SALES LAW (PHD DISS., OSGOODE HALL LAW SCHOOL, YORK UNIVERSITY). https://core.ac.uk/download/pdf/77106682.pdf (truy cập ngày 21/9/2025).
[17] Bundesgerichtshof. Vine wax case, VIII ZR 121/98, 24 Mar 1999 (CISG-online 396), https://cisg-online.org/files/cases/6368/translationFile/396_90284026.pdf (truy cập 20/9/2025)
[18] Tlđd, 4, tr. 1385-1388.
[19] Lê Thị Anh Xuân, Nguyễn Thị Minh Trang (2021), “Miễn trách nhiệm do có sự tham gia của bên thứ ba theo CISG 1980 và pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 47, Chuyên đề 01 (2021), tr. 148, https://vjol.info.vn/index.php/tks/article/download/58747/49113/ (truy cập ngày 13/9/2025).
[20] Tlđd, 14, tr. 653.
[21] Kyujin Kim (2022), “Can Economic Sanctions be Grounds for Exemption under the CISG?”Journal of Korea Trade 26(5) 88-105, tr. 102, https://cisg-online.org/files/commentFiles/Kim_26_5_JKT_August-2022_88.pdf (truy cập 6/12/2025).
[22] Tlđd, 4, tr. 1385-1388.
[23] Bundesgerichtshof (2002), Milk powder case (Case No. VIII ZR 304/00, CISG-online 651), https://cisg-online.org/files/cases/6594/translationFile/651_52762818.pdf (truy cập 20/9/2025)
[24] Trần Thanh Tâm, Phạm Thanh Cao (2017), “Miễn trách nhiệm do người thứ ba theo Điều 79(2) Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Từ góc nhìn so sánh luật”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 07 (110).
[25] Tlđd, 16, tr. 211.
[26] NGUYỄN MINH HẰNG (CHỦ BIÊN), 101 CÂU HỎI - ĐÁP VỀ CISG, NXB THANH NIÊN (2016), tr. 188.
[27] Tlđd, 4, tr. 1141-1143.
[28] Tlđd, 26.
[29] Hội đồng Nhà nước, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế số 24-LCT/HĐNN8 ngày 25/9/1989, có hiệu lực từ ngày 29/9/1989,
https://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/Attachments/2312/Phap%20lenh%20Hop%20dong%20kinh%20te%201989.pdf (truy cập ngày 6/12/2025).
[30] ĐỖ VĂN ĐẠI, BÌNH LUẬN KHOA HỌC NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015, NXB. HỒNG ĐỨC – HỘI LUẬT GIA VIỆT NAM (2016).
[31] Tlđd, 19, tr.150.
[32] Phan Thị Thanh Thủy (2014), “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, số 3, 50-60, tr. 54.
[33] Lê Minh Thái (2023), “Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên năm 1980” Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 số 394, tháng 12/2023.
[34] Phạm Minh Quốc, “Miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 số 404, tháng 5/2024.
[35] Tlđd, 24, tr. 65.
[36] Tlđd, 19, tr. 150.
[37] Tlđd, 24, tr. 65.
[38] Tlđd, 24, tr. 64.
[39] Luật Hợp đồng của nước CHND Trung Hoa, Điều 64-65, https://english.cnipa.gov.cn/transfer/lawpolicy/relatedawsregulations/915598.htm (truy cập 5/12/2025)
[40] NDUBUISI AUGUSTINE NWAFOR (2015), COMPARATIVE AND CRITICAL ANALYSIS OF THE DOCTRINE OF EXEMPTION/FRUSTRATION/FORCE MAJEURE UNDER THE UNITED NATIONS CONVENTION ON THE CONTRACT FOR THE INTERNATIONAL SALE OF GOODS, ENGLISH LAW AND UNIDROIT PRINCIPLES (PHD THESIS, UNIVERSITY OF STIRLING), tr.17.
https://dspace.stir.ac.uk/bitstream/1893/21805/1/DR%20NWAFOR%20N.%20A.pdf (truy cập 5/12/2025).
[41] Nguyên văn vicarious agents.
[42] Sarah Howard Jenkins (1998), “Exemption for Nonperformance: UCC, CISG, UNIDROIT Principles – A Comparative Assessment”, Tulane Law Review, Vol 72, 2015–2030, tr. 2026. Lưu ý rằng các tác giả Trần Thanh Tâm và Phạm Thanh Cao (tldd, 27, tr. 64) đã nhầm lẫn khi cho rằng UCC không có quy định. Vấn đề này được ghi trong U.C.C. § 2-615 chú thích số 5 (1996). https://www.ali.org/sites/default/files/2025-10/PEB%20Report-Official-Text-of-UCC.pdf (truy cập 5/12/2025).
[43] Graham, C., & Reece, R. (2020). The Impact of the New Coronavirus (Covid-19) on International Contractual Obligations: Force Majeure under English Law (Client Alert, Energy & Natural Resources, UK). Gide Loyrette Nouel, https://www.gide.com/sites/default/files/gide_clientalert_covid-19_forcemajeure_en_mar2020.pdf (truy cập 5/12/2025)
[44] Sieg Eiselen (2014), “The CISG as Bridge between Common and Civil Law”. In: DiMatteo LA, ed. International Sales Law: A Global Challenge. Cambridge University Press, 612-629.
[45] Force majeure được dịch theo nghĩa đen là “superior forces”, một cái gì đó đủ mạnh để làm thay đổi một trạng thái sự việc đã được ổn định và gần với khái niệm “act of God” (hành vi của Thượng đế). Do đó, khá nhiều học giả Việt Nam sẽ cho rằng đây miễn trách của người thứ ba khác với bất khả kháng. Nếu có thể thì xem đây là “trở ngại” (impediment).
[46] Tlđd, 19, tr. 150.
(PLPT) - Bài viết này phân tích chính sách, pháp luật về kinh tế số của một số nước và khu vực tiêu biểu, qua đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam.
(PLPT) - Nghiên cứu này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục để nghiên cứu liên ngành từ dữ liệu Scopus giữa luật học với kinh tế để cung cấp bức tranh tổng quan nghiên cứu về vốn sở hữu nhà nước tại ngân hàng trên thế giới và Việt Nam.
(PLPT) - Bài viết chỉ ra một số vấn đề vấn đề trong pháp luật Việt Nam cần phải điều chỉnh và hoàn thiện để ứng dụng chứng khoán hóa vào việc phát triển hạ tầng giao thông tại Việt Nam.
(PLPT) - Bài viết tổng kết rằng thẩm quyền riêng biệt không áp dụng cho trái quyền phát sinh từ bất động sản.
(PLPT) - Bài viết đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động kinh tế đêm tại Việt Nam.
(PLPT) - Bài viết nêu một số hàm ý pháp lý cho Việt Nam trong quá trình áp dụng Công ước của Liên Hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm (Công ước Viên 1980 – CISG)
(PLPT) - Bài viết sẽ gợi mở việc ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh thỏa thuận này, hướng đến sự cân bằng lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động nói riêng và lợi ích của thị trường lao động nói chung, trong đó, tham khảo một số kinh nghiệm có liên quan từ Trung Quốc.
(PLPT) - Bài viết phân tích thực trạng pháp luật về đầu tư và chăm sóc sức khỏe NCT tại Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số nhanh.