Kinh tế, quyền con người và phát triển bền vững
Kinh tế, quyền con người và phát triển bền vững có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong thời đại ngày nay, không chỉ những nước phát
triển mà cả những nước đang phát triển ở các mức độ khác nhau đều coi trọng
phát triển bền vững và đặt ra vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, trong
đó có trách nhiệm đối với quyền con người. Đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) và cao hơn nữa là
trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người đã và đang được tranh luận
sôi nổi ở nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay.
Thuật ngữ CSR chính thức xuất hiện vào năm 1953 khi H.R.Bowen công
bố cuốn sách của mình với nhan đề Trách nhiệm xã hội của doanh nhân (Social
Responsibilities of the Businessmen, nhà xuất bản New York, Harper) nhằm mục
đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các
quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những
thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội. Tuy nhiên, từ đó đến nay,
thuật ngữ CSR đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một số người xác định
“trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với
các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến”. Một số người khác hiểu
“CSR bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ
thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định”[1]. Mặc dù có nhiều cách lý giải khác nhau, nhưng tựu
chung lại CSR là trách nhiệm của tổ chức (ở đây là doanh nghiệp) đối với những
tác động của các quyết định và hoạt động của tổ chức đến xã hội và môi trường
thông qua sự minh bạch và hành vi đạo đức nhằm: (i) Đóng góp cho sự phát triển
bền vững, bao gồm cả sự lành mạnh và thịnh vượng của xã hội; (ii) Tính đến
những mong muốn của các bên liên quan; (iii) Phù hợp với luật pháp và nhất quán
với chuẩn mực ứng xử quốc tế; và (iv) Tích hợp trong toàn bộ tổ chức và thực
thi trong các mối quan hệ của tổ chức[2].
Hiện đang tồn tại hai quan điểm đối lập nhau về CSR.
Những người ủng hộ quan điểm thứ nhất cho rằng, doanh nghiệp không có trách
nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của
doanh nghiệp, còn nhà nước phải có trách nhiệm với xã hội; doanh nghiệp đã có
trách nhiệm thông qua việc nộp thuế cho nhà nước. Trái lại, những người khác
lại có quan điểm cho rằng, với tư cách là một trong những chủ thể của nền kinh
tế thị trường, các doanh nghiệp đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác
các nguồn lực tự nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn hại không tốt
đối với môi trường tự nhiên. Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp còn có
trách nhiệm xã hội đối với môi trường, cộng đồng, người lao động...
Có thể thấy, cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước, sự thành công trong việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đang đặt ra
cho đất nước nhiều vấn đề về môi trường và xã hội bức xúc[3]. Chính những vấn đề đó đang đòi hỏi các chủ thể kinh
tế, trong đó có cả các doanh nghiệp, phải có trách nhiệm để góp phần giải quyết
những vấn đề về môi trường và xã hội, nếu không bản thân sự phát triển kinh tế
sẽ không bền vững và sẽ phải trả giá quá đắt về môi trường và những vấn đề xã
hội. Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những chuẩn mực
về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động,
trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng.
CSR được thể hiện một cách cụ thể qua các yếu tố, các mặt, như: bảo vệ môi
trường; đóng góp cho cộng đồng xã hội; thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung
cấp; bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; quan hệ tốt với người lao
động; và đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong doanh nghiệp.
Trong đó, bốn yếu tố đầu tiên thể hiện trách nhiệm bên ngoài của doanh nghiệp,
còn hai yếu tố cuối thể hiện trách nhiệm bên trong, nội tại của doanh nghiệp.
Tất nhiên, sự phân chia thành trách nhiệm bên ngoài và trách nhiệm bên trong
chỉ có ý nghĩa tương đối và không thể nói trách nhiệm nào quan trọng hơn trách
nhiệm nào. Việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội không chỉ giúp bản thân doanh
nghiệp phát triển, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội[4].
Ở cấp độ doanh nghiệp, CSR có thể góp phần nâng cao
thương hiệu, giúp doanh nghiệp tăng thị phần, tạo thêm lợi nhuận, thông qua
việc giúp doanh nghiệp tăng tính cạnh tranh. Do CSR liên quan đến việc thiết
lập mối quan hệ mật thiết với các đối tác của doanh nghiệp như nhà cung cấp,
khách hàng, người lao động, môi trường sống của cộng đồng,... bằng cách quan
tâm đến những lợi ích của họ, doanh nghiệp có thể khiến các đối tác của mình
hài lòng và kết quả là, doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ những mối quan hệ mật
thiết này. Chẳng hạn như, mối quan hệ mật thiết với các khách hàng có thể giúp
doanh nghiệp nhận thức tốt hơn về những nhu cầu của họ, từ đó giúp doanh nghiệp
trở nên cạnh tranh hơn trong việc đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Trong
một số trường hợp, CSR có thể đem lại hiệu suất lớn hơn (như tiết kiệm chi phí
từ việc ứng dụng kỹ thuật giảm chất thải, điều này có thể giúp doanh nghiệp có
được giá cả cạnh tranh hơn). Việc thực hiện trách nhiệm này khuyến khích các
doanh nghiệp bảo đảm môi trường làm việc tốt cho người lao động, bao gồm bảo
hiểm xã hội, an toàn lao động, đối xử bình đẳng, chăm sóc sức khỏe định kỳ,...
Ở cấp độ quốc gia, CSR có thể góp phần xóa đói, giảm nghèo, thông qua các
chương trình từ thiện. Các chính sách về CSR như đối xử bình đẳng giữa nam giới
và nữ giới, với lao động cũ và mới cũng đem lại công bằng xã hội nói chung. Một
đóng góp quan trọng nữa của CSR ở cấp quốc gia là góp phần bảo vệ môi trường.
Điều này được xem là một đóng góp rất quan trọng do tình trạng ô nhiễm môi trường
hiện đang đe dọa cuộc sống con người hơn bao giờ hết và tốn nhiều kinh phí,
công sức để xử lý.
Cơ chế và thực tiễn thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với
quyền con người ở Việt Nam
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ
trương, chính sách về thực hiện CSR; xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân
và kinh doanh; khuyến khích doanh nhân thực hiện trách nhiệm xã hội và tham gia
phát triển xã hội nâng cao trách nhiệm xã hội; CSR, đạo đức, văn hoá kinh doanh;
CSR đối với người tiêu dùng và đối với môi trường; phát triển bền vững[5]... Điều này được thể hiện thông qua một số văn kiện như:
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành
Trung ương về Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về
phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết
số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế,
chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm
2030; Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII, XIII;
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030; Nghị
quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai
trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới; Chỉ thị số 31-CT/TW, ngày 19/3/2024 của Ban Bí thư về tiếp
tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác an toàn, vệ sinh lao động
trong tình hình mới... Chính phủ đã ban hành Nghị
quyết số 01/NQ-CP ngày 06/01/2023 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước và cải thiện môi
trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2023; Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 25/9/2020 về phát triển bền
vững. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành: Quyết định
số 843/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 ban hành Chương trình hành động quốc gia hoàn
thiện chính sách và pháp luật nhằm thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm
tại Việt Nam giai đoạn 2023-2027; Quyết định số
622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực
hiện Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững; Quyết định số 1362/QĐ-TTg ngày 11/10/2019 phê duyệt kế
hoạch phát triển bền vững doanh nghiệp khu vực tư nhân đến năm 2025, tầm nhìn
2030. Về cơ bản, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng ta về kinh
doanh có trách nhiệm nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vừa có kế thừa
nhận thức chung của cộng đồng quốc tế vừa có sự vận dụng sáng tạo, bổ sung,
phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Chủ trương,
chính sách này đã và đang bảo đảm hài hòa giữa phát triển bền vững cả về kinh
tế, cả về xã hội và cả về môi trường; phát triển bền vững là sự phát triển đáp
ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của thế hệ hiện nay nhưng không làm tổn
hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai.[6]
Xuất phát từ yêu cầu phát triển của xã hội và các cam
kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Việt Nam đã và đang tích cực xây dựng và
hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật về thực hành kinh doanh có trách nhiệm,
nhiều chính sách cũng đã được ban hành để hướng doanh nghiệp thực hiện trách
nhiệm đối với nền kinh tế, môi trường và xã hội. Khung pháp luật Việt Nam về
thực hành kinh doanh có trách nhiệm được quy định xuyên suốt, tập trung chủ yếu
trong các văn bản pháp luật trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, lao động và môi
trường. Tuy vậy, hiện nay, CSR được hiểu là mang tính khuyến khích, còn thực
hành kinh doanh có trách nhiệm là mang tính bắt buộc, thể hiện trách nhiệm của
doanh nghiệp đối với các chủ thể liên quan. CSR với nội hàm gốc chỉ đảm bảo
được một trụ cột: doanh nghiệp tự nguyện thực hành kinh doanh tuân thủ pháp
luật và mang đến lợi ích cho môi trường và xã hội, trong khi thực hành kinh
doanh có trách nhiệm được cấu thành bởi 3 trụ cột: (i) Nhà nước hoàn thiện
chính sách - pháp luật; (ii) Doanh nghiệp thực hiện kinh doanh theo các tiêu
chuẩn luật định,; và (iii) cộng đồng và các tổ chức xã hội (bao gồm các tổ chức
phi chính phủ, tổ chức bảo vệ quyền lợi người lao động, và các nhóm bảo vệ môi
trường) tham gia giám sát và yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện thực hành kinh
doanh có trách nhiệm.
Tại Việt Nam, CSR được đề cập trong nhiều lĩnh vực
pháp luật như pháp luật doanh nghiệp, pháp luật lao động, pháp luật về bảo vệ
môi trường và các quy định liên quan[7]. CSR
chưa được quy định trong một đạo luật riêng biệt, nhưng các nghĩa vụ liên quan
đã xuất hiện rải rác trong nhiều văn bản pháp luật. Hiện nay, các cam kết
thương mại quốc tế, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and
Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership - CPTPP) và Hiệp định
Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (European Union - Vietnam
Free Trade Agreement - EVFTA), đặt ra yêu cầu ngày càng cao về CSR. Các hiệp định này buộc
doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ các tiêu chuẩn khắt khe hơn về lao động,
môi trường và quản trị minh bạch theo chuẩn mực quốc tế. Điều này đặt ra yêu
cầu cấp thiết hoàn thiện pháp luật về CSR nhằm tạo ra một môi trường pháp lý rõ
ràng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển bền vững và
bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.
Mặc dù chưa có cơ chế đầy đủ, rõ ràng nhưng thời gian
qua, việc thực hiện trách nhiệm xã hội cũng đã nhận được sự hưởng ứng của doanh
nghiệp. Đặc biệt, trong bối cảnh chịu nhiều tác động nặng nề về kinh tế do đại
dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp vẫn xác định đây là thời điểm để thực hiện
trách nhiệm xã hội. Khi đó, mục tiêu về doanh số không phải là duy nhất. Theo
kết quả cuộc khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)[8] và Ngân
hàng Thế giới (WB) về mức độ ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 với gần 10.200
doanh nghiệp (gần 5% thuộc khối tư nhân trong nước, còn lại là FDI) cho biết
87,2% câu trả lời là chịu ảnh hưởng lớn hoặc hoàn toàn tiêu cực. Chỉ có 11% trả
lời không bị ảnh hưởng gì và 2% ghi nhận tích cực[9]. Khó khăn chung về kinh tế đồng nghĩa với việc phải
tinh gọn bộ máy, cắt giảm ngân sách chi, tập trung chính vào mục tiêu doanh số
để doanh nghiệp “sống sót” vượt qua giai đoạn đại dịch. Tuy nhiên, trái ngược
với tình hình nói trên, có một sự sôi động “ngầm” diễn ra giữa các doanh nghiệp
Việt Nam sẵn sàng đầu tư ngân sách để thực hiện trách nghiệm xã hội. Dẫn đầu
cho “làn sóng” thực hiện trách nhiệm xã hội là những doanh nghiệp có
tên tuổi lớn, tiềm lực tài chính vững vàng, có khả năng lan tỏa sức ảnh hưởng
tới cộng đồng. Không chỉ có doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp tầm trung cho
tới quy mô nhỏ đều có thể thực hiện trách nhiệm xã hội dựa theo thế mạnh và
nguồn lực sẵn có. Sự đồng lòng thực hiện CSR Việt Nam cho thấy trong thời điểm
khủng hoảng đại dịch COVID-19, mục tiêu số là trọng tâm nhưng không phải duy
nhất.
Một mục tiêu không kém phần quan trọng là việc san sẻ
nguồn lực của doanh nghiệp để tạo ra giá trị đóng góp khi cộng đồng, xã hội
trải qua giai đoạn khó khăn. Bởi suy cho cùng, sức khỏe của doanh nghiệp luôn
gắn liền với sức khỏe của cộng đồng. Chỉ khi cộng đồng, xã hội cân bằng trở lại
mới có thể tạo ra môi trường thuận lợi để doanh nghiệp hồi phục và tăng tốc.
Mặt khác, nhiều người vẫn lầm tưởng thực hiện trách nhiệm xã hội chỉ dành cho
những tổ chức lớn, những hoạt động thiện nguyện quy mô lớn. Trên thực tế, đó là
sự lựa chọn của mỗi doanh nghiệp, khởi phát từ tâm của lãnh đạo doanh nghiệp đó
chứ không phải sự bắt buộc. Nguồn lực tới đâu làm trong khả năng tới đó.
Tuy vậy, về tổng thể, việc thực hiện CSR vẫn còn những
bất cập nhất định[10]. Đó là chưa có cơ
chế xác định cụ thể về CSR, chưa có sự phân định trách nhiệm xã hội theo luật
chuyên ngành và CSR nói chung. Ở nước ta, việc thực hiện CSR vẫn thường được
xem là một hành động giải quyết các vấn đề xã hội vì mục đích từ thiện và nhân
đạo. Trong khi đó, CSR nhìn chung phải được hiểu là cách thức mà một doanh
nghiệp đạt được sự cân bằng hoặc kết hợp những yêu cầu về kinh tế, môi trường
và xã hội đồng thời đáp ứng kỳ vọng của cổ đông và đối tác.
Cho đến nay, Việt Nam chưa có các Bộ quy tắc ứng xử và
các tiêu chuẩn về CSR[11]. Nhiều chương trình CSR đã được thực hiện, tuy nhiên,
phía doanh nghiệp của Việt Nam đều chưa xây dựng Bộ quy tắc ứng xử có tính chất
chuẩn mực áp dụng đối với nhân viên và các đối tác kinh doanh của mình. Về phía
Nhà nước, việc tổ chức các chương trình này nhiều khi vẫn mang tính hình thức.
Trên thực tế, với các doanh nghiệp lớn, việc chi phí để áp dụng chương trình
CSR có thể không làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Nhưng đối với các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, chi phí để thực hiện hoặc áp dụng CSR là một rào cản lớn.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp coi trách nhiệm xã hội là một phần không thể tách
rời trong chiến lược xây dựng hình ảnh thương hiệu. Nguyên nhân là bởi khách
hàng ngày càng đánh giá cao và tin tưởng hơn vào những doanh nghiệp có danh
tiếng xã hội tốt. Do đó, trách nhiệm xã hội trở thành một yếu tố quan trọng
trong mọi hoạt động quan hệ công chúng, góp phần củng cố uy tín và nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Vì vậy, những lãnh đạo có
tầm nhìn xa trông rộng sẽ có mục tiêu hoạt động không chỉ giới hạn bởi lợi
nhuận. Thước đo thành công của doanh nghiệp bắt nguồn từ tác động mà họ tạo ra
đối với nhu cầu xã hội. Các doanh nhân này tìm kiếm những giải pháp để thay đổi
xã hội theo chiều hướng tốt hơn và đổi ngược lại, doanh nghiệp của họ sẽ có
những điều kiện để phát triển bền vững hơn.
Tiếp tục thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với
quyền con người vì mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế
Trong thời gian tới, cần tiếp tục tuyên truyền, giáo
dục cho tất cả các doanh nghiệp, trước hết là người đứng đầu về CSR. Phải làm
cho họ hiểu rằng trách nhiệm này không phải chỉ gói gọn trong công tác từ
thiện, cứu trợ... mà phải trở thành động cơ bên trong của các chủ doanh nghiệp[12]. Việc này cần được xem là một hành vi đạo đức, được
điều khiển bằng động cơ đạo đức. Đây chính là giải pháp bền vững tạo nên văn
hóa doanh nghiệp Việt Nam. Một điều quan trọng nữa là cần xây dựng một hành
lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng về CSR. Điều này liên quan đến trách nhiệm của Nhà
nước trong việc tạo môi trường và khung pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động.
Khung pháp lý chính là biện pháp có hiệu lực nhất đối với việc thực hiện CSR;
đồng thời, là giải pháp hỗ trợ đắc lực cho giải pháp về đạo đức, làm cho các
động cơ đạo đức được củng cố, ngày càng có hiệu lực. Điều khó khăn cho Việt Nam
và các nước đang phát triển nói chung là trong bối cảnh cần thu hút đầu tư nước
ngoài, nếu đặt nặng mục tiêu về môi trường và xã hội thì doanh nghiệp khó có
thể thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, nếu không đưa ra yêu cầu cao đối với
vấn đề CSR thì hậu quả về môi trường, xã hội sẽ không thể bù đắp được bằng các
kết quả của sự tăng trưởng kinh tế, không thực hiện được mục tiêu phát triển
bền vững. Vì vậy, phải có bộ công cụ để đánh giá doanh nghiệp thực hiện tốt
điều này. Theo đó, từng bước lấy việc thực hiện trách nhiệm xã hội là một trong
những tiêu chí để lựa chọn nhà đầu tư và dự án đầu tư vào Việt Nam[13]. Kinh nghiệm cho thấy các doanh nghiệp thực hiện tốt
trách nhiệm xã hội cũng là các doanh nghiệp có năng lực về vốn, công nghệ, có
đạo đức kinh doanh và ý thức đóng góp cho phát triển cộng đồng địa phương. Việc
xem trách nhiệm xã hội như là tiêu chí để lựa chọn nhà đầu tư sẽ giúp lựa chọn
được nhà đầu tư có năng lực, có đạo đức, góp phần hạn chế được những tác động
tiêu cực của hoạt động đầu tư nước ngoài hiện nay như vấn đề môi trường, vấn đề
phúc lợi, bảo đảm quyền lợi cho người lao động, hay vấn đề cạn kiệt tài
nguyên,...
Cần nhấn mạnh rằng, việc thực hiện CSR không chỉ dừng
lại là trách nhiệm pháp lý, mà thực sự trở thành một yêu cầu cấp bách cả về mặt
pháp lý lẫn khía cạnh đạo đức. Thực hiện CSR hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của
chiến lược phát triển bền vững mà Việt Nam đang đặt ra. Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng nêu: “Khuyến khích doanh nhân thực
hiện trách nhiệm xã hội và tham gia phát triển xã hội”[14]. Trách nhiệm đó gắn liền với việc nâng cao phúc lợi
công nhân, đầu tư phát triển các dịch vụ xã hội hoạt động theo nguyên tắc phi
lợi nhuận và thực hiện trách nhiệm xã hội.
Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, CSR không còn giới hạn trong khuôn khổ một cam kết đạo đức mà đã trở thành một yếu tố quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia. Xu hướng chuyển dịch từ CSR tự nguyện sang quy phạm hóa phản ánh yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp và sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế với các yêu cầu về phát triển bền vững . Điều này cho thấy sự phát triển của pháp luật trong việc điều chỉnh hoạt động của các chủ thể kinh tế nhằm bảo vệ các lợi ích xã hội rộng lớn, đồng thời duy trì sự ổn định của hệ thống kinh tế - xã hội trong dài hạn . Vẫn còn một chặng đường dài để trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được áp dụng đầy đủ trong tất cả các doanh nghiệp tại Việt Nam. Điều quan trọng là cả người tiêu dùng và chủ doanh nghiệp cần nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đồng thời tạo ra một phong trào tích cực trong xã hội để mọi người có trách nhiệm hơn trong thực hiện và giám sát việc thực hiện trách nhiệm xã hội của cộng đồng các doanh nghiệp, vì một Việt Nam phát triển bền vững, phồn thịnh, hạnh phúc .
Tài liệu tham khảo
Văn bản pháp luật
1.
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về
Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát
triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
2.
Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng
hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác
đầu tư nước ngoài đến năm 2030
3.
Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và
phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới
4.
Chỉ thị số 31-CT/TW, ngày 19/3/2024 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác an toàn, vệ sinh lao động
trong tình hình mới
5. Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ về phát triển bền vững
6.
Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 06/01/2023 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải
pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán
ngân sách nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc gia năm 2023
7.
Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc
ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình Nghị sự
2030 vì sự phát triển bền vững
8.
Quyết định số 1362/QĐ-TTg ngày 11/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt kế hoạch phát triển bền vững doanh nghiệp khu vực tư nhân đến năm
2025, tầm nhìn 2030
9.
Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Chương trình hành động quốc gia hoàn thiện chính sách và pháp luật
nhằm thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm tại Việt Nam giai đoạn
2023-2027
Tài liệu khác
1. Bộ Tư pháp, UNDP, Báo
cáo chuyên đề về thực hành kinh doanh có trách nhiệm tại Việt Nam, Hà Nội,
(18/6/2025), https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2752
2. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM, VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII, NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ
QUỐC GIA - SỰ THẬT, HÀ NỘI, TẬP I, (2021)
3. Phạm Văn Đức, Trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
cấp bách, Tạp chí Triết học, số 2, (2009), https://trithuc.itrithuc.vn/articles/trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-o-viet-nam-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-cap-bach-9852.html
4. Phan Thị Thu Hiền, Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm thúc đẩy phát triển bền
vững, Tạp chí Cộng sản điện tử,
(09/6/2023), https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/827496/nang-cao-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-nham-thuc-day-phat-trien-ben-vung.aspx
5. Nguyễn Vĩnh Long, Lưu
Thế Vinh, Cơ hội và thách thức khi thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập, Tạp chí Khoa học và Công nghệ
(Trường Đại học Hùng Vương), t.15, số 2, tr. 77-87 (2019)
6. P.Q, Trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp tới phát triển bền vững, Tuổi trẻ online,
(11/5/2021), https://tuoitre.vn/trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-toi-phat-trien-ben-vung-20210511115820879.htm
7.
Porter, M. E., & Kramer, M. R., Creating
shared value, Harvard Business Review, 89(1/2), 62-77 (2011)
8. Bành Quốc Tuấn, Nguyễn Hoàng Anh, Điều chỉnh pháp luật đối với trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam,
Tạp chí Pháp luật và Phát triển điện tử, (20/5/2025), https://phapluatphattrien.vn/dieu-chinh-phap-luat-doi-voi-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-kinh-nghiem-quoc-te-va-khuyen-nghi-cho-viet-nam-d4070.html
9. Lê Anh Văn, Cơ chế thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,
Nhân dân điện tử, (25/01/2019),
https://nhandan.vn/nhan-dinh/co-che-thuc-hien-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-348043/
10. Hoàng Thị Hồng Vân, Trần Ngọc Tú, Phạm Văn Tịch, Trách nhiệm xã hội và cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, Tạp chí Con số và Sự kiện điện tử, (24/02/2025), https://consosukien.vn/trach-nhiem-xa-hoi-va-co-so-ly-thuyet-ve-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep.htm
[*] TS, Luật sư, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Email: hq8710@gmail.com
[1] Phạm Văn Đức, Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách, Tạp chí Triết
học, số 2, (2009), https://trithuc.itrithuc.vn/articles/trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-o-viet-nam-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-cap-bach-9852.html.
[2] Hoàng Thị Hồng Vân, Trần Ngọc Tú, Phạm Văn
Tịch, Trách nhiệm xã hội và cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp, Tạp chí Con số và Sự kiện điện tử, (24/02/2025), https://consosukien.vn/trach-nhiem-xa-hoi-va-co-so-ly-thuyet-ve-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep.htm.
[3] Phạm Văn Đức, tlđd.
[4] Lê Anh Văn, Cơ chế thực hiện trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp, Nhân dân điện tử, (25/01/2019), https://nhandan.vn/nhan-dinh/co-che-thuc-hien-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-348043/.
[5] Bộ Tư pháp, UNDP, Báo cáo chuyên đề về thực
hành kinh doanh có trách nhiệm tại Việt Nam, Hà Nội, tr. 69, (18/6/2025), https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2752.
[6] Bộ Tư pháp, UNDP, tlđd, tr. 74.
[7] Bành Quốc Tuấn, Nguyễn Hoàng Anh, Điều chỉnh
pháp luật đối với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và
khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Phát triển điện tử, (20/5/2025),
https://phapluatphattrien.vn/dieu-chinh-phap-luat-doi-voi-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-kinh-nghiem-quoc-te-va-khuyen-nghi-cho-viet-nam-d4070.html.
[8] Nay là Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
[9] P.Q, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tới phát triển bền vững, Tuổi
trẻ online, (11/5/2021), https://tuoitre.vn/trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-toi-phat-trien-ben-vung-20210511115820879.htm.
[10] Lê Anh Văn, tlđd.
[11] Để thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hiện nay trên thế giới
có hơn 1.000 bộ quy tắc ứng xử thể hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp như:
BSCI (Bộ tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh,
2003), SA8000 (tiêu chuẩn lao động trong các nhà máy sản xuất), WRAP (trách
nhiệm toàn cầu trong ngành sản xuất may mặc), FSC (bảo vệ rừng bền vững),
ISO1.4001 (hệ thống quản lý môi trường trong doanh nghiệp), ISO26000 (tiêu
chuẩn CSR của Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa),...
[12] Lê Anh Văn, tlđd.
[13] Nguyễn Vĩnh Long, Lưu Thế Vinh, Cơ hội và thách thức khi thực hiện
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập, Tạp
chí Khoa học và Công nghệ (Trường Đại học Hùng Vương), t.15, số 2, tr. 77-87 (2019).
[14] ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM, VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII, NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ
QUỐC GIA - SỰ THẬT, HÀ NỘI, TẬP I, TR. 168 (2021).
[15] Porter, M. E., & Kramer, M. R., Creating shared value, Harvard Business Review, 89(1/2), 62-77 (2011).
[16] Bành Quốc Tuấn, Nguyễn Hoàng Anh, tlđd.
[17] Phan Thị Thu Hiền, Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm thúc đẩy phát triển bền
vững, Tạp chí Cộng sản điện tử,
(09/6/2023), https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/827496/nang-cao-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-nham-thuc-day-phat-trien-ben-vung.aspx.