Tầm nhìn

Thể chế phát triển: Từ pháp luật đến năng lực quốc gia

TS. Nguyễn Sĩ Dũng Thứ tư, 15/07/2026 - 19:19
Nghe audio
0:00

(PLPT) - Trong mọi quốc gia hiện đại, pháp luật là nền tảng của trật tự. Pháp luật xác lập quyền và nghĩa vụ, phân định thẩm quyền, kiểm soát quyền lực và tạo khuôn khổ cho các chủ thể hành động. Không có pháp luật, không thể có quản trị quốc gia hiệu quả.

Nhưng pháp luật, tự thân nó, chưa tạo ra phát triển

Thực tiễn cho thấy, nhiều quốc gia có hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh nhưng vẫn phát triển chậm; ngược lại, những quốc gia bứt phá thường không chỉ có pháp luật tốt mà còn có thể chế biết tổ chức hành động và tạo ra kết quả. Điểm khác biệt không nằm ở số lượng văn bản được ban hành mà ở khả năng chuyển hóa pháp luật thành năng lực của Nhà nước, thị trường và xã hội.

Đó cũng là yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Khi mục tiêu không chỉ là tăng trưởng nhanh mà còn xây dựng nền công nghiệp hiện đại và trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trọng tâm cải cách không thể dừng ở việc hoàn thiện từng đạo luật riêng lẻ. Điều cần hướng tới là xây dựng thể chế phát triển - một hệ thống trong đó pháp luật, tổ chức, cơ chế vận hành và năng lực thực thi được thiết kế thống nhất để giải phóng nguồn lực và thúc đẩy phát triển.

Theo cách tiếp cận đó, giá trị của pháp luật không chỉ được đo bằng tính đầy đủ của quy phạm, mà còn bằng năng lực mà nó tạo ra; không chỉ bằng việc kiểm soát quyền lực, mà còn bằng khả năng khuyến khích sáng tạo, bảo vệ người dám làm và tổ chức hiệu quả các nguồn lực quốc gia.

Từ pháp luật đến thể chế phát triển

Pháp luật là nền tảng của thể chế

Trong thực tiễn, hoàn thiện thể chế thường được hiểu là sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật. Đây là một cách tiếp cận cần thiết nhưng chưa đầy đủ.

Pháp luật xác lập các quy tắc chung của xã hội, nhưng để những quy tắc ấy tạo ra kết quả còn cần một hệ thống tổ chức thực thi, cơ chế phối hợp, nguồn lực và trách nhiệm giải trình. Nếu các yếu tố này không đồng bộ, pháp luật có thể đúng trên văn bản nhưng chưa phát huy được hiệu lực trong thực tế.

Vì vậy, pháp luật là nền móng của thể chế, nhưng không phải toàn bộ thể chế.

Thế nào là thể chế phát triển?

Có thể hiểu: Thể chế phát triển là tổng thể các quy tắc, thiết chế và cơ chế vận hành được tổ chức nhằm giải phóng tiềm năng, huy động nguồn lực và chuyển hóa các nguồn lực ấy thành kết quả phát triển.

Khác với cách tiếp cận truyền thống thiên về quản lý, thể chế phát triển đặt trọng tâm vào việc tạo lập năng lực. Một thể chế tốt không chỉ duy trì trật tự mà còn phải giúp Nhà nước quyết định nhanh hơn, doanh nghiệp đầu tư thuận lợi hơn, người dân sáng tạo nhiều hơn và xã hội phối hợp hiệu quả hơn. Bởi vậy, chất lượng thể chế không nên chỉ được đánh giá bằng số lượng văn bản hay mức độ chặt chẽ của quy trình, mà trước hết bằng khả năng giải quyết vấn đề và tạo ra giá trị phát triển.

Để phục vụ việc phân tích, có thể tiếp cận thể chế phát triển như một cấu trúc gồm năm tầng liên kết hữu cơ: Thứ nhất, tầng quy tắc, xác lập khuôn khổ pháp lý; Thứ hai, tầng thiết chế, tổ chức các chủ thể thực hiện; Thứ ba, tầng động lực, định hình hành vi thông qua cơ chế khuyến khích và trách nhiệm; Thứ tư, tầng thực thi, chuyển hóa quy định thành kết quả; Thứ năm, tầng thích ứng, bảo đảm khả năng tự điều chỉnh và đổi mới liên tục của hệ thống.

Một thể chế chỉ thực sự trở thành thể chế phát triển khi cả năm tầng này vận hành đồng bộ. Thiếu bất kỳ tầng nào, năng lực phát triển đều bị suy giảm.

Từ thể chế quản lý đến thể chế phát triển

Thể chế quản lý chủ yếu hướng tới kiểm soát đầu vào và bảo đảm tuân thủ quy trình. Cách tiếp cận này cần thiết để duy trì kỷ cương, nhưng nếu quá nhấn mạnh sẽ dễ làm gia tăng thủ tục, kéo dài thời gian ra quyết định và làm giảm tính chủ động của bộ máy.

Trong khi đó, thể chế phát triển không phủ nhận kiểm soát mà chuyển trọng tâm sang kết quả. Điều quan trọng không chỉ là "làm đúng quy trình", mà còn là "giải quyết được vấn đề". Nói cách khác, nếu thể chế quản lý chú trọng hạn chế sai sót, thì thể chế phát triển hướng tới tạo lập năng lực hành động. Đó là bước chuyển từ quản lý bằng thủ tục sang quản trị bằng kết quả.

Pháp luật phải tạo lập năng lực hành động

Pháp luật không chỉ kiểm soát mà còn phải kiến tạo

Một đạo luật tốt không chỉ quy định điều gì bị cấm, mà còn phải xác định rõ ai có quyền quyết định, trong phạm vi nào và chịu trách nhiệm ra sao. Khi thẩm quyền rõ ràng, trách nhiệm minh bạch và quy trình hợp lý, pháp luật sẽ tạo ra khả năng hành động. Ngược lại, nếu quyền hạn chồng chéo, quy định thiếu nhất quán hoặc mọi quyết định đều phải xin ý kiến nhiều cấp, pháp luật có thể trở thành rào cản của phát triển. Bởi vậy, pháp luật phát triển không chỉ dựng lên những giới hạn cần thiết mà còn phải mở ra những không gian hành động hợp pháp và an toàn.

Trao quyền phải đi cùng trách nhiệm

Phân quyền chỉ thực sự có ý nghĩa khi quyền hạn, nguồn lực và trách nhiệm được chuyển giao đồng bộ. Trao việc mà không trao quyền sẽ dẫn đến né tránh trách nhiệm; trao quyền mà không xác lập trách nhiệm lại dễ dẫn đến lạm quyền. Vì vậy, pháp luật phải thiết kế đồng thời cả quyền quyết định, nguồn lực thực hiện và cơ chế giải trình. Đó cũng là điều kiện để phân quyền trở thành động lực nâng cao năng lực quốc gia thay vì chỉ là sự dịch chuyển công việc giữa các cấp.

Kiểm soát quyền lực nhưng không triệt tiêu năng lực hành động

Kiểm soát quyền lực là nguyên tắc cốt lõi của Nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, kiểm soát không đồng nghĩa với làm cho mọi quyết định đều trở nên rủi ro. Một hệ thống pháp luật hiện đại phải phân biệt rõ giữa hành vi vụ lợi với những quyết định được đưa ra vì lợi ích công nhưng gặp rủi ro trong quá trình thực hiện. Chỉ khi đó, pháp luật mới vừa bảo đảm liêm chính, vừa khuyến khích tinh thần đổi mới và dám chịu trách nhiệm.

Pháp luật phải tạo môi trường phát triển ổn định

Đối với người dân và doanh nghiệp, giá trị lớn nhất của pháp luật là tính minh bạch, ổn định và khả năng dự báo. Một hệ thống pháp luật rõ ràng sẽ làm giảm chi phí giao dịch, củng cố niềm tin và khuyến khích đầu tư dài hạn. Ngược lại, sự chồng chéo, thiếu thống nhất và khó dự báo sẽ làm gia tăng chi phí phát triển. Vì vậy, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội mà còn là một bộ phận quan trọng của hạ tầng phát triển quốc gia.

Từ thể chế đến năng lực quốc gia

Nếu pháp luật tạo ra trật tự thì thể chế tạo ra năng lực. Giá trị cuối cùng của một hệ thống pháp luật không nằm ở số lượng văn bản được ban hành, mà ở năng lực quốc gia mà hệ thống đó tạo lập.

Trước hết là năng lực hoạch định. Một thể chế phát triển phải giúp Nhà nước nhận diện đúng vấn đề, lựa chọn đúng ưu tiên và xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng. Làm luật vì thế không chỉ là kỹ thuật lập pháp, mà trước hết là năng lực nhận thức và giải quyết các vấn đề phát triển.

Thứ hai là năng lực phối hợp. Trong bối cảnh phát triển hiện nay, hầu hết các vấn đề đều mang tính liên ngành. Nếu mỗi cơ quan chỉ thực hiện đúng phần việc của mình mà thiếu cơ chế phối hợp thì chi phí thể chế sẽ tăng lên và hiệu quả chính sách sẽ giảm xuống. Một thể chế tốt phải biến sự phân công thành sự cộng hưởng.

Thứ ba là năng lực thực thi. Chính sách chỉ thực sự tồn tại khi được thực hiện. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ có năng lực, tổ chức hợp lý, nguồn lực đầy đủ, dữ liệu thông suốt và cơ chế giám sát hiệu quả. Khoảng cách giữa quy định và kết quả chính là thước đo quan trọng nhất của chất lượng thể chế.

Cuối cùng là năng lực tự điều chỉnh. Một quốc gia phát triển không phải là quốc gia không mắc sai lầm, mà là quốc gia có khả năng phát hiện sai lầm sớm, sửa chữa nhanh và liên tục hoàn thiện mình. Khả năng học hỏi và tự đổi mới chính là dấu hiệu của một thể chế trưởng thành.

Như vậy, xét đến cùng, khoảng cách giữa các quốc gia không chỉ là khoảng cách về nguồn lực, mà còn là khoảng cách về năng lực tổ chức và phát huy các nguồn lực ấy thông qua thể chế.

Xây dựng thể chế phát triển ở Việt Nam

Trong giai đoạn phát triển mới, cải cách thể chế cần được đặt trong một tầm nhìn rộng hơn cải cách pháp luật đơn thuần.

Trước hết, cần chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Mỗi đạo luật cần được đánh giá không chỉ ở tính hợp hiến, hợp pháp mà còn ở khả năng khơi thông nguồn lực, giảm chi phí giao dịch và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, cần tiếp tục đẩy mạnh phân quyền theo nguyên tắc: nơi nào gần dân hơn, hiểu việc hơn và làm tốt hơn thì trao quyền nhiều hơn, đồng thời gắn chặt quyền hạn với trách nhiệm giải trình và nguồn lực thực hiện.

Thứ ba, cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ kiểm soát quy trình sang quản trị rủi ro và đánh giá kết quả. Điều này vừa bảo đảm kỷ cương pháp luật, vừa mở rộng không gian sáng tạo cho người dân, doanh nghiệp và đội ngũ thực thi.

Cuối cùng, cải cách thể chế phải lấy năng lực thực thi làm trung tâm. Một đạo luật tốt nhưng không có bộ máy đủ năng lực để thực hiện thì vẫn chưa hoàn thành sứ mệnh của mình. Thể chế chỉ thực sự hoàn thiện khi được chuyển hóa thành năng lực hành động của cả Nhà nước, thị trường và xã hội.

Đích đến của cải cách

Trong thế giới cạnh tranh ngày nay, lợi thế của một quốc gia không còn được quyết định chủ yếu bởi tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ. Lợi thế bền vững ngày càng được quyết định bởi chất lượng thể chế.

Pháp luật là nền tảng của thể chế, nhưng không phải đích đến của cải cách. Đích đến phải là xây dựng một hệ thống thể chế có khả năng giải phóng tiềm năng, huy động nguồn lực và tổ chức hiệu quả các nguồn lực ấy thành sức mạnh phát triển quốc gia. Bởi vậy, bước chuyển quan trọng nhất của cải cách thể chế trong giai đoạn mới không chỉ là từ luật cũ sang luật mới, mà là từ pháp luật trên văn bản đến năng lực trong hành động; từ quản lý nguồn lực hiện có đến kiến tạo những năng lực phát triển mới.

Đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa của thể chế phát triển: biến pháp luật thành năng lực, biến năng lực thành kết quả và biến kết quả thành sức mạnh cạnh tranh của quốc gia.

Cùng chuyên mục

Tổng Bí thư Tô Lâm và bài toán giải phóng người trẻ khỏi áp lực mua nhà

Tổng Bí thư Tô Lâm và bài toán giải phóng người trẻ khỏi áp lực mua nhà

Tầm nhìn -  1 tháng trước

(PLPT) - Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc xác định nhà ở cho thuê là “trụ cột chiến lược” đã gợi mở định hướng giải quyết bài toán giảm áp lực mua nhà, để người trẻ có thêm cơ hội ổn định cuộc sống, dịch chuyển việc làm và phát triển tương lai.

Dấu ấn nhiệm kỳ - Tư duy nhiệm kỳ

Dấu ấn nhiệm kỳ - Tư duy nhiệm kỳ

Tầm nhìn -  2 tháng trước

(PLPT) - Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, tư duy lãnh đạo đúng đắn, mỗi nhiệm kỳ phải tạo dấu ấn bền vững, vượt lợi ích ngắn hạn, kiến tạo thể chế và niềm tin nhân dân.

Tổng Bí thư Tô Lâm: Lắng nghe người lao động, lấy tiền lương và sáng kiến làm trụ cột phát triển

Tổng Bí thư Tô Lâm: Lắng nghe người lao động, lấy tiền lương và sáng kiến làm trụ cột phát triển

Tầm nhìn -  2 tháng trước

(PLPT) - Hôm nay, Ngày Quốc tế Lao động 1/5, chúng ta nhớ lại bài phát biểu vào ngày 27/4 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với công nhân và người lao động tại thành phố Hồ Chí Minh, để thấy rằng đó không chỉ là một thông điệp mang tính động viên người lao động, mà thực chất đã phác ra một logic phát triển có tính hệ thống, trong đó người lao động được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình tạo ra giá trị cho đất nước

Đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV: Bước tiến mới và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay

Đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV: Bước tiến mới và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay

Tầm nhìn -  2 tháng trước

(PLPT) Đổi mới quản trị quốc gia là tư duy lý luận mới chính thức được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và tiếp tục được khẳng định, phát triển trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Bài viết phân tích những nội dung cốt lõi về đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh mới. Các giải pháp của bài viết tập trung cụ thể hóa tinh thần của Đại hội lần thứ XIV của Đảng để tiếp tục đổi mới mô hình quản trị, phá

Một nhiệm kỳ mới: Làm nhiều hơn hay làm khác đi?

Một nhiệm kỳ mới: Làm nhiều hơn hay làm khác đi?

Tầm nhìn -  3 tháng trước

(PLPT) - Quốc hội vừa bước vào nhiệm kỳ mới với nhiều kỳ vọng về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động và thời gian qua, chúng ta thấy rằng nghị trường đã có những chuyển biến đáng ghi nhận cả về quy mô và chiều sâu thảo luận. Nhưng trong bối cảnh yêu cầu phát triển ngày càng cao, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc làm nhiều hơn, mà là làm thế nào để mỗi quyết định chính sách tạo ra giá trị thực chất cho đời sống kinh tế – xã hội.

Tầm nhìn chiến lược và phản ứng chính sách: Hai trụ cột trong tư duy đổi mới phương thức lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm

Tầm nhìn chiến lược và phản ứng chính sách: Hai trụ cột trong tư duy đổi mới phương thức lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm

Tầm nhìn -  3 tháng trước

(PLPT) - Chúng ta thấy rằng, các bước ngoặt trong lịch sử đảng cầm quyền về bản chất không phải là sản phẩm của “diễn ngôn” chính trị, mà là kết quả của sự điều chỉnh căn bản trong cấu trúc tư duy và phương thức thực thi quyền lực. Khi môi trường phát triển không diễn ra theo đường thẳng tương đối và khi rủi ro không còn diễn ra theo quy luật quen thuộc, thì chính mô hình lãnh đạo cũng buộc phải tự điều chỉnh để tránh rơi vào trạng thái “đúng về nguyên tắc nhưng chậm về phản ứng”.

Từ tay nghề đến nhân cách: Tầm nhìn của Tổng Bí thư  Tô Lâm về nền Y tế lấy con người làm trung tâm

Từ tay nghề đến nhân cách: Tầm nhìn của Tổng Bí thư Tô Lâm về nền Y tế lấy con người làm trung tâm

Tầm nhìn -  4 tháng trước

(PLPT) - Lấy con người làm trung tâm, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh triết lý về "giỏi nghề - giữ đạo", kiến tạo nền y tế nhân văn và liêm chính.

                        Trách nhiệm, hiệu quả và văn hóa tự trọng: Thông điệp quản trị kỷ nguyên mới từ Tổng Bí thư Tô Lâm

Trách nhiệm, hiệu quả và văn hóa tự trọng: Thông điệp quản trị kỷ nguyên mới từ Tổng Bí thư Tô Lâm

Tầm nhìn -  4 tháng trước

(PLPT) - Thông điệp từ Tổng Bí thư Tô Lâm về cá nhân hóa trách nhiệm, xây dựng văn hóa tự trọng chính trị là bước ngoặt tái thiết quản trị quốc gia.